|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUY HÒA TỈNH PHÚ YÊN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 47/2024/DSST
Ngày: 24/7/2024
V/v “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUY HÒA, TỈNH PHÚ YÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Lê Xuân Thu
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Phú Hào và bà Đào Thị Ngâm
- Thư ký phiên tòa: Bà Mai Lê Thục Uyên - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hoà
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuy Hòa tham gia phiên tòa: Ông Cao Tấn Tiền - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 23, 24 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hòa, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 222/2023/TLST - DS ngày 22 tháng 12 năm 2023 về “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 67/2024/QĐST - DS ngày 11 tháng 6 năm 2024, Quyết định hoãn phiên toà số 56/2024/QÐST - DS ngày 01 tháng 7 năm 2024 và Thông báo thay đổi thời gian mở phiên toà ngày 08/7/2024 của Toà án nhân dân thành phố Tuy Hoà, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Phạm Thị Ngọc T, sinh năm 1981;
Địa chỉ: A N, phường E, thành phố T, tỉnh Phú Yên.
Người đại diện theo ủy quyền có ông Lê Huy V, sinh năm 2001;
Địa chỉ: B N, phường E, thành phố T, tỉnh Phú Yên.
Có mặt.
Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của nguyên đơn có ông Đoàn Cửu V1 - Luật sư Công ty L;
Địa chỉ: C N, phường G, thành phố T, tỉnh Phú Yên;
Vắng mặt.
- Bị đơn: Bà Võ Thị T1, sinh năm 1955;
ĐKTT: 44 N, phường E, thành phố T, tỉnh Phú Yên.
Chỗ ở hiện nay: 04 Hải Dương, xã B, thành phố T, tỉnh Phú Yên.
Vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Công ty Cổ phần D;
Địa chỉ trụ sở chính: 04 Hải Dương, xã B, thành phố T, tỉnh Phú Yên.
Người đại diện theo pháp luật của Công ty có bà Nguyễn Huỳnh Đoan T2 - Giám đốc công ty.
Vắng mặt (Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
- Công ty Cổ phần T3;
Địa chỉ trụ sở chính: 03 Hải Dương, xã B, thành phố T, tỉnh Phú Yên.
Người đại diện theo pháp luật của Công ty có bà Võ Thị T1 - Giám đốc công ty.
Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà, ông Lê Huy V - người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn bà Phạm Thị Ngọc T trình bày được tóm tắt như sau:
Do quen biết nên từ tháng 5/2022, bà Phạm Thị Ngọc T nhiều lần đưa tiền cho bà Võ Thị T1 vay mượn tổng cộng là 1.500.000.000 đồng. Bà T1 hẹn tháng 12/2022 trả hết nợ. Đến tháng 4/2023, bà T1 chuyển khoản trả nợ 20.000.000 đồng nên còn nợ lại bà T 1.480.000.000 đồng. Bà T1 sử dụng Z lập trên số điện thoại 0913.445.xxx nhắn tin xác nhận nội dung trên và được bà T đề nghị Văn phòng T4 lập vi bằng số 52/2023/VB-TPL ngày 26/8/2023 để làm chứng cứ. Do bà T1 không thực hiện nghĩa vụ trả nợ nên bà T khởi kiện yêu cầu bà T1 trả số tiền nợ 1.480.000.000 đồng, không yêu cầu trả tiền lãi.
* Bị đơn bà Võ Thị Thanh v mặt nên không trình bày.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Công ty Cổ phần D do bà Nguyễn Huỳnh Đoan T2 là người đại diện theo pháp luật Công ty trình bày được tóm tắt như sau:
Sau khi tìm hiểu vụ án tranh chấp hợp đồng vay tài sản giữa bà Phạm Thị Ngọc T với bà Võ Thị T1, Công ty D không liên quan đến các nội dung thoả thuận trong quá trình vay tài sản giữa hai bên, lý do:
- + Số điện thoại 0913.445.xxx cá nhân bà Võ Thị Thanh quản 1 và sử dụng từ tháng 6/2016 đến tháng 9/2021. Từ tháng 9/2021 đến nay cũng cá nhân bà Thanh quản 1 sử dụng. Công ty D chỉ đứng tên chủ sở hữu. Công ty D đứng tên để Công ty chủ động trong việc hỗ trợ thanh toán cước phí điện thoại hàng tháng cho chính chủ. Vì bà T1 tuổi đã cao bệnh nặng không đi lại được nhiều và bà T1 không có tiền để trả cước điện thoại.
- + Bà Võ Thị T1 và Công ty không có mối liên hệ nào trong hoạt động sản xuất kinh doanh, không sở hữu bất kỳ vốn góp, không có mối quan hệ lao động hay mối quan hệ hợp tác kinh doanh, sở hữu tài sản nào khác liên quan đến Công ty D. Do đó, tranh chấp hợp đồng vay tài sản giữa bà Phạm Thị Ngọc T và bà Võ Thị T1 không có liên quan và không xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của Công ty D nên Công ty không phải là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Công ty Cổ phần T3 - do bà Võ Thị T1 là người đại diện theo pháp luật Công ty vắng mặt nên không trình bày.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuy Hoà phát biểu ý kiến:
- + Về thủ tục tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án cấp sơ thẩm đã tuân theo đúng trình tự thủ tục pháp luật quy định, đảm bảo cho đương sự thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa tuân thủ đúng thủ tục tố tụng; Bị đơn chưa chấp hành đúng quyền và nghĩa vụ của mình.
- + Về nội dung vụ án: căn cứ các Điều 463, 466, 468 Bộ luật Dân sự, đề nghị tuyên buộc bà Võ Thị T1 trả cho bà Phạm Thị Ngọc T số tiền nợ 1.480.000.000 đồng; Về án phí: bị đơn phải chịu theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là tranh chấp về hợp đồng vay tài sản thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn cư trú tại thành phố T nên căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hòa thụ lý thuộc thẩm quyền.
[2] Việc giải quyết theo thủ tục vắng mặt đương sự:
Trước ngày mở phiên tòa lần thứ hai, bị đơn bà Võ Thị T1 có đơn đề nghị hoãn phiên tòa, lý do sức khoẻ không tốt và đang điều trị bệnh (gửi tài liệu kèm theo). Sau khi xem xét, Hội đồng xét xử xét thấy lý do xin hoãn phiên tòa của bà T1 là không chính đáng. Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Công ty Cổ phần D có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, Công ty Cổ phần T3 được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không lý do. Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 227 và 228 Bộ luật tố tụng dân sự, tiến hành xét xử vắng mặt đương sự.
[3] Về yêu cầu của đương sự: Căn cứ lời trình bày của đương sự và tài liệu, chứng cứ được xem xét tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Tại công văn số 3703/VNPT-PCTT-TL ngày 08/5/2024, Tập đoàn B cung cấp thông tin khách hàng đăng ký sử dụng số điện thoại 0913.445.xxx như sau: Từ ngày 30/5/2016 đến ngày 30/9/2021 Công ty Cổ phần T3 đăng ký sử dụng; Từ ngày 30/9/2021 đến nay Công ty Cổ phần D đăng ký sử dụng. Công ty Cổ phần D trình bày số điện thoại trên bà Võ Thị T1 là người trực tiếp sử dụng, Công ty chỉ đứng tên đăng ký để tiện việc thanh toán tiền cước phí. Đồng thời, bà T1 cung cấp Phiếu chỉ định khám bệnh có thể hiện số điện thoại liên hệ của bà là 0913.445.xxx. Do đó có căn cứ xác định bà T1 là người sử dụng số điện thoại 0913.445.xxx.
Bà T cung cấp chứng cứ chứng minh là Vi bằng số 52/2023/VB-TPL ngày 26/8/2023 do Văn phòng T4 lập thể hiện nội dung: số điện thoại 0913.445.xxx lập trên ứng dụng Zalo có tên Cô 7 T nhắn tin xác nhận có nợ bà T 1.500.000.000 đồng, đã trả nợ 20.000.000 đồng còn nợ lại bà T 1.480.000.000 đồng nhưng do khó khăn nên chưa thể trả nợ được.
Theo khoản 2 Điều 2 Nghị định 61/2009/NĐ-CP ngày 24/7/2009 quy định “Vi bằng là văn bản do Thừa phát lại lập, ghi nhận sự kiện, hành vi được dùng làm chứng cứ trong xét xử và trong các quan hệ pháp lý khác”.
Tòa án đã nhiều lần tiến hành hòa giải và kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải đối với tài liệu, chứng cứ và yêu cầu khởi kiện nguyên đơn đưa ra nhưng bị đơn vắng mặt không có lý do và không có ý kiến trình bày phản đối nên căn cứ quy định khoản 2 Điều 92 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì lời trình bày của nguyên đơn là chứng cứ không cần chứng minh. Bị đơn bà Võ Thị T1 vay tiền của bà Phạm Thị Ngọc T nhưng vi phạm nghĩa vụ trả nợ, bà T yêu cầu bà T1 trả số tiền nợ 1.480.000.000 đồng là có căn cứ chấp nhận.
Về tiền lãi: nguyên đơn bà Phạm Thị Ngọc T không yêu cầu tính lãi nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[4] Về án phí: Bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, các Điều 147, 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ các điều 463, 466, 468, 470 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Buộc bị đơn bà Võ Thị T1 trả cho nguyên đơn bà Phạm Thị Ngọc T số tiền 1.480.000.000 đồng (Một tỷ bốn trăm tám mươi triệu đồng) về khoản nợ hợp đồng vay tài sản
Khi bản án có hiệu lực pháp luật và kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án chưa thi hành xong khoản tiền nêu trên thì còn phải chịu thêm khoản tiền lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Về án phí:
Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Bị đơn bà Võ Thị T1 phải nộp 56.400.000 đồng (Năm mươi sáu triệu bốn trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
Hoàn trả cho bà Phạm Thị Ngọc T số tiền tạm ứng án phí đã nộp 28.200.000 đồng (Hai mươi tám triệu, hai trăm nghìn đồng) tại Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0012816 ngày 22 tháng 12 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tuy Hoà.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án; quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Đương sự có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; đối với đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo 15 ngày tính từ ngày bản án được giao cho họ hoặc được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Xuân Thu |
Bản án số 47/2024/DSST ngày 24/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUY HÒA, TỈNH PHÚ YÊN về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 47/2024/DSST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/07/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUY HÒA, TỈNH PHÚ YÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản giữa nguyên đơn Phạm Thị Ngọc T, bị đơn Võ Thị T1
