Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CÀNG LONG

TỈNH TRÀ VINH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 47/2024/HNGĐ-ST

Ngày 23-7-2024

V/v Ly hôn và tranh chấp nuôi con chung

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÀNG LONG, TỈNH TRÀ VINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Thạch Huỳnh Liêm

Các Hội thẩm nhân dân:

- Ông Nguyễn Thành Công

- Ông Trần Anh Vũ

Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Cẩm Thu – Thư ký Toà án nhân dân huyện Càng Long, tỉnh Trà Vinh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Càng Long, tỉnh Trà Vinh tham gia phiên tòa: Ông Huỳnh Thanh Huấn – Kiểm sát viên.

Trong ngày 23 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Càng Long, tỉnh Trà Vinh mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân thụ lý số: 357/2023/TLST-HN ngày 20 tháng 10 năm 2023 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 103/2024/QĐXXST- HNGĐ ngày 08 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Đặng Thị Thu L, sinh năm 1983 (Vắng mặt)

Địa chỉ: ấp G, xã T, huyện V, tỉnh Vĩnh Long.

Bị đơn: Anh Lê Thanh T, sinh năm 1983 (Vắng mặt)

Địa chỉ: ấp S, xã M, huyện C, tỉnh Trà Vinh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ghi ngày 22 tháng 8 năm 2023 và bản tự khai nghi ngày 22 tháng 02 năm 2024 nguyên đơn chị Đặng Thị Thu L trình bày: Chị L với anh Lê Thanh T quen biết nhau và được sự đồng ý của gia đình hai bên tổ chức lễ cưới năm 2011, vợ chồng có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã M ngày 24/10/2011. Sau khi cưới vợ chồng sống hạnh phúc. Đến khoảng năm 2019 thì phát sinh mâu thuẩn do làm ăn thất bại dẫn đến bất đồng quan điểm sống. Từ đó, anh T bỏ nhà đi và quen biết với người phụ nữ khác đến nay không còn liên lạc với nhau. Từ đó, tình cảm hôn nhân ngày càng phai nhạt. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn nên chị L yêu cầu xin được ly hôn với anh T.

Về con chung: Vợ chồng có 01 người con chung tên Lê Thanh T1, sinh ngày 27/01/2014 hiện đang sống với chị L. Sau khi ly hôn chị L xin được tiếp tục nuôi con chung không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, tài sản riêng: Không có, không yêu cầu giải quyết.

Về nợ chung, nợ riêng và người khác nợ vợ chồng: Không có, không yêu cầu giải quyết.

Theo Bản tự khai ngày 09 tháng 7 năm 2024 bị đơn anh Lê Thanh T trình bày: Anh T với chị Đặng Thị Thu L quen biết nhau và được sự đồng ý của gia đình hai bên có tổ chức lễ cưới năm 2011, vợ chồng có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã M ngày 24/10/2011. Sau khi cưới vợ chồng sống hạnh phúc. Đến khoảng năm 2019 thì phát sinh mâu thuẩn do làm ăn thất bại dẫn đến bất đồng quan điểm sống nên anh T bỏ nhà đi làm ở Thành phố Hồ Chí Minh đến nay không còn liên lạc với nhau. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn nên anh T cũng đồng ý ly hôn với chị L.

Về con chung: Vợ chồng có 01 người con chung tên Lê Thanh T1, sinh ngày 27/01/2014 hiện đang ở với chị L. Sau khi ly hôn anh T đồng ý cho chị L được tiếp tục nuôi con. Anh T xin được quyền thăm con.

Về tài sản chung, nợ chung và người khác nợ vợ chồng: Anh T không yêu cầu giải quyết.

Ý kiến con Lê Thanh T1 theo Bản tự khai ghi ngày 22 tháng 02 năm 2024: Hiện nay con đang sống với mẹ tên Đăng Thị Thu L1. Nếu cha mẹ ly hôn thì nguyện vọng con xin được tiếp tục sống chung với mẹ.

Ý kiến của Vị đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Càng Long: Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa Thẩm phán đã tuân thủ đúng trình tự thủ tục tố tụng theo quy định của pháp luật. Các đương sự thực hiện đúng quy định tại các Điều 70, Điều 71 Bộ luật tố tụng dân sự. Về nội dung vụ án: Đối với yêu cầu của nguyên đơn xin được giải quyết ly hôn theo nội dung đã trình bày là có cơ sở, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ Hội đồng xét xử nhận định:

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Căn cứ đơn khởi kiện của chị Đặng Thị Thu L đối với bị đơn anh Lê Thanh T có địa chỉ ấp S, xã M, huyện C, tỉnh Trà Vinh, xác định quan hệ pháp luật của vụ án “Ly hôn và tranh chấp nuôi con chung” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Càng Long, tỉnh Trà Vinh theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Nguyên đơn, bị đơn đều vắng mặt tại phiên tòa nhưng có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt nên căn cứ vào khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án xét xử vắng mặt các đương sự.

[3] Về quan hệ hôn nhân: Chị Đặng Thị Thu L với anh Lê Thanh T tự nguyện tiến tới hôn nhân có đăng ký kết hôn được Ủy ban nhân dân xã M cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 120/2011 ngày 24 tháng 10 năm 2011 nên xác nhận quan hệ hôn nhân hợp pháp được pháp luật công nhận và bảo vệ.

[4] Thấy rằng, nguyên nhân chị Đặng Thị Thu L xin ly hôn với anh Lê Thanh T là do vợ chồng làm ăn thất bại dẫn đến bất hoà trong cuộc sống hôn nhân, vợ chồng chị L và anh T không sống chung với nhau từ năm 2015 đến nay, sau khi sống ly thân, anh T quen với người phụ nữ khác dẫn đến anh T và chị L không còn quan tâm, lo lắng, chăm sóc lẫn nhau. Từ đó, tình cảm hôn nhân đôi bên không đạt nên anh T có lời khai cũng thống nhất ly hôn với chị L. Tuy nhiên, do anh T bận đi làm nên không đến dự phiên tòa để giải quyết. Như vậy, chị L và anh T đã thống nhất ly hôn nếu tiếp tục kéo dài quan hệ hôn nhân nói trên thì mục đích của hôn nhân cũng không đạt được. Từ đó, Hội đồng xét xử xét thấy, việc yêu cầu xin ly hôn của chị L là phù hợp quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình nên Hội đồng xét xử chấp nhận lời đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Càng Long ghi nhận sự tự nguyện ly hôn giửa chị Đặng Thị Thu L với anh Lê Thanh T.

[5] Về con chung: Vợ chồng chị L và anh T xác nhận có 01 người con chung tên Lê Thanh T1, sinh ngày 27/01/2014 hiện đang ở với chị L. Tại bản khai của con Lê Thanh T1 có nguyện vọng được tiếp tục sống với chị L. Anh T có lời khai cũng thống nhất nguyện vọng của con và anh T cũng đồng ý cho chị L được quyền tiếp tục nuôi con. Thấy rằng, nguyện vọng của con Lê Thanh T1 là phù hợp với thực tế vì hiện nay con đang sống chung với chị L, được học hành và đang thích nghi với môi trường sống cũng như sinh hoạt hằng ngày phù hợp với quy định pháp luật tại Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình. Do đó, Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận giữa chị Đặng Thị Thu L với anh Lê Thanh T cho chị L được quyền tiếp tục nuôi dưỡng con chung. Đồng thời anh T được quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng con chung không ai được quyền ngăn cản. Vì lợi ích của con, khi cần thiết một hoặc cả hai bên có quyền yêu cầu Toà án giải quyết thay đổi người trực tiếp nuôi con, việc cấp dưỡng nuôi con, yêu cầu hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên hoặc hạn chế quyền thăm nom con sau khi ly hôn.

[6] Về cấp dưỡng nuôi con, trước khi đưa vụ án ra xét xử, Toà án đã giải thích cho chị L biết về quyền yêu cầu cấp dưỡng cho con là nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho con, nhưng chị L tự nguyện xin rút lại yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét. Tuy nhiên, vì lợi ích của con, sau khi ly hôn chị L được quyền yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con theo quy định pháp luật.

[7] Về tài sản chung, nợ chung và người khác nợ vợ chồng: chị L và anh T khai không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết. Nếu sau này có phát sinh và có tranh chấp, các bên được quyền yêu cầu trong vụ kiện khác sau khi ly hôn.

[8] Về án phí: Nguyên đơn chị L tự nguyện chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 228, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào các Điều 33, 51, 54, 55, 56, 57, 58, 59, 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và Gia đình;

Căn cứ Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Đặng Thị Thu L.

1. Về quan hệ hôn nhân: Ghi nhận sự tự nguyện thuận tình ly hôn giữa chị Đặng Thị Thu L với anh Lê Thanh T. Giấy chứng nhận kết hôn số 120/2011 ngày 24 tháng 10 năm 2011 do Ủy ban nhân dân xã M, huyện C, tỉnh Trà Vinh cấp cho chị Đặng Thị Thu L và anh Lê Thanh T không còn giá trị pháp lý kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.

2. Về con chung: Ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận giữa chị Đặng Thị Thu L với anh Lê Thanh T, cho chị L được quyền tiếp tục nuôi dưỡng con chung tên Lê Thanh T1, sinh ngày 27/01/2014.

Anh T được quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng con chung không ai được quyền ngăn cản. Vì lợi ích của con, khi cần thiết một hoặc cả hai bên có quyền yêu cầu Toà án giải quyết thay đổi người trực tiếp nuôi con, việc cấp dưỡng nuôi con, yêu cầu hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên hoặc hạn chế quyền thăm nom con sau khi ly hôn.

3. Về cấp dưỡng nuôi con, do chị Đặng Thị Thu L chưa yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét. Vì lợi ích của con, chị L được quyền yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con theo quy định pháp luật

4. Về tài sản chung, nợ chung và người khác nợ vợ chồng: chị L và anh T khai không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết. Nếu sau này có phát sinh và có tranh chấp, các bên được quyền yêu cầu trong vụ kiện khác sau khi ly hôn.

5. Về án phí: Chị Đặng Thị Thu L tự nguyện nộp 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm nhưng chị L được trừ vào số tiền đã nộp tạm ứng án phí 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0017766 ngày 17 tháng 10 năm 2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Càng Long, tỉnh Trà Vinh.

Án xử công khai vắng mặt nguyên đơn, bị đơn. Chị Đặng Thị Thu L và anh Lê Thanh T được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Trà Vinh;
  • - VKSND huyện Càng Long;
  • - CCTHADS huyện Càng Long;
  • - UBND xã;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Thạch Huỳnh Liêm

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 47/2024/HNGĐ-ST ngày 23/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÀNG LONG, TỈNH TRÀ VINH về ly hôn và tranh chấp nuôi con chung

  • Số bản án: 47/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn và tranh chấp nuôi con chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÀNG LONG, TỈNH TRÀ VINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ghi nhận sự tự nguyện thuận tình ly hôn giữa chị Đặng Thị Thu Lan với anh Lê Thanh Tài
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger