|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ XUYÊN THÀNH PHỐ HÀ NỘI |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - hạnh phúc |
Bản án số: 123/2024/HNGĐ - ST
Ngày: 07 - 6 - 2024
V/v tranh chấp ly hôn
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ XUYÊN, TP HÀ NỘI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Anh Phương.
- Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Lương Đức và ông Vũ Minh Đoan.
- - Thư ký ghi biên bản phiên toà: Bà Nguyễn Thị Lê Mai – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Xuyên, Thành phố Hà Nội.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Xuyên, Thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Đức Thịnh - Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Phú Xuyên, Thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 104/2024/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 5 năm 2024 về tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 40/2024/QĐXX - ST ngày 22 tháng 5 năm 2024 giữa các đương sự:
-
Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Thuý L, sinh năm 1978.
Đăng ký hộ khẩu thường trú và cư trú tại: Thôn Kim L T, xã Hoàng L, huyện Phú Xuyên, Thành phố Hà Nội. Có mặt.
-
Bị đơn: Anh Đào Xuân L, sinh năm 1973.
Đăng ký hộ khẩu thường trú và cư trú tại: Thôn Kim L T, xã Hoàng L, huyện Phú Xuyên, Thành phố Hà Nội. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện và trong quá trình xét xử, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Thuý L trình bày:
Chị với anh Đào Xuân L kết hôn trên cơ sở tự nguyện có đăng kí kết hôn năm 1997 tại Uỷ ban nhân dân xã Hoàng L, huyện Phú Xuyên, Thành phố Hà Nội. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống tại thôn Kim L T, xã Hoàng L. Vợ chồng chung sống đến năm 2006 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do tính tình không hợp, bất đồng quan điểm sống, hơn nữa vì kinh tế gia đình khó khăn nên chị phải đi làm ăn xa, vợ chồng sống xa cách, tình cảm vợ chồng ngày càng phai nhạt. Do mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng nên cả hai đã tự sống ly thân nhau nhiều năm nay.
Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, hôn nhân tồn tại chỉ là hình thức nên chị đề nghị Toà án cho được ly hôn anh L.
1
Về con chung: Vợ chồng có hai con chung là Đào Thị Thuỳ L, sinh năm 1999 và Đào Xuân T, sinh năm 2003 đều đã thành niên nên chị không đề nghị Toà án giải quyết.
Về tài sản chung vợ chồng: Chị không yêu cầu Tòa giải quyết.
Về công nợ chung vợ chồng: Không có nên chị không yêu cầu Tòa giải quyết.
Tại các bản tự khai và biên bản lấy lời khai, phía bị đơn anh Đào Xuân L trình bày:
Anh kết hôn với chị Nguyễn Thị Thuý L từ tháng 12 năm 1997 là hôn nhân tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Hoàng L, huyện Phú Xuyên. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống tại thôn Kim L T, xã Hoàng L. Vợ chồng chung sống đến năm 2004 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do không hoà hợp về tính cách, bất đồng quan điểm trong cuộc sống, hơn nữa chị L đi làm ăn xa khiến tình cảm vợ chồng ngày càng phai nhạt. Vợ chồng đã tự sống ly thân nhiều năm nay.
Trước yêu cầu ly hôn của chị L, anh có quan điểm do tình cảm vợ chồng không còn, thời gian ly thân đã lâu nên anh đồng ý ly hôn chị L.
Về con chung: Vợ chồng có hai con chung là Đào Thị Thuỳ Linh, sinh năm 1999 và Đào Xuân Thọ, sinh năm 2003 đều đã thành niên nên anh không đề nghị Toà án giải quyết.
Về tài sản chung vợ chồng: Anh không yêu cầu Tòa giải quyết.
Về công nợ chung vợ chồng: Không có nên anh không yêu cầu Tòa giải quyết
Đại diện VKSND tham gia phiên toà xác định:
Quá trình tố tụng cũng như tại phiên toà, Thẩm phán, Thư ký được phân công giải quyết vụ án đã thực hiện đúng các quy định về thu thập chứng cứ, chấp hành đúng pháp luật tố tụng; Đương sự vắng mặt đã được Tòa án tạo mọi điều kiện để thực hiện các quyền và nghĩa vụ tố tụng dân sự; Đương sự có mặt đã thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình trong suốt quá trình tố tụng cũng như tại phiên toà...
Do mâu thuẫn đã trầm trọng, thời gian ly thận đã lâu, mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị Thuý L và áp dụng các Điều 51, 56, 57 Luật hôn nhân và gia đình xử: Cho chị Nguyễn Thị Thuý L được ly hôn anh Đào Xuân L; Vợ chồng có hai con chung là Đào Thị Thuỳ Linh, sinh năm 1999 và Đào Xuân Thọ, sinh năm 2003 đều đã thành niên nên không xét; tài sản chung các bên đều không đề nghị Tòa xét nên không xét; công nợ chung các bên đều khẳng định không có nên không xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở lời trình bày của các bên đương sự và quan điểm của Đại diện VKSND, HĐXX nhận định:
- [1] Về tố tụng:
Đây là vụ kiện Hôn nhân và gia đình tranh chấp về ly hôn theo quy định tại Khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Do bị đơn có địa chỉ cư trú tại thôn Kim L T, xã Hoàng L, huyện Phú Xuyên nên TAND huyện Phú Xuyên thụ lý, giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại điểm a Khoản 1 Điều 35 và điểm a Khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
2
Về sự vắng mặt của bị đơn anh Đào Xuân L: Quá trình tố tụng anh L có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt nên việc xét xử vắng mặt bị đơn anh L là đúng quy định tại các Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
- [2] Về nội dung:
Xét quan hệ hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị Thuý L và anh Đào Xuân L là hôn nhân tự nguyện, hợp pháp có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Hoàng L, huyện Phú Xuyên, Thành phố Hà Nội (Đăng ký kết hôn số 44 ngày 12/12/1997). Quá trình chung sống, vợ chồng đã phát sinh mâu thuẫn nhiều năm kể từ năm 2004 do bất đồng quan điểm trong cuộc sống cộng với tính cách không hòa hợp mỗi bên, không tôn trọng, tin tưởng nhau trong cuộc sống, từ đó nảy sinh những xung đột khiến cả hai sống ly thân, chấm dứt mối quan hệ tình cảm vợ chồng từ nhiều năm nay.
Xét mâu thuẫn vợ chồng giữa chị Nguyễn Thị Thuý L và anh Đào Xuân L đã đến mức trầm trọng bởi tình cảm vợ chồng thực sự không còn do thời gian mâu thuẫn, sống ly thân đã lâu, đời sống vợ chồng không có cơ hội hàn gắn bởi từ hai phía đều không ai mong muốn đoàn tụ, mục đích hôn nhân là hạnh phúc gia đình vì thế không đạt được, hôn nhân tồn tại chỉ là hình thức, không còn ý nghĩa; quá trình tố tụng, trước yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị Thuý L, phía anh Đào Xuân L có quan điểm đồng ý ly hôn... Vì vậy Hội đồng xét xử xét thấy, yêu cầu của chị Nguyễn Thị Thuý L về ly hôn anh Đào Xuân L là có căn cứ, nên áp dụng các Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình cho chị Nguyễn Thị Thuý L được ly hôn anh Đào Xuân L.
Về con chung: Chị Nguyễn Thị Thuý L và anh Đào Xuân L có hai con chung là Đào Thị Thuỳ Linh, sinh năm 1999 và Đào Xuân Thọ, sinh năm 2003 đều đã thành niên, các bên không đề nghị Toà xét nên Toà không xét.
Về tài sản chung: Các bên đều không đề nghị Tòa xét nên Tòa không xét.
Về công nợ chung: Các bên đều khẳng định vợ chồng không có công nợ chung nên Tòa không xét.
- [3] Về án phí: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Thuý L phải nộp án phí ly hôn sợ thẩm theo quy định tại Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
- [4] Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Thuý L và bị đơn anh Đào Xuân L có quyền kháng cáo theo quy định tại các Điều 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng Khoản 1 Điều 51, Điều 56, Điều 57 Luật hôn nhân và gia đình; Khoản 1 Điều 28, điểm a Khoản 1 Điều 35, điểm a Khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, tuyên xử:
- 1. Về hôn nhân: Cho chị Nguyễn Thị Thuý L được ly hôn anh Đào Xuân L.
- 2. Về con chung: Chị Nguyễn Thị Thúy L và anh Đào Xuân L có hai cọn chung là Đào Thị Thuỳ Linh, sinh năm 1999 và Đào Xuân Thọ, sinh năm 2003 đều đã thành niên, các bên đều không đề nghị xem xét nên không xét.
3
- 3. Về tài sản chung: Các bên đều không đề nghị xem xét nên không xét.
- 4. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Thuý L phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, được đối trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) đã nộp theo biên lai thu số 0015456 ngày 03/5/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Xuyên. Chị Nguyễn Thị Thuý L đã nộp đủ tiền án phí ly hôn sơ thẩm.
Án xử công khai sơ thẩm, báo nguyên đơn có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt bản án hợp lệ.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Lê Anh Phương |
4
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ |
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
5
6
Bản án số 123/2024/HNGĐ - ST ngày 07/06/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ XUYÊN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 123/2024/HNGĐ - ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 07/06/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ XUYÊN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị Nguyễn Thị Thanh H xin ly hôn anh Nguyễn Văn T
