TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ TÚ TỈNH SÓC TRĂNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 47/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 25-6-2024
V/v ly hôn và tranh chấp về nuôi con.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ TÚ, TỈNH SÓC TRĂNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thu Hồng.
- Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Lê Hoàng Điệt.
- Ông Đặng Duy Tân.
- - Thư ký phiên Tòa: Bà Trương Thị Anh Thư là thư ký Tòa án nhân
huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng. - - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Tú tham gia phiên tòa: Bà
Triệu Thị Mộng Lý– Kiểm sát viên.
Trong ngày 25 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 63/2024/TLST-HNGĐ, ngày 01 tháng 4 năm 2024 về ly hôn và tranh chấp về nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 84/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 21 tháng 5 năm 2024, giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Chị Thạch Thị C; Địa chỉ: ấp B, xã P, huyện M, tình Sóc Trăng (vắng mặt).
- - Bị đơn: Anh Tăng Hoàng V; Địa chỉ: ấp B, xã P, huyện M, tình Sóc Trăng (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 05 tháng 5 năm 2023 cũng như trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Thạch Thị C trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Thạch Thị C và anh Tăng Hoàng V có tổ chức tiệc cưới vào năm 2017 và đi đăng ký kết hôn vào ngày 24 tháng 01 năm 2017, tại Ủy ban nhân dân xã Phú Mỹ, huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng. Hôn nhân của chị Đvà anh Vđược xây dựng trên cơ sở tự nguyện, chị Đvà anh Vtìm hiểu nhau một thời gian thì đi đến kết hôn. Sau khi kết hôn anh chị sinh sống tại ấp Bưng Cóc, xã Phú Mỹ, huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng. Thời gian đầu khi mới sống chung với nhau thì vợ chồng anh chị sống rất vui vẻ, hạnh phúc. Đến khoảng 03 (ba) năm nay thì trong cuộc sống vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng về quan điểm sống, cả hai không có tiếng nói chung. Khi xảy ra mâu thuẫn chị Đ và anh V đã nhiều lần hàn gắn tình cảm nhưng vẫn không thay đổi được, vợ chồng tiếp tục xảy ra mâu thuẫn. Nay chị Đnhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, vợ chồng sống không hạnh phúc nên chị Đyêu cầu được ly hôn với anh Tăng Hoàng V.
Về con chung: Chị Thạch Thị C tự khai trong thời gian chung sống, chị Đvà anh Vcó 02 (hai) người con chung là Tăng Thị Hoàng Quyên (Nữ, sinh ngày 14-02-2018), Tăng Thị Hoàng Yến (Nữ, sinh ngày 21-02-2020), hiện nay các con chung đang sống cùng với chị Thạch Thị C tại địa chỉ: ấp Bưng Cóc, xã Phú Mỹ, huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng. Sau khi ly hôn chị Thạch Thị C yêu cầu được tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng cháu Tăng Thị Hoàng Quyên (Nữ, sinh ngày 14-02-2018), Tăng Thị Hoàng Yến (Nữ. sinh ngày 21-02-2020) cho đến khi cháu Quyên, cháu Yến 18 (mười tám) tuổi.
Về cấp dưỡng nuôi con: Theo đơn khởi kiện lập ngày 05 tháng 5 năm 2023 chị Thạch Thị C yêu cầu anh Tăng Hoàng V cấp dưỡng nuôi cháu Tăng Thị Hoàng Quyên và Tăng Thị Hoàng Yến mỗi cháu là 1.500.000 đồng/tháng, hai cháu là 3.000.000 đồng/tháng đến khi các cháu đủ 18 tuổi. Nhưng Trong quá trình giải quyết vụ án chị Đthay đổi yêu cầu, chị không yêu cầu anh Vcấp dưỡng nuôi cháu Quyên và cháu Yến.
Về tài sản chung và nợ chung: Chị Thạch Thị C tự khai không có, không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.
Đối với bị đơn anh Tăng Hoàng V: Sau khi thụ lý, Tòa án đã tóm tắt nội dung đơn khởi kiện và các yêu cầu của nguyên đơn chị Thạch Thị C tại Thông báo thụ lý vụ án số: 99/TB-TLVA, ngày 01 tháng 4 năm 2024 và đã tống đạt hợp lệ cho bị đơn anh Tăng Hoàng V, cũng như đã triệu tập hợp lệ anh Tăng Hoàng V đến dự phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải hai lần nhưng anh Tăng Hoàng V đều không đến dự phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải. Sau đó, Tòa án đã Thông báo về kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ cho anh Tăng Hoàng V nhưng anh Tăng Hoàng V không gửi văn bản ghi ý kiến của anh Tăng Hoàng V đối với yêu cầu khởi kiện nêu trên của chị Thạch Thị C.
Tại phiên tòa Kiểm sát viên Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng trình bày ý kiến như sau:
Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án đã tiến hành các thủ tục tố tụng đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự như: Xác định đúng thẩm quyền thụ lý vụ án, quan hệ pháp luật tranh chấp, xác định đúng tư cách tham gia tố tụng của các đương sự, việc thu thập chứng cứ đúng theo quy định. Về thời hạn chuẩn bị xét xử được đảm bảo theo quy định. Về thời hạn gửi hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu, việc cấp tống đạt đảm bảo đúng theo quy định. Tại phiên tòa Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật về phiên tòa sơ thẩm.
Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Thạch Thị C.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Về sự có mặt, vắng mặt của những người tham gia tố tụng:
Nguyên đơn chị Thạch Thị C vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt đề ngày 07 tháng 6 năm 2024); Bị đơn anh Tăng Hoàng V đã được Tòa án triệu tập hợp lệ hai lần nhưng cả hai lần đều vắng mặt không lý do. Do đó, căn cứ vào khoản 2 Điều 227, khoản 1,3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử vụ án.
[1.2] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn chị Thạch Thị C yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn, tranh chấp nuôi con giữa nguyên đơn chị Thạch Thị C và bị đơn anh Tăng Hoàng V có nơi cư trú tại ấp Bắc Dần, xã Phú Mỹ, huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng. Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Hội đồng xét xử xác định việc Tòa án nhân dân huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng thụ lý, giải quyết vụ án theo trình tự sơ thẩm là đúng quy định của pháp luật về thẩm quyền giải quyết vụ án.
[1.3] Nguyên đơn chị Thạch Thị C có đơn thay đổi yêu cầu khởi kiện đối với yêu cầu cấp dưỡng nuôi con theo đơn khởi kiện chị Thạch Thị C yêu cầu anh Tăng Hoàng V cấp dưỡng nuôi cháu Tăng Thị Hoàng Quyên và Tăng Thị Hoàng Yến mỗi cháu là 1.500.000 đồng/tháng, hai cháu là 3.000.000 đồng/tháng đến khi các cháu đủ 18 tuổi. Nhưng Trong quá trình giải quyết vụ án chị Đthay đổi yêu cầu, chị Đkhông yêu cầu anh Vcấp dưỡng nuôi cháu Quyên, cháu Yến. Hội đồng xét xử thấy rằng việc thay đổi yêu cầu của nguyên đơn không vượt quá phạm vi yêu cầu khởi kiện ban đầu nên theo quy định tại khoản 1 Điều 244 của Bộ luật Tố tụng dân sự nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[2] Về nội dung vụ án:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Thạch Thị C và anh Tăng Hoàng V xác lập quan hệ vợ chồng trên cơ sở tự nguyện, có tổ chức lễ cưới và có đủ điều kiện kết hôn. Do đó việc chị Thạch Thị C và anh Tăng Hoàng V tiến đến hôn nhân và được Ủy ban nhân dân xã Phú Mỹ, huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng cấp Giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 24 tháng 01 năm 2017 là hoàn toàn đúng theo đúng quy định pháp luật cho nên được pháp luật công nhận đây là hôn nhân hợp pháp và cần giải quyết hậu quả phát sinh từ cuộc hôn nhân này.
Trong quá trình chung sống theo chị Thạch Thị C trình bày do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cãi vã và không tìm được tiếng nói chung trong đời sống hôn nhân, vợ chồng thường xuyên cãi vã. Chị Đvà anh Vđã sống ly thân hơn 02 (hai) năm đến nay, khi xảy ra mâu thuẫn chị Đvà anh Vđã nhiều lần hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng không được và vợ chồng tiếp tục xảy ra mâu thuẫn. Hiện nay chị Đvà anh Vkhông còn chung sống với nhau như vợ chồng, anh chị đều có công việc riêng và có cuộc sống riêng không ai quan tâm, chăm sóc cho ai. Theo đơn khởi kiện cũng như trong quá trình giải quyết vụ án chị Thạch Thị C vẫn cương quyết xin ly hôn với anh Tăng Hoàng V.
Hội đồng xét xử xét thấy theo quy định tại Khoản 1 Điều 19 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 “vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thuỷ, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau chia sẽ, thực hiện các công việc trong gia đình”. Đối chiếu với quan hệ hôn nhân giữa chị Đy, anh Vthì hiện nay, chị Đy, anh Vsống ly thân, mỗi người đều có cuộc sống riêng. Do đó, Hội đồng xét xử thấy rằng thực trạng mâu thuẫn giữa chị Đy, anh Vđã đến mức trầm trọng, hiện nay anh chị không còn sống chung với nhau như vợ chồng, anh chị không còn thương yêu và chăm sóc lẫn nhau, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị Thạch Thị C.
[2.2] Về con chung: Xét yêu cầu của chị Thạch Thị C yêu cầu được tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Tăng Thị Hoàng Quyên (Nữ, sinh ngày 14-02-2018), Tăng Thị Hoàng Yến (Nữ, sinh ngày 21-02-2020) cho đến khi cháu cháu Quyên, cháu Yến đủ 18 (mười tám) tuổi. Hội đồng xét xử thấy, khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 có quy định: “Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con”. Thấy rằng, từ khi chị Đy, anh Vsống ly thân thì chị Đlà người trực tiếp nuôi dưỡng cháu cháu Quyên, cháu Yến.
Từ những phân tích trên Hội đồng xét xử thấy rằng nhằm để đảm bảo sự phát triển lành mạnh về thể chất, ổn định cuộc sống cũng như tâm sinh lý của cháu Tăng Thị Hoàng Quyên, Tăng Thị Hoàng Yến nên việc giao cháu Quyên, cháu Yến cho chị Thạch Thị C trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp. Do đó, căn cứ vào các Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử tiếp tục giao cháu Tăng Thị Hoàng Quyên (Nữ, sinh ngày 14-02-2018), Tăng Thị Hoàng Yến (Nữ, sinh ngày 21-02-2020) cho chị Thạch Thị C tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi cháu Quyên, cháu Yến đủ 18 (mười tám) tuổi. Anh Tăng Hoàng V được quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở anh Vthực hiện quyền này, theo quy định tại Điều 82 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
[2.3] Về cấp dưỡng nuôi con: Khoản 2 Điều 82 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 quy định: “Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con”. Đáng lẽ ra, anh Tăng Hoàng V là người không trực tiếp nuôi con thì phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con, nhưng trong quá trình giải quyết vụ án chị Đcho rằng hiện nay chị có công việc làm ổn định, thu nhập hằng tháng của chị đảm bảo để nuôi con, nên chị Đkhông yêu cầu anh Vcấp dưỡng nuôi cháu Tăng Thị Hoàng Quyên (Nữ, sinh ngày 14-02-2018), Tăng Thị Hoàng Yến (Nữ. sinh ngày 21-02-2020). Do đó, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
[2.4] Về tài sản chung: Chị Thạch Thị C tự khai không có, nên Hội đồng xét xử không đặt ra để xem xét.
[2.5] Về nợ chung: Chị Thạch Thị C tự khai không có, nên Hội đồng xét xử không đặt ra để xem xét.
[3] Xét đề nghị của Kiểm sát viên như đã nhận định nêu trên là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[4] Về án phí: Nguyên đơn chị Thạch Thị C phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 2 Điều 227; khoản 1,3 Điều 228; khoản 1 Điều 244; Điều 266; Điều 271; Điều 273; Điều 278; Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Thạch Thị C.
1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Thạch Thị C được ly hôn với anh Tăng Hoàng V.
2. Về con chung:
2.1 Giao con chung tên Tăng Thị Hoàng Quyên (Nữ, sinh ngày 14-02-2018), Tăng Thị Hoàng Yến (Nữ, sinh ngày 21-02-2020) cho chị Thạch Thị C trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi cháu Tăng Thị Hoàng Quyên (Nữ, sinh ngày 14-02-2018), Tăng Thị Hoàng Yến (Nữ, sinh ngày 21-02-2020) đủ 18 (mười tám) tuổi.
2.2 Về cấp dưỡng nuôi con: Anh Tăng Hoàng V không cấp dưỡng nuôi cháu Tăng Thị Hoàng Quyên (Nữ, sinh ngày 14-02-2018), Tăng Thị Hoàng Yến (Nữ, sinh ngày 21-02-2020).
2.3 Sau khi ly hôn, anh Tăng Hoàng V có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung Tăng Thị Hoàng Quyên (Nữ, sinh ngày 14-02-2018), Tăng Thị Hoàng Yến (Nữ, sinh ngày 21-02-2020), chị Thạch Thị C cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở. Anh Tăng Hoàng V không được lạm dụng việc thăm nom con chung để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung theo quy định tại Điều 82 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
3. Về tài sản chung: Chị Thạch Thị C tự khai không có nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
4. Về nợ chung: Chị Thạch Thị C tự khai không có nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
5. Về án phí dân sự sơ thẩm: Nguyên đơn chị Thạch Thị C phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí sơ thẩm đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0003465 ngày 27 tháng 3 năm 2024, chị Thạch Thị C đã nộp đủ án phí sơ thẩm.
5. Nguyên đơn; bị đơn có quyền làm đơn kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết công khai để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử theo thủ tục phúc thẩm. Viện kiểm sát có quyền kháng nghị theo quy định của pháp luật.
6. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự (đã được sửa đổi, bổ sung), thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự (đã được sửa đổi, bổ sung); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thu Hồng |
Bản án số 47/2024/HNGĐ-ST ngày 25/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ TÚ, TỈNH SÓC TRĂNG về ly hôn và tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 47/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn và tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/06/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ TÚ, TỈNH SÓC TRĂNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
