TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM TỈNH ĐỒNG NAI Bản án số: 47/2024/HNGĐ-ST Ngày: 24/4/2024 V/v: “Ly hôn”. | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM, TỈNH ĐỒNG NAI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Dương Thị Thùy Trinh;
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đặng Quang Hoạch;
Ông Đinh Xuân Dậu.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Lê Quỳnh Anh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Lê Đình Đạo - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 4 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 1120/2023/TLST-HNGĐ ngày 24 tháng 11 năm 2023 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 34/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 13 tháng 3 năm 2024 giữa:
- - Nguyên đơn: Ông Nguyễn Quốc H, sinh năm 1963; cư trú tại: 4 tổ C, khu phố A, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; vắng mặt tại phiên tòa;
- - Bị đơn: Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1964; cư trú tại: 4 đường T, tổ C, ấp T, xã H 3, huyện T, tỉnh Đồng Nai; vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện ngày 17/11/2023 và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn ông Nguyễn Quốc H trình bày:
Sau thời gian quen biết, tìm hiểu; ông và bà Nguyễn Thị T tự nguyện tiến tới hôn nhân, có đăng ký kết hôn và đã được Ủy ban nhân dân phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai cấp giấy chứng nhận kết hôn số 38/KHTH ngày 05/03/2003. Trong quá trình sống chung phát sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng về quan điểm, tính tình vợ chồng không hợp. Cuộc sống vợ chồng thường xuyên cãi vã dẫn đến gia đình luôn căng thẳng. Ông và bà T đã nhiều lần tìm cách để giải quyết mâu thuẫn nhưng không thành. Nay nhận thấy cuộc sống gia đình không có hạnh phúc, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được và không còn khả năng hàn gắn nên ông yêu cầu được ly hôn với bà Nguyễn Thị T.
- + Về con chung: Ông và bà T có 01 con chung là Nguyễn Vũ Anh K, sinh ngày 26/06/2004. Hiện tại cháu K đã thành niên và có khả năng lao động nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- + Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- + Về nợ chung: Không có.
Tòa án đã tống đạt hợp lệ giấy triệu tập và các văn bản tố tụng cho bị đơn theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; Tuy nhiên, bị đơn bà Nguyễn Thị T vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án, cũng không cung cấp văn bản trình bày ý kiến và chứng cứ, tài liệu có liên quan về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
- Phần phát biểu của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom tại phiên tòa:
- + Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử trong quá trình giải quyết vụ án là đúng quy định pháp luật. Thẩm quyền giải quyết vụ án, việc thu thập chứng cứ, thời hạn giải quyết vụ án, gửi hồ sơ và tống đạt các văn bản tố tụng và xét xử vắng mặt các đương sự là đúng quy định pháp luật.
- Việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn từ khi thụ lý đến khi xét xử là đúng theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự. Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt; bị đơn đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt; do đó, đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định.
- + Về đường lối giải quyết vụ án: Về quan hệ hôn nhân, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn. Cho ông Nguyễn Quốc H và bà Nguyễn Thị T ly hôn; Con chung là Nguyễn Vũ Anh K, sinh ngày 26/06/2004 hiện đã thành niên và có khả năng lao động nên không xem xét. Về tài sản chung, nợ chung: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng:
1.1. Nguyên đơn ông Nguyễn Quốc H khởi kiện tranh chấp ly hôn, bị đơn bà Nguyễn Thị T có nơi cư trú tại 4 đường T, tổ C, ấp T, xã H 3, huyện T, tỉnh Đồng Nai nên xác định ông H là nguyên đơn, bà T là bị đơn và vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
1.2. Nguyên đơn ông Nguyễn Quốc H có đơn xin xét xử vắng mặt; bị đơn bà Nguyễn Thị T đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng đến lần thứ hai nhưng vắng mặt; căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228; điểm a, b khoản 1 Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt ông H, bà T.
[2] Về nội dung:
2.1 Về quan hệ hôn nhân: Ông Nguyễn Quốc H và bà Nguyễn Thị T tự nguyện kết hôn, có đăng ký kết hôn và đã được Ủy ban nhân dân phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai cấp giấy chứng nhận kết hôn số 38/KHTH ngày 05/03/2003 nên quan hệ hôn nhân giữa ông H, bà T là hợp pháp.
Quá trình giải quyết vụ án, ông H trình bày trong quá trình sống chung phát sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng về quan điểm, tính tình vợ chồng không hợp. Cuộc sống vợ chồng thường xuyên cãi vã và dẫn đến gia đình luôn căng thẳng. Ông, bà đã nhiều lần tìm cách để giải quyết mâu thuẫn nhưng không thành. Nay nhận thấy cuộc sống gia đình không có hạnh phúc, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được và không còn khả năng hàn gắn nên ông H yêu cầu được ly hôn với bà Nguyễn Thị T.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần triệu tập bị đơn đến Tòa án làm việc nhưng bà T không có mặt; Tòa án cũng đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho bà T; Tuy nhiên, bà T không cung cấp văn bản trình bày ý kiến và tài liệu, chứng cứ đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Như vậy, có đủ cơ sở xác định hôn nhân của ông Nguyễn Quốc H và bà Nguyễn Thị T đã trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích của hôn nhân không đạt được; Do đó, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho ông Nguyễn Quốc H và bà Nguyễn Thị T được ly hôn theo quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
2.2 Về con chung: Ông H, bà T có 01 con chung là Nguyễn Vũ Anh K, sinh ngày 26/06/2004. Hiện tại cháu K đã thành niên và có khả năng lao động nên không xem xét.
2.3 Về tài sản chung: Nguyên đơn không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét.
2.4 Về nợ chung: Nguyên đơn trình bày không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét.
[3] Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom tại phiên tòa phù hợp với các tài liệu, chứng cứ của vụ án và nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[4] Về án phí: Căn cứ Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, nguyên đơn phải chịu 300.000 đồng án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH :
Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39, 147, 227, 228, 235, 238 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Áp dụng các Điều 56, 57, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Quốc H với bị đơn bà Nguyễn Thị T về việc “Ly hôn”.
- Về quan hệ hôn nhân: Ông Nguyễn Quốc H được ly hôn với bà Nguyễn Thị T.
- Về con chung: Con chung là Nguyễn Vũ Anh K, sinh ngày 26/06/2004 đã thành niên và có khả năng lao động nên không xem xét.
- Về án phí: Ông Nguyễn Quốc H phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm nhưng được tính trừ vào số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0007811 ngày 17/11/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trảng Bom. Ông Nguyễn Quốc H đã nộp đủ án phí sơ thẩm.
- Thi hành bản án của Tòa án: Theo quy định của Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014), trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy tại Điều 2, thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9; thời hiệu thi hành án theo quy định tại Điều 30.
- Quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Dương Thị Thùy Trinh |
Bản án số 47/2024/HNGĐ-ST ngày 24/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM, TỈNH ĐỒNG NAI về ly hôn
- Số bản án: 47/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/04/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM, TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Quốc H với bị đơn bà Nguyễn Thị T về việc “Ly hôn”.
