TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH HÀ TỈNH HẢI DƯƠNG | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 47/2024/HS-ST Ngày 25-6-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH HÀ, TỈNH HẢI DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Mạnh Tuân.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Bình và bà Bùi Thị Vân.
- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thuỷ - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Tiến Thành - Kiểm sát viên.
Ngày 25/6/2024 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 12/2024/TLST-HS ngày 29/02/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 27/2024/QĐXXST-HS ngày 12/4/2024; các Quyết định hoãn phiên toà số 24/2024/QÐST-HS ngày 26/4/2024, số 24a/2024/QÐST-HS ngày 24/5/2024, số 24b/2024/QÐST-HS ngày 18/6/2024, đối với bị cáo:
- NGHIÊM TRỌNG HÙNG, sinh năm 1981 tại tỉnh Hải Dương; nơi cư trú: Số D đường N, khu F, phường B, thành phố H, tỉnh Hải Dương; nghề nghiệp: Lái xe ô tô; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nghiêm Trọng S và bà Lương Thị T; có vợ là Phan Thị T1 và có hai con; tiền án: Không; tiền sự: Không; nhân thân: Không; bị cáo tại ngoại; có mặt tại phiên toà.
- Bị hại: Cụ Phạm Đắc N, sinh năm 1938; đã chết - nơi cư trú trước khi chết: Thôn C, xã V, huyện T, tỉnh Hải Dương.
- Người đại diện hợp pháp của bị hại: Ông Phạm Khắc S1 (tên gọi khác Phạm Đắc S2), sinh năm 1957. Ông Phạm Đắc T2 (tên gọi khác là Phạm Đắc S3), sinh năm 1965. Ông Phạm Đắc H, sinh năm 1962. Bà Phạm Thị H1, sinh năm 1966. Bà Phạm Thị L, sinh năm 1970. Đều cư trú tại: Thôn C, xã V, huyện T, tỉnh Hải Dương; vắng mặt tại phiên toà.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
+ Bà Trần Thị V, sinh năm 1962; anh Phạm Đắc L1, sinh năm 1988; anh Phạm Đắc T3, sinh năm 1991 - đều cư trú tại: Thôn C, xã V, huyện T, tỉnh Hải Dương; vắng mặt tại phiên toà.
+ Chị Phan Thị T1, sinh năm 1983 - nơi cư trú: Số D đường N, khu F, phường B, thành phố H, tỉnh Hải Dương; vắng mặt tại phiên toà.
- Người đại diện theo ủy quyền của người đại diện hợp pháp của bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông S2; ông H; bà H1; bà L; bà V; anh L1; anh T1: Ông Phạm Đắc T2 (tên gọi khác Phạm Đắc S3), sinh năm 1965; nơi cư trú: Thôn C, xã V, huyện T, tỉnh Hải Dương; vắng mặt tại phiên toà.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nghiêm Trọng H2 là người có giấy phép lái xe ô tô hạng B2. Khoảng 11 giờ 00 phút ngày 08/12/2023, H2 điều khiển xe ô tô nhãn hiệu SYM, màu trắng, biển kiểm soát 34C-222.03, loại 0,7 tấn, lưu thông trên đường tỉnh lộ 390B theo hướng xã V đi xã H, huyện T, tỉnh Hải Dương. Khi H2 điều khiển xe ô tô đến km5 + 400 thuộc địa phận thôn Q, xã V, huyện T, tỉnh Hải Dương; đây là đoạn đường thẳng, trải nhựa, rộng 540cm, không có biển báo hiệu đường bộ, tầm nhìn không bị che khuất, giữa đường có vạch kẻ đứt quãng màu vàng, chia làm hai làn đường. H2 quan sát phía trước khoảng 100m, có người điều khiển xe đạp điện là cụ Phạm Đắc N đi theo hướng ngược chiều và di chuyển sang làn bên phải theo chiều đi của H2, nên H2 điều khiển xe ô tô đi sang phần đường bên trái để tránh. Tuy nhiên, cụ N lại điều khiển xe đạp điện di chuyển trở lại phần đường bên trái theo chiều đi của H2, do khoảng cách gần, không kịp đánh lái, nên khoảng giữa phần đầu xe ô tô do H2 điều khiển đã đâm, va vào phần bánh trước xe đạp điện do cụ N điều khiển. Hậu quả xe đạp điện do cụ N điều khiển bị đẩy ngược lại, đổ ra đường; cụ N va đập vào phần kính chắn gió trước của xe ô tô do H2 điều khiển, ngã đập đầu xuống đường, dẫn tới bị tử vong.
Tại Kết luận giám định số 118/KL-KTHS ngày 16/01/2024 của phòng K, Công an thành phố H, kết luận: Tập tin video có phần mở rộng “MP4", dung lượng 14MB có mã MD5: 3D4CFC11B13B7B18D4BA9D727AE542DB, được lưu trong USB nhãn hiệu hoco 4GB đã qua sử dụng (ký hiệu A) không tìm thấy dấu vết cắt ghép, chỉnh sửa nội dung hình ảnh.
Tại Kết luận định giá số 41/KL-HĐĐGTS ngày 28/12/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện T, tỉnh Hải Dương kết luận: Tổng giá trị thiệt hại do tai nạn gây ra với xe ô tô nhãn hiệu SYM, biển kiểm soát 34C-222.03 là 6.500.000đ; xe đạp điện nhãn hiệu Yamaha là 450.000đ.
Tại Kết luận giám định tử thi số 442/KLGĐTT-KTHS ngày 12/12/2023 của phòng K, Công an tỉnh H kết luận, nguyên nhân tử vong (chết) đối với cụ N: Kết mạc hai mắt nhợt, bầm tụ máu hốc mắt trái. Mũi và miệng có máu chảy ra. Vết thương vùng giữa chẩm, xung quanh sây sát da, bầm tụ máu; xương chẩm tại vị trí có diện vỡ hình sao 3 cạnh. Tổn thương phầm mềm rải rác. Nguyên nhân tử vong: Chấn thương sọ não (vỡ xương chẩm).
Tại các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án: Người đại diện hợp pháp của bị hại đồng thời là người đại diện theo uỷ quyền của những người đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan về phía bị hại là ông T2, tên gọi khác Sao (gọi chung là phía bị hại) đề nghị Toà án xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo H2. Về trách nhiệm dân sự giữa phía bị hại và bị cáo đã thoả thuận giải quyết xong, không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thêm tiền, tài sản hoặc nghĩa vụ nào khác, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chị T1 xác định, xe ô tô nhãn hiệu SYM, biển kiểm soát 34C-222.03 là tài sản chung của chị và bị cáo, nên thiệt hại tài sản đối với xe ô tô, chị T1 không yêu cầu Toà án giải quyết.
Tại Cáo trạng số 12/CT-VKSHD-TH, ngày 26/02/2024, VKSND huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương truy tố H2 về tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ, theo điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo H2 thừa nhận hành vi phạm tội, xin giảm nhẹ hình phạt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử (viết tắt là HĐXX): Tuyên bố bị cáo Nghiêm Trọng H2 phạm tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ. Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Về hình phạt chính đề nghị xử phạt bị cáo H2 từ 15 tháng đến 17 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 30 tháng đến 34 tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo H2 cho Ủy ban nhân dân phường B, thành phố H, tỉnh Hải Dương giám sát giáo dục trong thời gian thử thách của án treo. Về hình phạt bổ sung: Cấm bị cáo H2 hành nghề lái xe ô tô trong thời hạn 01 năm đến 02 năm, tính từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật. Về vật chứng: Tạm giữ Giấy phép lái xe ô tô mang tên bị cáo Nghiêm Trọng H2 do Sở giao thông vận tải tỉnh H cấp để lưu trong hồ sơ vụ án, cho đến khi hết thời hạn cấm hành nghề lái xe. Về án phí, bị cáo H2 phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án, đã được tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận định như sau:
[1]. Về thủ tục tố tụng:
[1.1]. Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T, tỉnh Hải Dương, Điều tra viên; VKSND huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
[1.2]. Quá trình giải quyết vụ án phía bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quan điểm giữ nguyên lời khai có trong hồ sơ vụ án và đề nghị giải quyết, xét xử vắng mặt. Xét thấy, việc vắng mặt của phía bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án, không gây trở ngại khách quan cho việc xét xử vụ án. Căn cứ khoản 1 Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự, HĐXX xét xử vắng mặt những người tham gia tố tụng nói trên.
[2]. Về chứng cứ xác định bị cáo Nghiêm Trọng H2 có tội và điều luật áp dụng: Lời khai của bị cáo H2 tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố; phù hợp với lời khai của những người tham gia tố tụng khác; kết quả khám nghiệm hiện trường; các dấu vết để lại trên phương tiện giao thông; các kết luận giám định; các tài liệu, chứng cứ khác đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra công khai tại phiên tòa. Vì vậy, có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 11 giờ 10 phút ngày 08/12/2023, tại km5+400 đường tỉnh lộ 390B thuộc địa phận thôn Q, xã V, huyện T, tỉnh Hải Dương, H2 điều khiển xe ô tô nhãn hiệu SYM, biển kiểm soát 34C-222.03, loại 0,7 tấn, đi không đúng làn đường, phần đường theo quy định, nên đã để phần đầu xe ô tô đâm, va vào phần bánh trước của xe đạp điện nhãn hiệu Yamaha không đeo biển kiểm soát, do cụ N điều khiển theo hướng ngược chiều, gây tai nạn, hậu quả làm cụ N bị chấn thương sọ não, dẫn đến tử vong.
Xét hành vi của bị cáo H2 là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến sự an toàn của hoạt động giao thông đường bộ, an toàn về tính mạng, tài sản của người khác khi tham gia giao thông. Trong khi đó bị cáo H2 là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được khi tham gia giao thông đường bộ phải tuân thủ điều khiển phương tiện đi đúng làn đường, phần đường nhưng bị cáo không tuân thủ các quy định nói trên, nên dẫn tới va chạm với xe đạp điện do cụ N điều khiển theo hướng ngược chiều, hậu quả của hành vi nói trên của bị cáo đã làm cụ N bị chấn thương sọ não và dẫn tới tử vong. Như vậy, bị cáo H2 là người có lỗi trong việc gây tai nạn, đã vi phạm vào khoản 1 Điều 9 của Luật Giao thông đường bộ và đủ yếu tố cấu thành tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ, quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự. Như vậy, Cáo trạng của VKSND huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương truy tố đối với H2 là có căn cứ và đúng pháp luật.
[3]. Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, HĐXX xác định: Bị cáo H2 là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, đồng thời không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, xác định: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên toà, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội; sau khi phạm tội bị cáo đã tự nguyện bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả do hành vi phạm tội của mình gây ra và được phía bị hại xin giảm nhẹ hình phạt, nên H2 được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Xem xét về nguyên nhân xảy ra va chạm giao thông, giữa bị cáo và bị hại, HĐXX thấy rằng: Bị hại là người điều khiển xe đạp điện không đeo biển kiểm soát; khi tham gia giao thông thiếu sự chú ý quan sát phương tiện phía trước; không dứt khoát khi điều khiển phương tiện chuyển hướng, sang đường; khi chuyển hướng, sang đường không có tín hiệu, nên dẫn tới xảy ra va chạm với xe ô tô do bị cáo H2 điều khiển. Vì vậy, hành vi của bị hại vi phạm khoản 1 Điều 15 của Luật giao thông đường bộ, nên cũng có một phần lỗi. Vì vậy, có căn cứ xem xét cho bị cáo H2 được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, theo khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Căn cứ quy định của Bộ luật Hình sự, sau khi cân nhắc tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, HĐXX thấy rằng: Bị cáo H2 là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Ngoài lần phạm tội này, bị cáo luôn chấp hành đúng chính sách pháp luật, có nơi cư trú rõ ràng, có khả năng tự cải tạo và đã bồi thường trách nhiệm dân sự cho phía bị hại. Do đó, không cần thiết buộc bị cáo H2 phải chấp hành hình phạt tù, mà cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách, giao cho Ủy ban nhân dân phường B, thành phố H, tỉnh Hải Dương nơi bị cáo cư trú, để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách của án treo, như theo quy định tại Điều 65 của Bộ luật Hình sự.
[4]. Về hình phạt bổ sung: Bị cáo H2 hành nghề lái xe ô tô, lại vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ. Vì vậy, cần áp dụng Điều 41, khoản 5 Điều 260 của Bộ luật Hình sự, cấm bị cáo H2 hành nghề lái xe ô tô trong một khoảng thời gian nhất định để đảm bảo tính giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.
[5]. Về trách nhiệm dân sự: Sau khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo H2 đã bồi thường trách nhiệm dân sự cho phía bị hại. Phía bị hại xác định phần trách nhiệm dân sự đã tự thỏa thuận, giải quyết xong, không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thêm tiền, tài sản hoặc nghĩa vụ nào khác. Vì vậy, HĐXX không đặt ra để giải quyết.
[6]. Về xử lý vật chứng của vụ án.
[6.1]. Đối với xe xe ô tô nhãn hiệu SYM, biển kiểm soát 34C-222.03, loại 0,7 tấn là tài sản của bị cáo H2 và vợ là chị Phan Thị T1. Khi tham gia giao thông bị cáo H2 là người tự gây ra tai nạn, làm hư hỏng xe ô tô; mặt khác chị T1 không yêu cầu xem xét thiệt hại này. Do vậy, Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an huyện T, tỉnh Hải Dương đã trả lại cho bị cáo H2, chị T1 xe ô tô và giấy tờ kèm theo, nên HĐXX không đặt ra để giải quyết.
[6.2]. Đối với xe đạp điện, nhãn hiệu Yamaha không đeo biển kiểm soát, do cụ N sử dụng tham gia giao thông. Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an huyện T, tỉnh Hải Dương đã trả lại cho phía gia đình bị hại xe đạp điện nói trên. Phía bị hại không yêu cầu bồi thường thiệt hại gì thêm. Vì vậy, HĐXX không đặt ra để giải quyết.
[6.3]. Đối một USB chứa dữ liệu camera hành trình vụ tai nạn giao thông ngày 08/12/2023 tại xã V, huyện T, tỉnh Hải Dương. Xét đây là tài liệu, chứng cứ chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo H2. Vì vậy, cần tiếp tục lưu giữ theo hồ sơ vụ án.
[7]. Như đã phân tích tại mục [4], do bị cáo bị áp dụng hình phạt bổ sung là cấm hành nghề lái xe ô tô trong một khoảng thời gian nhất định. Vì vậy, HĐXX tạm giữ Giấy phép lái xe hạng B2, Số/No 300134006588 mang tên Nghiêm Trọng H2 do Sở Giao thông vận tải tỉnh H cấp ngày 25/10/2020, có giá trị đến ngày 25/10/2030 để lưu trong hồ sơ vụ án cho đến khi hết thời gian cấm hành nghề lái xe ô tô đối với bị cáo. Hết thời hạn cấm hành nghề lái xe ô tô, bị cáo H2 liên hệ với cơ quan có thẩm quyền để nhận lại Giấy phép lái xe ô tô nói trên.
[8]. Về án phí: Bị cáo H2 bị kết án, nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm như theo quy định tại Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự, đối với bị cáo Nghiêm Trọng H2.
- Tuyên bố bị cáo Nghiêm Trọng H2 phạm tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ.
- Xử phạt bị cáo Nghiêm Trọng H2 15 (mười lăm) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 30 (ba mươi) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo Nghiêm Trọng H2 cho Ủy ban nhân dân phường B, thành phố H, tỉnh Hải Dương giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo Nghiêm Trọng H2 có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 (hai) lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
- Về hình phạt bổ sung: Áp dụng Điều 41, khoản 5 Điều 260 của Bộ luật Hình sự. Cấm bị cáo Nghiêm Trọng H2 hành nghề lái xe ô tô trong thời gian 01 (một) năm, kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.
- Tạm giữ Giấy phép lái xe hạng B2, Số/No 300134006588 mang tên Nghiêm Trọng H2 do Sở Giao thông vận tải tỉnh H cấp ngày 25/10/2020, có giá trị đến ngày 25/10/2030 để lưu trong hồ sơ vụ án cho đến khi hết thời gian cấm hành nghề lái xe ô tô đối với bị cáo Nghiêm Trọng H2. Hết thời hạn cấm hành nghề lái xe ô tô, bị cáo Nghiêm Trọng H2 liên hệ với cơ quan có thẩm quyền để nhận lại Giấy phép lái xe nói trên.
- Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Nghiêm Trọng H2 phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Người đại diện hợp pháp của bị hại; người đại diện hợp pháp của bị hại đồng thời là người đại diện theo ủy quyền của những người đại diện hợp pháp của bị hại - người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên toà, được quyền kháng cáo nội dung có liên quan, trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Mạnh Tuân |
Bản án số 47/2024/HS-ST ngày 25/06/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH HÀ, TỈNH HẢI DƯƠNG về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Số bản án: 47/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH HÀ, TỈNH HẢI DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ị hại là người điều khiển xe đạp điện không đeo biển kiểm soát; khi tham gia giao thông thiếu sự chú ý quan sát phương tiện phía trước; không dứt khoát khi điều khiển phương tiện chuyển hướng, sang đường; khi chuyển hướng, sang đường không có tín hiệu, nên dẫn tới xảy ra va chạm với xe ô tô do bị cáo H2 điều khiển. Vì vậy, hành vi của bị hại vi phạm khoản 1 Điều 15 của Luật giao thông đường bộ, nên cũng có một phần lỗi.
