TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG TỈNH BẮC GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 47/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 22 tháng 8 năm 2024
V/v “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Mạnh Thắng
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Hoàng Văn Tuân.
- Bà Thân Thị Tuyết Nhung.
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Hoàng Tùng - Thư ký Tòa án
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang tham gia phiên tòa: Bà Cao Thị Cẩm Vân - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 212/2024/TLST-HNGĐ ngày 10/7/2024 về việc: “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 58/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 07 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Chị Trần Thị H, sinh năm 1995.
Địa chỉ: Thôn T, xã T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.
* Bị đơn: Anh Nguyễn Quốc L, sinh năm 1995.
Địa chỉ: Nhà A, ngõ A, đường L, phường X, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.
(Các đương sự đều có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện và quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn là chị Trần Thị H trình bày:
Chị và anh Nguyễn Quốc L đăng kết hôn với nhau ngày 07/3/2018 tại UBND phường X, thành phố B, tỉnh Bắc Giang trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, được gia đình hai bên tổ chức cưới hỏi theo phong tục tập quán địa phương. Sau khi kết hôn vợ chồng cùng chung sống hòa thuận, năm 2022 bắt đầu phát sinh mâu thuẫn do chị phát hiện ra anh L có mối quan hệ tình cảm với người phụ nữ khác, vợ chồng có lúc xảy ra xích mích, cãi cọ. Chị đã bỏ qua cho anh L để hàn gắn vợ chồng cho các con có đủ bố mẹ chung sống chăm sóc, nhưng anh L vẫn không thay đổi, nên chị đã về nhà bố mẹ đẻ ở xã T, thành phố B sinh sống. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn và đề nghị Tòa án giải quyết cho được ly hôn anh L.
Về con chung: Vợ chồng chị có 02 con chung là Nguyễn Quốc B, sinh ngày 13/11/2018 Nguyễn Quốc B1, sinh ngày 12/6/2020. Hiện các con đang ở cùng chị tại thôn T,xã T, thành phố B. Khi ly hôn chị đề nghị được nuôi dưỡng cả 02 con và không yêu cầu anh L phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, công nợ chung: Chị không yêu cầu Toà án giải quyết.
* Quá Tòa án giải quyết vụ án, bị đơn là anh Nguyễn Quốc L được Tòa án thông báo thụ lý vụ án, báo làm việc, hòa giải nhiều lần nhưng đều không đến Tòa án làm việc và không có quan điểm gì đối với nội dung vụ án.
* Tòa án đã tiến hành xác minh, thu thập một số tài liệu, chứng cứ trong quá trình giải quyết vụ án như sau:
Tại Biên bản xác minh ngày 03/7/2024, tổ dân phố T, phường X thành phố B, tỉnh Bắc Giang, được cung cấp như sau: Chị H và anh L là vợ chồng, sinh sống tại địa phương, việc mâu thuẫn vợ chồng địa phương không nắm rõ. Nay chị H xin ly hôn tại Tòa án, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định.
Tại phiên tòa hôm nay,
Chị H trình bày: Chị giữ nguyên yêu cầu Tòa án cho ly hôn với anh L. Về con chung: Vợ chồng 02 con chung là Nguyễn Quốc B, sinh ngày 13/11/2018 và Nguyễn Quốc B1, sinh ngày 12/6/2020. Chị đề nghị giao cả 02 con cho chị chăm sóc nuôi dưỡng và chị không yêu cầu giải quyết về cấp dưỡng nuôi con, hiện nay chị làm việc tại Công ty TNHH S thu nhập trung bình 10.000.000 đồng/tháng, ngoài ra chị làm them bán hàng online thu nhập bình quân 12.000.000 đồng – 15.000.000 đồng/tháng. Về tài sản chung và công nợ chung không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.
Anh L trình bày: Anh đồng ý ly hôn theo yêu cầu của chị H. Về con chung: Vợ chồng 02 con chung là Nguyễn Quốc B, sinh ngày 13/11/2018 và Nguyễn Quốc B1, sinh ngày 12/6/2020, anh đề nghị chỉ giao hai con cho một người chăm sóc nuôi dưỡng để các con được ở cùng nhau và anh cũng xin được nuôi dưỡng cả hai con, hiện nay anh làm tự do và ở cùng bố mẹ tại địa chỉ nhà A, ngõ A, đường L, phường X, thành phố B, tỉnh Bắc Giang; anh không yêu cầu giải quyết về cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung và công nợ chung không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.
HĐXX công bố các tài liệu có trong hồ sơ vụ án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang phát biểu ý kiến:
- Về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án: Trong quá trình thụ lý, giải quyết và xét xử vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa tuân thủ theo đúng các quy định của pháp luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn chấp hành đúng các quy định của pháp luật Tố tụng dân sự; bị đơn không chấp hành đúng các quy định của pháp luật Tố tụng dân sự, vắng mặt tại toàn bộ các buổi tòa án triệu tập làm việc và các phiên hòa giải.
- Về quan điểm giải quyết vụ án: Căn cứ vào Điều 55, Điều 81,82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Đề nghị HĐXX xử như sau:
- + Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị H được ly hôn anh Nguyễn Quốc L.
- + Về con chung: Giao cho anh Nguyễn Quốc L chăm sóc nuôi dưỡng cháu Nguyễn Quốc B, sinh ngày 13/11/2018, giao cho chị Trần Thị H chăm sóc nuôi dưỡng cháu Nguyễn Quốc B1, sinh ngày 12/6/2020. Không xem xét về cấp dưỡng nuôi con do các đương sự không yêu cầu.
- + Về án phí: Chị Trần Thị H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm .
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Các đương sự đều có địa chỉ tại thành phố B. Do vậy, Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang thụ lý, giải quyết vụ án này là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung vụ án
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị H và anh L kết hôn trên cơ sở tự nguyện, được tự do tìm hiểu. Tại thời điểm kết hôn, hai bên có đủ điều kiện kết hôn, có đăng ký kết hôn tại phường X, thành phố B, tỉnh Bắc Giang và đã được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn nên đây là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống, vợ chồng xảy ra mâu thuẫn và đã sống ly thân. Chị H đề nghị được ly hôn, anh L đồng ý ly hôn nên cần công nhận sự thuận tình ly hôn của chị H và anh L là phù hợp với quy định tại Điều 55 của Luật Hôn nhân và gia đình.
[2.2] Về con chung:
[3.2.1] Về quyền chăm sóc, nuôi dưỡng con chung: Theo lời khai của nguyên đơn và tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ đủ căn cứ xác định chị H và anh L có 02 con chung là Nguyễn Quốc B, sinh ngày 13/11/2018 và Nguyễn Quốc B1, sinh ngày 12/6/2020. Chị H và anh L mong muốn cả hai con được cùng ở với nhau và đều có nguyện vọng được quyền chăm sóc, nuôi dưỡng cả hai con. Hội đồng xét xử nhận thấy cháu B1 và cháu B còn nhỏ, cách nhau chỉ gần 2 tuổi và vẫn sinh sống, ăn, ở cùng với nhau từ khi sinh ra đến nay nên việc để cho 2 cháu tiếp tục được sinh sống cùng nhau là tốt nhất cho các cháu và phù hợp với nguyện vọng của chị H và anh L. Xét về điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng con của hai bên thì thấy, các con chị H, anh L còn rất nhỏ, cần sự chăm sóc, nuôi dưỡng từ bữa ăn, giấc ngủ, sinh hoạt hàng ngày, nên người mẹ, người phụ nữ sẽ đảm bảo việc chăm sóc nuôi dưỡng tốt hơn người cha. Mặt khác, xét điều kiện công việc, thu nhập và nơi ở, chị H cung cấp cho Tòa án bảng lương hiện làm việc tại Công ty TNHH S, có nơi ở ổn định cùng bố mẹ chị H, đảm bảo đủ điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng con chung. Phía anh L, trong suốt quá trình Tòa án án giải quyết vụ án, anh chỉ đến tham gia phiên tòa ngày hôm nay, mà không đến Tòa án làm việc khi Tòa án báo làm việc, hòa giải và không cung cấp ý kiến hay bất kỳ tài liệu gì cho Tòa án để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Do đó, để đảm bảo sự ổn định, phát triển bình thường và điều kiện tốt nhất cho các con của chị H, anh L, cần thiết giao cả hai con cho chị H chăm sóc, nuôi dưỡng là phù hợp với quy định tại Điều 81,82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình; Điều 6 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân gia đình của Hội đồng thẩm phán- TAND Tối cao.
[2.2.2] Về quyền thăm nom con chung: Anh L không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở anh L thực hiện quyền này.
[2.2.3] Về cấp dưỡng nuôi con: Do không ai yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
[2.3] Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Các đương sự không có yêu cầu gì nên không đặt ra xem xét, giải quyết.
[2.4] Về án phí: Chị H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo qui định tại Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 55, Điều 81,82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình; Điều 6 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân gia đình của Hội đồng thẩm phán- TAND Tối cao;
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Trần Thị H và anh Nguyễn Quốc L.
- Về con chung: Chị Trần Thị H được quyền chăm sóc, nuôi dưỡng cả hai con chung là Nguyễn Quốc B, sinh ngày 13/11/2018 và Nguyễn Quốc B1, sinh ngày 12/6/2020. Anh Nguyễn Quốc L không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở anh L thực hiện quyền này.
- Về án phí: Chị Trần Thị H phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) đã nộp theo biên lai số 0001892 ngày 05/7/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Bắc Giang.
- Về quyền kháng cáo: Các đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
- Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 - Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6; 7; 7a; 7b và 9 - Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 - Luật thi hành án dân sự./.
Nơi nhận:
| T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Trần Mạnh Thắng |
CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN | THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
Bản án số 47/2024/HNGĐ-ST ngày 22/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG TỈNH BẮC GIANG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 47/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 22/08/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Huế - Lũy "Ly hôn"
