Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN SỐP CỘP

TỈNH SƠN LA

Bản án số: 47/2024/HS-ST

Ngày: 25 - 7 - 2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÓP CỘP, TỈNH SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Kỳ Việt.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lò Văn Dưỡng, bà Hoàng Thị Kiều.

Thư ký phiên tòa: Bà Tòng Thị Duyên - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La tham gia phiên tòa: Ông Mai Văn Quyết - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 7 năm 2024, tại Tòa án nhân dân huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 46/2024/TLST-HS ngày 26 tháng 6 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 45/2024/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 7 năm 2024; Thông báo thay đổi ngày xét xử số 01/2024/TB-TA ngày 11 tháng 7 năm 2024, đối với các bị cáo:

1. Mòng Văn T; tên gọi khác: Không có; sinh năm 1995 tại huyện S, tỉnh Sơn La; số định danh cá nhân: 014095002431; nơi cư trú: Bản L, xã D, huyện S, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ học vấn: 8/12; dân tộc: Khơ mú; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Mòng Văn S, sinh năm 1955 và bà Lò Thị K, sinh năm: 1962 (Đã chết); bị cáo có vợ là Vèn Thị L, sinh năm 1997 và có 01 con sinh năm 2016; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giam từ ngày 03/02/2024 cho đến nay có mặt tại phiên tòa.

2. Cút Văn S1; tên gọi khác: Không có; sinh năm 1983 tại huyện S, tỉnh Sơn La; số định danh cá nhân: 014083003215; nơi cư trú: Bản L, xã D, huyện S, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ học vấn: 5/12; là Đảng viên Đảng cộng sản Việt Nam, đã bị Đình chỉ sinh hoạt đảng theo Quyết định số 54-QĐ/UBKTHU ngày 15/02/2024 của Ủy ban kiểm tra Huyện ủy S2; dân tộc: Khơ mú; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Cút Văn B, sinh năm 1942 (Đã chết) và bà Cút Thị C (Đã chết); bị cáo có vợ là Mòng Thị T1, sinh năm 1985 và có 04 con (Lớn nhất sinh năm 2006, nhỏ nhất sinh năm 2022); tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giam từ ngày 03/02/2024 cho đến nay có mặt tại phiên tòa.

3. Cút Văn P; tên gọi khác: Không có; sinh năm 1989 tại huyện S, tỉnh Sơn La; số định danh cá nhân: 014089003634; nơi cư trú: Bản L, xã D, huyện S, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ học vấn: 3/12; dân tộc: Khơ mú; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Cút Văn B, sinh năm 1942 (Đã chết) và bà Cút Thị C (Đã chết); bị cáo có vợ là Mòng Thị H, sinh năm 1985 và có 02 con (Lớn sinh năm 2006, nhỏ sinh năm 2009); tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giam từ ngày 03/02/2024 cho đến nay có mặt tại phiên tòa.

4. Cút Văn T2; tên gọi khác: Không có; sinh năm 1989 tại huyện S, tỉnh Sơn La; số định danh cá nhân: 014089003599; nơi cư trú: Bản L, xã D, huyện S, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Khơ mú; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Cút Văn T3, sinh năm 1962 và bà Lò Thị H1, sinh năm: 1962; bị cáo có vợ là Lò Thị H2, sinh năm 1985 và có 01 con sinh năm 2003; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giam từ ngày 03/02/2024 cho đến nay có mặt tại phiên tòa.

* Nguyên đơn dân sự: Ban Q, do ông Lương Văn T4 - Phó giám đốc là người đại diện (Có mặt).

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

1. Chị Vèn Thị L, sinh năm 1997 (Vợ bị cáo Mòng Văn T); nơi cư trú: Bản L, xã D, huyện S, tỉnh Sơn La (Có mặt).

2. Chị Mòng Thị T1, sinh năm 1985 (Vợ bị cáo Cút Văn S1); nơi cư trú: Bản L, xã D, huyện S, tỉnh Sơn La (Có mặt).

3. Chị Mòng Thị H, sinh năm 1985 (Vợ bị cáo Cút Văn P); nơi cư trú: Bản L, xã D, huyện S, tỉnh Sơn La (Có mặt).

4. Chị Lò Thị H2, sinh năm 1985 (Vợ bị cáo Cút Văn T2); nơi cư trú: Bản L, xã D, huyện S, tỉnh Sơn La (Có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng tháng 08/2023, Mòng Văn T, sinh năm 1995 trú tại bản L, xã D, huyện S đi chăn trâu tại khu vực rừng đặc dụng Sốp Cộp phát hiện nhiều cây gỗ G lón (tên gọi khác Si đá) có kích thước lớn có thể cắt, xẻ lấy gỗ nên nảy sinh ý định khai thác bán lấy tiền. Sau khi về nhà T đến gặp Hoàng Văn P1, sinh năm 1982 là chủ xưởng mộc thuộc bản Ban, xã S, huyện S gạ P1 mua gỗ G lón. P1 hỏi về nguồn gốc gỗ thì T nói xẻ ở nương của gia đình, P1 đồng ý và yêu cầu xẻ gỗ theo theo kích thước 1,8m x 0,20m x 0,05m, hai bên thống nhất về giá là 18.000.0000đồng/01m³, bên bán giao gỗ tại xưởng của P1 sau đó P1 sẽ thanh toán tiền.

Cùng ngày, T rủ Cút Văn S1, sinh năm 1983, Cút Văn P, sinh năm 1989 và Cút Văn T2, sinh năm 1989 cùng trú tại bản L, xã D, huyện S tham gia khai thác gỗ tại khu vực rừng đặc dụng Sốp Cộp để bán cho P1 lấy tiền tiêu xài. Sơ, P và Tương nhất trí cùng bàn bạc và thống nhất mỗi người góp 50.000 đồng để mua xăng đổ máy cưa và mua thức ăn trong quá trình xẻ gỗ. Riêng T chuẩn bị máy cưa xích chạy bằng xăng, thước rút loại 5m, dây dù rồi mỗi người điều khiển 01 xe mô tô đi đến khu rừng bạch đàn thuộc bản L, xã D, huyện S giáp danh với khu vực rừng đặc dụng Sốp C1 cất giấu xe ở đó rồi cùng nhau đi bộ đến địa điểm khai thác gỗ. Khi đến nơi bốn người chọn lấy 03 cây gỗ G lón còn sống có đường kính gốc từ khoảng 0,6m đến 0,97m, cao khoảng 15m đến 20m. Sau đó T lấy cưa máy cắt gốc hạ 03 cây, tiếp theo cùng nhau làm khuôn giá đỡ, đo kẻ vạch, khiêng gỗ lên giá đỡ xẻ 02 cây G lón trong 02 ngày được 14 hộp gỗ đều có kích 1,8m x 0,20m x 0,05m. Chia cho T, P và T2 mỗi người 04 hộp, chia cho S1 được 02 hộp, sau đó gỗ của ai người đó tự kéo về vị trí để xe mô tô rồi chở về nhà cất giấu. Khoảng 03 giờ sáng ngày hôm sau các đối tượng tiếp tục dùng xe mô tô để vận chuyển gỗ đến khu bãi đất trống cạnh xưởng gỗ của Hoàng Văn P1 thuộc bản Ban, xã S rồi về nhà chờ đến khoảng 08 giờ sáng thì cả nhóm đến gặp P1 để cùng đo gỗ, tính tiền. Khoảng 01 tuần sau cả bốn người tiếp tục đi cắt, xẻ cây gỗ còn lại được 16 hộp gỗ. Chia cho S1 02 hộp, Thuộn 06 hộp, P và Tương mỗi người được 04 hộp rồi vận chuyển về nhà bán cho Hoàng Văn P1.

Tổng 02 lần khai thác gỗ Mòng Văn T được chia 10 hộp bán được tổng số tiền 3.000.000đồng; Cút Văn P được chia 08 hộp bán được tổng số tiền 2.400.000đồng; Cút Văn T2 được chia 08 hộp bán được tổng số tiền 2.400.000đồng; Cút Văn S1 được chia 04 hộp gỗ bán được tổng số tiền 1.200.000đồng. Hoàng Văn P1 đã mua của T, T2, S1P 30 hộp gỗ với tổng khối lượng 0,54m³ khối gỗ xẻ, toàn bộ số gỗ mua được P1 khai nhận đã sử dụng để đóng 02 tủ gỗ loại 03 cánh bán cho 01 khách hàng (không xác định được tên tuổi, địa chỉ) được số tiền 11.000.000đồng vào khoảng tháng 12/2023.

Số tiền thu được từ bán gỗ, các bị can Mòng Văn T, Cút Văn T2, Cút Văn S1Cút Văn P đã tiêu sài cá nhân hết, không truy thu được. Đến ngày 30/01/2024, người dân tại xã D, huyện S phát hiện các cây gỗ G lón trong rừng Đặc dụng bị khai thác nên đã trình báo Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện S. Nhận được tin báo, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã phối hợp với Ban Q tiến hành điều tra xác minh và triệu tập các đối tượng khai thác gỗ trái phép là Mòng Văn T, Cút Văn T2, Cút Văn S1Cút Văn P. Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra các đối tượng đã khai nhận hành vi phạm tội của mình.

Ngày 31/01/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện S phối hợp với Ban Q thành lập tổ công tác tiến hành khám nghiệm hiện trường tại nơi xảy ra vi phạm.

Vị trí 03 cây gỗ bị khai thác trái phép đều tại Tiểu khu F, khoảnh 2, lô a, rừng Đặc dụng S thuộc xã S, huyện S, tỉnh Sơn La; Chủ rừng là Ban Q.

Vị trí thứ nhất được ký hiệu số (04) là gốc cây gỗ nghi cây Si đá (tên gọi khác G lón), chia thành hai nhánh cắt sát gốc đường kính trung bình 80cm, có tọa độ x=460710, y=2321899. Cách vị trí số (04) về hướng Nam 04m là 02 khúc gỗ tròn nằm cạnh nhau đã bị cắt bằng cưa máy. Khúc thứ nhất đường kính trung bình 67,25cm, chiều dài 7m, có khối lượng 2,485m³. Khúc thứ hai đường kính trung bình 39cm, chiều dài 4,2m, có khối lượng 0,501m³.

Vị trí số 2: được ký hiệu số (07) cách vị trí số (04) về hướng Đông 60m là cây gỗ đã bị cắt gốc nghi cây Si đá, có tọa độ x=460643, y=2321893. Đường kính gốc trung bình 97cm, chiều cao cách mặt đất 0,55m, cách vị trí số 07 về hướng Đông 10m là 05 khúc gỗ nằm cạnh nhau. Khúc thứ nhất đường kính trung bình 64,5cm, chiều dài 2,3m, khối lượng 0,751m³; Khúc thứ hai đường kính trung bình 56cm, chiều dài 1,3m, khối lượng 0,320m³; Khúc thứ ba đường kính trung bình 51cm, chiều dài 1,5m, khối lượng 0,306m³; Khúc thứ tư đường kính trung bình 40cm, chiều dài 3,5m, khối lượng 0,440m³; Khúc thứ năm đường kính trung bình 41cm, chiều dài 05m, khối lượng 0,660m³.

Vị trí số 3: được ký hiệu số (08) cách vị trí số (07) về hướng T 21m là cây gỗ bị cắt gốc nghi cây Si đá, có tọa độ x=460657, y=2321878, đường kính gốc cây trung bình 60cm. Cách vị trí số 08 về hướng Nam 03m là 01 khúc gỗ tròn nghi gỗ Si đá đã bị cắt bằng cưa máy đường kính trung bình 41cm, chiều dài 15,5cm, khối lượng 2,045m³.

Tổng khối lượng gỗ các bị can đã khai thác là 10,012m³ gỗ tròn, số gỗ là vật chứng còn tại hiện trường là 9,148m³. Do địa hình khó khăn không vận chuyển số gỗ vật chứng tại hiện trường về Công an huyện S được nên tổ công tác đã giao cho Ban Q quản lý, bảo vệ.

Tại bản kết luận giám định tư pháp trong lĩnh vực lâm nghiệp số: 06-2024/KL/GĐCN ngày 02/02/2024 của Chi cục Kiểm lâm tỉnh S, kết luận:

Xác định chủng loại, nhóm gỗ: “Toàn bộ gỗ của 03 cây gỗ (có ký hiệu 04; 07; 08) bị chặt hạ, khai thác (trong tài liệu bên trưng cầu cung cấp ghi 08 khúc, lóng gỗ (ký hiệu 4.2.1; 4.2.1.1; 7.1; 7.2; 7.3; 7.3.1; 7.3.2; 8.1 có tổng khối lượng 10,012 m³ gỗ tròn) có tên địa phương là G lón (Si đá), là gỗ thông thường, gỗ không nằm trong Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ kèm theo Nghị định số 64/2019/NĐ-CP ngày 16/7/2019 của Chính phủ; không nằm trong Danh mục thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm kèm theo Nghị định số 84/2021/NĐ-CP ngày 22/9/2021 của Chính phủ.

- Xác định vị trí 03 cây gỗ (ký hiệu số 04, 07, 08) thuộc tiểu khu, khoảnh, lô, loại rừng, chức năng của rừng, trạng thái rừng: Đối chiếu vị trí các cây gỗ bị chặt hạ (ký hiệu số 04, 07, 08) được xác định bằng máy định vị GPS với bản đồ rà soát, điều chỉnh quy hoạch 3 loại rừng đã được UBND tỉnh S phê duyệt tại Quyết định số 3248/QĐ-UBND ngày 27/12/2018 thuộc lô 1 khoảnh 2 tiểu khu F, thuộc địa phận xã S, huyện S, tỉnh Sơn La, trạng thái rừng gỗ tự nhiên lá rộng thường X (TXB) nằm trong quy hoạch rừng đặc dụng; Được giao cho Ban Q.

Đối chiếu với dữ liệu bản đồ giao đất giao rừng tại Quyết định số 2742/QĐ-UBND ngày 12/10/2009 thuộc lô a khoảnh 2 Tiểu khu F, trạng thái rừng thứ sinh tự nhiên lá rộng thường xanh tái sinh sau khai thác kiệt (IIIal) thuộc loại rừng đặc dụng; Được giao cho Ban Q”.

Kết luận định giá tài sản số 13/KL-HĐĐG ngày 01/4/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng huyện S kết luận: “10,012m³ gỗ tròn loại gỗ Si đá (tên địa phương G lón) là gỗ thông thường có giá là 20.695.000 đồng”.

Vật chứng thu giữ liên quan đến hành vi khai thác gỗ trái phép gồm: Mòng Văn T giao nộp 01 cưa máy hiệu Husqvama, 01 lam cưa dài 90cm đã qua sử dụng; 01 xe mô tô hiệu HUNDA, loại Win không có biển kiểm soát, số khung RN8DCH88B314117, số máy VZS152FMH314117. Cút Văn S1 giao nộp 01 xe mô tô hiệu SUMOTO loại Win, biển kiểm soát 26F1-010.03, số khung MNWWCHVMN6H101381, số máy RLC04H5156095. Cút Văn T2 giao nộp 01 xe mô tô hiệu SOCO, loại Win không có biển kiểm soát, số khung VAVDCG013AV000320, số máy VAVLC150FMG00320.

Đối với chiếc xe mô tô Cút Văn P sử dụng vận chuyển gỗ trái phép, do xe cũ bị hỏng nên đã bán cho một người thu mua sắt vụn không quen biết. Do vậy cơ quan Điều tra không truy thu được.

- Đối với chiếc thước dây và đoạn dây dù là các bị can sử dụng để đo đạc, đánh dấu khi cắt xẻ gỗ. Mòng Văn T khai nhận quá trình sử dụng đã bị hỏng nên đã vứt bỏ tại hiện trường, tổ công tác đã tiến hành truy tìm nhưng không thu giữ được.

Đối với Hoàng Văn P1 là chủ cơ sở chế biến gỗ có Giấy chứng nhận đăng ký hộ kinh doanh đã có hành vi mua bán lâm sản là gỗ Giang lón trái phép của các bị can (30 hộp gỗ, khối lượng 0,54m³). Quá trình điều tra xác định P1 không biết số gỗ mua của các bị cáo do khai thác trái phép mà có. Do vậy Cơ quan CSĐT Công an huyện đã chuyển hồ sơ vụ việc đến Công an huyện S đề nghị ra quyết định xử phạt hành chính đối với P1 về hành vi mua bán lâm sản trái phép.

Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ vào Kết luận định giá tài sản của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự thuộc UBND huyện S2, ngày 24/4/2024 nguyên đơn dân sự Ban Q đã yêu cầu các bị can bồi thường toàn bộ giá trị gỗ bị khai thác trái phép (10,012m³ gỗ tròn loại gỗ Si đá) với số tiền 20.695.000 đồng (Hai mươi triệu sáu trăm chín mươi lăm nghìn đồng). Quá trình điều tra gia đình các bị can đã tự nguyện giao nộp 12.000.000 đồng (3.000.000 đồng/01 bị can) tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sốp Cộp để bồi thường, khắc phục hậu quả.

Tại cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện S các bị can Mòng Văn T, Cút Văn S1, Cút Văn PCút Văn T2 đã khai nhận hành vi khai thác trái phép 10,012m³ gỗ tròn loại gỗ Si đá (Giang lón) tại rừng đặc dụng Sốp Cộp như đã nêu.

Cáo trạng số 33/CT - VKSSC ngày 25/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La: Đề nghị truy tố bị can Mòng Văn T, Cút Văn S1, Cút Văn PCút Văn T2 về tội Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản, theo quy định tại điểm e khoản 2 Điều 232 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sốp Cộp, giữ quan điểm truy tố các bị cáo về tội Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản.

Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm e khoản 2 Điều 232; điểm b, s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51; Điều 38, 58, 65 Bộ luật Hình sự;

- Tuyên bố các bị cáo Mòng Văn T, Cút Văn S1, Cút Văn PCút Văn T2 phạm tội: Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản.

- Xử phạt bị cáo Mòng Văn T từ 28 đến 32 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Ấn định thời gian thử thách đối với bị cáo từ 56 đến 60 tháng, tính từ ngày tuyên án.

- Xử phạt bị cáo Cút Văn S1 từ 24 đến 28 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Ấn định thời gian thử thách đối với bị cáo từ 48 đến 56 tháng, tính từ ngày tuyên án.

- Xử phạt bị cáo Cút Văn P từ 25 đến 29 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Ấn định thời gian thử thách đối với bị cáo từ 50 đến 28 tháng, tính từ ngày tuyên án.

- Xử phạt bị cáo Cút Văn T2 26 đến 30 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Ấn định thời gian thử thách đối với bị cáo từ 52 đến 60 tháng, tính từ ngày tuyên án.

Không áp dụng hình phạt bổ sung (Phạt tiền) theo quy định tại khoản 4 Điều 232 Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo.

Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 4 Điều 328 Bộ luật tố tụng hình sự: Tuyên trả tự do cho các bị cáo ngay tại phiên tòa, nếu không bị tạm giam về tội phạm khác.

Giao các bị cáo Mòng Văn T, Cút Văn S1, Cút Văn PCút Văn T2 cho UBND xã M, huyện S, tỉnh Sơn La giám sát, giáo dục các bị cáo trong thời gian thử thách.

Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự; các Điều 584. 585, 586, 587 và Điều 589 Bộ luật Dân sự;

Chấp nhận việc gia đình các bị cáo đã tự nguyện nộp tiền tại Chi cục Thi hành án dân sự để bồi thường khắc phục hậu quả. Số tiền đã nộp là 12.000.000 đồng (Mười hai triệu đồng).

Buộc các bị cáo liên đới bồi thường số còn lại theo yêu cầu của nguyên đơn dân sự là 8.695.000 đồng (Tám triệu sáu trăm chín mươi lăm nghìn đồng).

Xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự;

Tuyên tịch thu nộp ngân sách nhà nước 01 cưa máy hiệu Husqvama, 01 lam cưa dài 90cm đã qua sử dụng (Do bị cáo Mòng Văn T giao nộp).

Tuyên tịch thu tiêu hủy:

+ 01 xe mô tô hiệu HUNDA, loại Win không có biển kiểm soát (Do bị cáo Mòng Văn T giao nộp).

+ 01 xe mô tô hiệu SOCO, loại Win không có biển kiểm soát (Do bị cáo Cút Văn T2 giao nộp).

01 xe mô tô hiệu SUMOTO loại Win, biển kiểm soát 26F1-010.03 (Do bị cáo Cút Văn S1 giao nộp).

Chấp nhận việc Cơ quan CSĐT Công an huyện S giao lại 9,148m³ gỗ Si đá tại hiện trường cho Ban Q quản lý.

Biện pháp tư pháp: Đề nghị áp dụng điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; Tuyên truy thu nộp ngân sách nhà nước toàn bộ số tiền 9.000.000 đồng do các bị cáo bán tài sản do phạm tội mà có.

Về án phí: Đề nghị áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12, điểm a khoản 1 Điều 23, Điều 26 Nghị quyết số: 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;

Buộc các bị cáo Mòng Văn T, Cút Văn S1Cút Văn P, nộp án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm.

Miễn cho bị cáo Cút Văn T2 không phải nộp án phí hình sự sơ thẩm và dân sự sơ thẩm.

Tại phiên tòa bị cáo T có ý kiến: Thừa nhận tháng 8/2023 đã rủ các bị cáo S1, P và Tương khai thác gỗ tại rừng đặc dụng Sốp Cộp để bán lấy tiền tiêu xài. Tổng số gỗ các bị cáo đã khai thác là 10,012m³ gỗ tròn loại gỗ Si đá. Nay bị cáo đã nhận thức được lỗi lầm. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét việc bị cáo thành khẩn khai báo; gia đình đã tự nguyện nộp 3.000.000 đồng để bồi thường khắc phục hậu quả mà giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo.

Tại phiên tòa các bị cáo Cút Văn S1, Cút Văn PCút Văn T2 có ý kiến: Thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát. Đề nghị HĐXX xem xét việc các bị cáo đã thành khẩn nhận tội và gia đình các bị cáo đã tự nguyện nộp 3.000.000 đồng để bồi thường khắc phục hậu quả mà giảm nhẹ hình phạt và cho các bị cáo được hưởng án treo.

Tại phiên tòa nguyên đơn dân sự có ý kiến: Tổng khối lượng gỗ các bị cáo khai thác trái phép tại rừng đặc dụng Sốp Cộp là 10,012m³ gỗ tròn loại gỗ Si đá (Gỗ thường), trị giá 20.695.000 đồng. Quá trình điều tra gia đình các bị cáo đã tự nguyện nộp 12.000.000 đồng để bồi thường, khắc phục hậu quả. Nay yêu cầu các bị cáo liên đới bồi thường số còn lại là 8.695.000 đồng để nộp vào ngân sách nhà nước.

Tại phiên tòa người có quyền lợi liên quan chị Vèn Thị L có ý kiến: Vật chứng là 01 cưa máy hiệu Husqvama + 01 lam cưa dài 90cm và 01 chiếc xe mô tô hiệu HUNDA do bị cáo T giao nộp là tài sản chung giữa chị và bị cáo. Việc bị cáo sử dụng làm công cụ, phương tiện phạm tội chị không biết. Đề nghị HĐXX giải quyết theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa người có quyền lợi liên quan chị Mòng Thị T1 (Vợ bị cáo S1) và chị Lò Thị H1 (Vợ bị cáo P) có ý kiến: Vật chứng là 01 chiếc xe mô tô hiệu SOCO và 01 xe mô tô hiệu SUMOTO các bị cáo Cút Văn S1Cút Văn P tự ý sử dụng làm phương tiện phạm tội các chị không biết. Tình trạng xe không đủ điều kiện tham gia giao thông, do vậy đề nghị HĐXX giải quyết theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa chị L, T1, H1 và H2 có ý kiến: Số tiền các chị đã nộp (3.000.000 đồng/người) tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sốp Cộp ngày 24/4/2024 là tài sản chung của vợ chồng. Do vậy nhất trí tự nguyện dùng để bồi thường khắc phục hậu cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện S, tỉnh Sơn La, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo, nguyên đơn dân sự và người có quyền lợi liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của các bị cáo: Tại phiên toà các bị cáo Mòng Văn T, Cút Văn S1, Cút Văn PCút Văn T2 khai nhận mặc dù biết rõ việc khai thác gỗ tại rừng đặc dụng Sốp Cộp là vi phạm pháp luật nhưng vào khoảng tháng 08/2023 các bị cáo vẫn chuẩn bị công cụ phương tiện gồm cưa máy, thước dây và xe mô tô cùng nhau khai thác gỗ tại khu rừng đặc dụng Sốp Cộp để bán lấy tiền tiêu xài. Tổng khối lượng gỗ sau 02 lần các bị cáo khai thác là 10,012m³ gỗ tròn loại gỗ Si đá (Gỗ thường), trị giá 20.695.000 đồng. Số gỗ các bị cáo vận chuyển từ rừng về bán lấy tiền là 0,54m³ khối gỗ xẻ. Số gỗ còn lại tại hiện trường là 9,472m³. Việc khai thác gỗ do bị cáo T khởi xướng rủ rê bị cáo S1, P và T2. Tổng số tiền do các bị cáo khai thác gỗ bán được là 9.000.000 đồng. Xét lời khai của các bị cáo tại phiên toà phù hợp với kết quả khám nghiệm hiện trường, vật chứng thu giữ; phù hợp với kết luận giám định tư pháp trong lĩnh vực Lâm nghiệp " Theo Quyết định 2742/QĐ-UBND ngày 12/10/2009 của UBND tỉnh S, thì vị trí 03 cây gỗ Si đá các bị cáo khai thác thuộc lô a, khoảnh 2, tiểu khu F, trạng thái rừng thứ sinh tự nhiên lá rộng thường xanh tái sinh sau khai thác kiệt (IIIal) thuộc loại rừng đặc dụng; được giao cho ban Q” cùng các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Trên cơ sở đó đủ căn cứ kết luận các bị cáo Mòng Văn T, Cút Văn S1, Cút Văn PCút Văn T2 đã phạm vào tội Vi phạm quy định khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản, theo quy định tại điểm e khoản 2 Điều 232 Bộ luật Hình sự. Như quan điểm truy tố và luận tội của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sốp Cộp là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Điều 232 Bộ luật Hình sự quy định: Tội vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản.

"1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây, nếu không thuộc trường hợp quy định tại Điều 243 của Bộ luật này, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 300.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 300.000.000 đồng đến 1.500.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

a)...

e) Khai thác trái phép rừng đặc dụng là rừng tự nhiên từ 08 mét khối (m³) đến dưới 15 mét khối (m³) gỗ loài thực vật thông thường hoặc từ 03 mét khối (m³) đến dưới 10 mét khối (m³) gỗ thuộc Danh mục thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm Nhóm IIA.

4. Người phạm tội có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”.

[4] Hành vi khai thác trái phép 10,012m³ gỗ tròn loại gỗ Si đá là gỗ thông thường của các bị cáo đã xâm phạm trật tự quản lý kinh tế của nhà nước đối với nguồn tài nguyên rừng; xâm hại đến môi trường sinh thái của cộng đồng; gây ảnh hưởng xấu đến trật quản lý nhà nước môi trường sinh thái và tài nguyên rừng. Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 2 Điều 232 Bộ luật Hình sự với các chế tài hình phạt: Phạt tiền từ 300.000.000 đồng đến 1.500.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.

[5] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân các bị cáo:

- Tình tiết tăng nặng: Các bị cáo Mòng Văn T, Cút Văn S1, Cút Văn PCút Văn T2 cùng phạm tội lần đầu, không có tình tiết tăng nặng bị áp dụng.

- Tình tiết nhân thân: Bị cáo Cút Văn S1 là Đảng viên Đ (Đã bị đình chỉ sinh hoạt đảng theo Quyết định số 54-QĐ/UBKTHU ngày 15/02/2024 của Ủy ban kiểm tra Huyện ủy S2) lẽ ra bị cáo phải là người nêu gương về ý thức chấp hành pháp luật, mà ngược lại không vượt qua cám dỗ vật chất để rồi phạm tội gây ảnh hưởng xấu đến uy tín của Đảng và nhà nước. Do đó cần xem xét là tình tiết về nhận thức và nhân thân khi quyết định hình phạt đối với bị cáo, theo quy định tại Điều 50 Bộ luật Hình sự.

- Tình tiết giảm nhẹ: Các bị cáo Mòng Văn T, Cút Văn S1, Cút Văn PCút Văn T2 là đồng bào dân tộc thiểu số (K) phạm tội lần đầu; thành khẩn khai nhận tội; tác động gia đình nộp một khoản tiền bồi thường, khắc phục hậu quả. Do đó được xem xét áp dụng là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, theo quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

+ Bị cáo Mòng Văn T có bố đẻ (Mòng Văn S) tham gia dân công hỏa tuyến; bị cáo Cút Văn S1Cút Văn P (Anh em ruột) có bố đẻ (Cút Văn B) được Chủ tịch nước C2 tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng nhì, được Chính phủ nước CHDCND Lào tặng thưởng Huân chương kháng chiến. Nên được xem xét là tình tiết giảm nhẹ thứ ba theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự khi lượng hình phạt.

[6] Từ những đánh giá phân tích trên: Xét các bị cáo là đồng bào dân tộc thiểu số (Khơ Mú); cuộc sống chủ yếu dựa vào nương rẫy, trong khi đất sản xuất không nhiều và việc làm khác ở địa phương không nhiều là một phần nguyên nhân dẫn đến hành vi phạm tội. Các bị cáo cùng có nhiều tình tiết giảm nhẹ; có nơi cư trú rõ ràng và đặc biệt là lao động chính trong gia đình. Nên sau khi quyết định hình phạt tù dựa trên tính chất mức độ hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và nhân thân của mỗi bị cáo Hội đồng xét xử xét thấy các bị cáo đủ điều kiện được cho cải tạo tại địa phương bằng việc cho hưởng án treo theo quy định tại Điều 65 Bộ luật Hình sự.

[7] Đối với hình phạt bổ sung được quy định tại khoản 4 Điều 232 Bộ luật Hình sự. Xét các bị cáo không có tài sản để thi hành. Do vậy Hội đồng xét xử không áp dụng.

[8] Về trách nhiệm dân sự: Hành vi phạm tội của các bị cáo xâm hại đến tài sản của nhà nước nên phải liên đới bồi thường theo yêu cầu của nguyên đơn dân sự là Ban Q, với tổng số tiền theo kết quả định giá đối với 10,012m³ gỗ tròn loại gỗ Si đá là 20.695.000 đồng. Sau khi khấu trừ khoản 3.000.000 đồng gia đình mỗi bị cáo đã tự nguyện giao nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sốp Cộp (Tổng là 12.000.000 đồng), các bị cáo còn phải bồi thường số còn thiếu (8.695.000 đồng) theo quy định tại khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự; các Điều 584. 585, 586, 587 và Điều 589 Bộ luật Dân sự.

[9] Về xử lý vật chứng:

- Đối với 30 hộp gỗ Giang Lón, kích thước 1,8m x 0,20m x 0,05m Hoàng Văn P1 đã mua của các bị cáo. Quá trình điều tra xác định anh P1 đã cho đóng thành tủ và bàn ghế bán cho khách hàng. Cơ quan CSĐT Công an huyện S không thu giữ được, do vậy không có cơ sở để xử lý.

- Đối với chiếc máy cưa xích và 01 lam cưa dài 90cm do bị cáo Mòng Văn T giao nộp được xác định là công cụ phạm tội. Do vậy căn cứ điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; để tuyên tịch thu nộp ngân sách nhà nước.

- Đối với chiếc xe mô nhãn hiệu HUNDA, không có biển kiểm soát do bị cáo Mòng Văn T giao nộp. Kết quả điều tra xác định là tài sản chung giữa bị cáo với vợ là chị Vèn Thị L, việc bị cáo sử dụng làm phương tiện phạm tội chị L không biết lẽ ra cần tuyên trả lại cho người có quyền lợi liên quan (Chị L). Tuy nhiên do xe không có biển kiểm soát, không đủ điều kiện tham gia giao thông nên HĐXX quyết định tuyên tịch thu tiêu hủy, theo điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự.

- Đối với chiếc xe mô tô hiệu SUMOTO, loại Win, kiểm kiểm soát 26F1-010.03 do bị cáo Cút Văn S1 giao nộp. Kết quả điều tra xác định là tài sản chung vợ chồng bị cáo với vợ là chị Mòng Thị T1. Kết quả điều tra xác định việc bị cáo sử dụng làm phương tiện phạm tội chị T1 không biết. Lẽ ra cần tuyên trả cho chị T1. Tuy nhiên do xe không có biển kiểm soát, không đủ điều kiện tham gia giao thông nên HĐXX quyết định tuyên tịch thu tiêu hủy, theo điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự.

- Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu SOCO, loại Win, kiểm kiểm soát do bị cáo Cút Văn T2 giao nộp. Kết quả điều tra xác định là tài sản chung giữa bị cáo với vợ là chị Lò Thị H2, việc bị cáo sử dụng làm phương tiện phạm tội chị H2 không biết lẽ ra cần tuyên trả lại cho người có quyền lợi liên quan. Tuy nhiên do xe không có biển kiểm soát, không đủ điều kiện tham gia giao thông nên HĐXX quyết định tuyên tịch thu tiêu hủy, theo điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự.

- Đối với chiếc thước dây, loại thước rút dài 05m và 01 đoạn dây dù là công cụ các bị cáo sử dụng để đo đạc, đánh dấu khi khai thác gỗ trái phép, quá trình sử dụng bị hỏng nên bị cáo T đã vứt bỏ gần hiện trường, tổ công tác đã tiến hành truy tìm nhưng thu giữ được. Do vậy tại phiên tòa không có căn cứ xử lý.

- Đối với 9,148m³ gỗ tại hiện trường lẽ ra cần thu giữ để tuyên tịch thu nộp ngân sách nhà nước. Tuy nhiên do từ hiện trường ra tỉnh lộ 105 không có đường ô tô, địa hình hiểm trở và không thể vận chuyển bằng phương tiện khác. Do vậy Cơ quan CSĐT Công an huyện S đã giao lại cho Ban Q quản lý xét là phù hợp với thực tế nên được chấp nhận.

[10] Biện pháp tư pháp: Toàn bộ số tiền các bị cáo bán gỗ khai thắc trái phép mà có là 9.000.000 đồng đã tiêu xài. Cần tuyên truy thu nộp ngân sách nhà nước, theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự.

[11] Đối với Hoàng Văn P1 là chủ cơ sở chế biến gỗ có Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, đã có hành vi mua 30 hộp gỗ Giang lón (Si đá) của các bị cáo. Kết quả điều tra xác định giữa P1 và các bị cáo không có hứa hẹn trước và P1 không biết nguồn gốc gỗ mua bán do các bị cáo phạm tội mà có. Nên ngày 03/6/2024 Cơ quan CSĐT Công an huyện đã ra quyết định xử phạt hành chính (Phạt tiền) về hành vi mua bán lâm sản trái phép đối với Hoàng Văn P1 là có căn cứ.

[12] Án phí:

- Các bị cáo Mòng Văn T, Cút Văn S1Cút Văn P phải nộp án phí hình sự và dân sự sơ thẩm, theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23, điều 26 Nghị quyết số: 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

- Bị cáo Cút Văn T2 thuộc hộ cận nghèo nên được miễn án phí hình sự và dân sự sơ thẩm, theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

[13] Quyền kháng cáo: Bị cáo, nguyên đơn dân sự và người có quyền lợi liên quan được quyền kháng cáo bản án, theo quy định tại các Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh và hình phạt:

Căn cứ điểm e khoản 2 Điều 232; điểm b, s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51; Điều 38, 58 và 65 Bộ luật Hình sự;

- Tuyên bố các bị cáo Mòng Văn T, Cút Văn S1, Cút Văn PCút Văn T2 phạm tội Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản.

+ Xử phạt bị cáo Mòng Văn T 28 (Hai mươi tám) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách đối với bị cáo là 56 (Năm mươi sáu) tháng, tính từ ngày tuyên án (25/7/2024).

+ Xử phạt bị cáo Cút Văn S1 24 (Hai mươi tư) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách đối với bị cáo là 48 (Bốn mươi tám) tháng, tính từ ngày tuyên án (25/7/2024).

+ Xử phạt bị cáo Cút Văn P 25 (Hai mươi lăm) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách đối với bị cáo là 50 (Năm mươi) tháng, tính từ ngày tuyên án (25/7/2024).

+ Xử phạt bị cáo Cút Văn T2 26 (Hai mươi sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách đối với bị cáo là 52 (Năm mươi hai) tháng, tính từ ngày tuyên án (25/7/2024).

Không áp dụng hình phạt bổ sung (Phạt tiền) theo quy định tại khoản 4 Điều 232 Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo.

Căn cứ khoản 4 Điều 328 Bộ luật tố tụng Hình sự;

- Tuyên trả tự do cho các bị cáo Mòng Văn T, Cút Văn S1, Cút Văn PCút Văn T2 ngay khi kết thúc phiên tòa, nếu như các bị cáo không bị tạm giam về tội phạm khác.

- Giao các bị cáo Mòng Văn T, Cút Văn S1, Cút Văn PCút Văn T2 cho UBND xã D, huyện S, tỉnh Sơn La giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Cơ quan Thi hành án hình sự Công an huyện S và UBND xã D trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu người được án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định của Điều 56 của Bộ luật hình sự.

2. Về trách nhiệm dân sự:

Căn cứ Điều 48 Bộ luật Tố tụng Hình sự; các điều 584. 585, 586, 587 và Điều 589 Bộ luật Dân sự;

- Buộc các bị cáo Mòng Văn T, Cút Văn S1, Cút Văn PCút Văn T2 liên đới bồi thường cho nhà nước toàn bộ giá trị 10,012m³ gỗ tròn loại gỗ Si đá là 20.695.000 đồng (Hai mươi triệu sáu trăm chín mươi lăm nghìn đồng). Cụ thể như sau:

+ Bị cáo Mòng Văn T phải bồi thường số tiền 6.695.000 đồng (Sáu triệu sáu trăm chín mươi lăm nghìn đồng). Khấu trừ 3.000.000 đồng chị Vèn Thị L (Vợ bị cáo) đã nộp theo biên lai thu số: 0000725 ngày 24/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La, thì bị cáo còn phải bồi thường số còn lại là 3.695.000 đồng (Ba triệu sáu trăm chín mươi lăm nghìn đồng).

+ Bị cáo Cút Văn S1 phải bồi thường số tiền 4.000.000 đồng (Bốn triệu đồng). Khấu trừ 3.000.000 đồng chị Mòng Thị T1 (Vợ bị cáo) đã nộp theo biên lai thu số: 0000727 ngày 24/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La, thì bị cáo còn phải bồi thường số còn lại là 1.000.000 đồng (Một triệu đồng).

+ Bị cáo Cút Văn P phải bồi thường số tiền 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng). Khấu trừ 3.000.000 đồng chị Mòng Thị H (Vợ bị cáo) đã nộp theo biên lai thu số: 0000728 ngày 24/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La, thì bị cáo còn phải bồi thường số còn lại là 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng).

+ Bị cáo Cút Văn T2 phải bồi thường số tiền 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng). Khấu trừ 3.000.000 đồng chị Lò Thị H2 (Vợ bị cáo) đã nộp theo biên lai thu số: 0000726 ngày 24/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La, thì bị cáo còn phải bồi thường số còn lại là 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng).

3. Về xử lý vật chứng:

Căn cứ điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự;

- Tuyên tịch thu nộp ngân sách nhà nước: 01 (Một) máy cưa xích, nhãn hiệu Husqvama, vỏ máy bằng nhựa màu da cam có gắn 01 thanh kim loại (Lam cưa) dài 90cm, không gắn xích cưa (Lưỡi lam), tình trạng đã qua sử dụng.

- Tuyên tịch thu tiêu hủy:

+ 01 (Một) xe mô tô nhãn hiệu HUNDA, loại Win, màu xanh đen, không có biển kiểm soát, số khung: RN8DC8N88B3114117, số máy: VZS152FMH314117, tình trạng xe không có đèn xi nhan, không có gương chiếu hậu, không có đồng hồ công tơ mét, yên xe bị rách nhiều vị trí, trên phần vỏ nhựa xe có nhiều vết trầy xước, vỡ nứt, xe đã cũ qua sử dụng (Do bị cáo Mòng Văn T giao nộp).

+ 01 (Một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu SOCO, loại Win, màu xanh đen, không có biển kiểm soát, số khung: VAVDCG013AV000320, số máy: VAVLC150FMG000320, tình trạng xe không có đèn xi nhan, không có gương chiếu hậu, không có đồng hồ công tơ mét, yên xe bị rách nhiều vị trí, trên phần vỏ nhựa xe có nhiều vết trầy xước, vỡ nứt, xe đã cũ qua sử dụng (Do bị cáo Cút Văn T2 giao nộp).

+ 01 (Một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu SUMOTO loại Win, màu xanh đen, biển kiểm soát 26F1-010.03, số khung: MNWCHVMN6H101381, số máy: RLC04H1516095, tình trạng xe không có đèn xi nhan, không có gương chiếu hậu, không có đồng hồ công tơ mét, yên xe bị rách nhiều vị trí, trên phần vỏ nhựa xe có nhiều vết trầy xước, vỡ nứt, xe đã cũ qua sử dụng (Do bị cáo Cút Văn S1 giao nộp).

- Chấp nhận việc Cơ quan CSĐT Công an huyện S giao lại 9,148m³ gỗ Si đá tại hiện trường cho Ban Q quản lý.

4. Biện pháp tư pháp:

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự;

- Tuyên truy thu nộp ngân sách nhà nước toàn bộ số tiền 9.000.000 đồng (Chín triệu đồng) do các bị cáo phạm tội mà có. Cụ thể như sau:

+ Bị cáo Mòng Văn T là 3.000.000 đồng (Ba triệu đồng).

+ Bị cáo Cút Văn S1 là 1.200.000 đồng (Một triệu hai trăm nghìn đồng).

+ Bị cáo Cút Văn P là 2.400.000 đồng (Hai triệu bốn trăm nghìn đồng).

+ Bị cáo Cút Văn T2 là 2.400.000 đồng (Hai triệu bốn trăm nghìn đồng).

5. Về án phí:

Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12, điểm a khoản 1 Điều 23, Điều 26 Nghị quyết số: 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;

- Buộc các bị cáo Mòng Văn T, Cút Văn S1Cút Văn P nộp án phí hình sự sơ thẩm, mỗi bị cáo là 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) và án phí dân sự sơ thẩm, mỗi bị cáo là 300.000 đ (Ba trăm nghìn đồng).

- Miễn cho bị cáo Cút Văn T2 không phải nộp án phí hình sự và dân sự sơ thẩm.

6. Về quyền kháng cáo:

Căn cứ các Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự;

Báo cho các bị cáo, nguyên đơn dân sự và người có quyền lợi liên quan biết quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (25/7/2024).

Nơi nhận:

  • - Toà án ND tỉnh;
  • - Viên kiểm sát (02 bản);
  • - Sở tư pháp;
  • - Công an huyện;
  • - THA hình sự
  • - THA dân sự huyện;
  • - UBND xã Dồm Cang;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ;
  • - Lưu VPTA.

T. M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Kỳ Việt

13

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 47/2024/HS-ST ngày 25/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SỐP CỘP, TỈNH SƠN LA về vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản (criminal case)

  • Số bản án: 47/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản (Criminal Case)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SỐP CỘP, TỈNH SƠN LA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Mòng Văn T cùng đồng bọn phạm tội vi phạm quy định khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger