Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN THÁP MƯỜI

TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 47/2024/HS-ST

Ngày: 22/8/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁP MƯỜI, TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Thanh Tuấn

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Ông Nguyễn Thanh Minh Hiền.
  2. Bà Hồ Thị Thủy.

Thư ký phiên tòa: Ông Hứa Quang Trung - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tháp Mười.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tháp Mười tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Tuyết Minh – Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 8 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tháp Mười xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 47/2024/TLHS-ST ngày 24 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 49/2024/QĐXXST- HS ngày 09 tháng 8 năm 2024, đối với bị cáo:

- Họ và tên: Nguyễn Văn T; Giới tính: Nam, tên gọi khác: (D) sinh ngày 24/09/2002. Nơi sinh: Đồng Tháp. Nơi thường trú, nơi tạm trú: không. Nơi ở hiện nay: ấp F, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không. Trình độ học vấn: không biết chữ; Nghề nghiệp: làm thuê. Con ông Nguyễn Văn T1, sinh năm: 1981 (Sống). Con bà Trần Thị T2, S năm 1981 (Sống). Gia đình có 03 chị em, bị cáo là con thứ 2 trong gia đình. Vợ: Nguyễn Thị Mai T3, sinh năm: 1997 (chưa đăng ký kết hôn) Con: có một người con, sinh năm 2023. Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ ngày 10/4/2024; tạm giam ngày 19/4/2024. Bị cáo còn bị tạm giam và có mặt tại tòa.

Người làm chứng:

Anh Lê Văn V, sinh năm 1990.

Trú quán: ấp D, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.

(Bị cáo Nguyễn Văn T có mặt, người làm chứng anh Lê Văn V vắng mặt không lý do).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào ngày 09/4/2024, bị cáo T đi đến Bệnh viện H máu tại Thành phố Cần Thơ để thăm vợ là Nguyễn Thị Mai T3 đang điều trị bệnh. Tại khu vực bên ngoài bệnh viện, T gặp và mua tép ma túy của người tên T4 (không rõ họ tên, địa chỉ cụ thể) với giá 380.000 đồng, mục đích để sử dụng. Ngày 10/04/2024, T từ Cần Thơ về phòng trọ. Đến khoảng 15 giờ 30 phút, T lấy ma túy cho vào bộ D1 để sử dụng. Phần ma tuý còn lại, bị cáo dùng quẹt gas hơ nóng hàn kín lại rồi cất giấu vào gói thuốc hiệu NELSON để dưới nền gạch.

Lúc T đang sử dụng ma túy, Lê Văn V đến phòng rủ T đi ăn. Lúc này, T rủ V vào phòng cùng sử dụng ma tuý, thì V đồng ý. Vẹn lấy bộ dụng cụ bên trong có ma túy của T sử dụng. Khi T và V đang sử dụng ma tuý thì bị lực lượng Công an tiến hành kiểm tra và bắt quả tang thu giữ tại vị trí trước mặt dưới nền gạch nơi T đang ngồi có 01 gói thuốc lá hiệu NELSON, bên trong gói thuốc phát hiện 01 túi nylon màu trắng được hàn kín 03 đầu bên trong có chứa chất rắn màu trắng, nghi vấn là ma túy được niêm phong ký hiệu A1, 01 nỏ thủy tinh có một đầu tròn được tháo ra từ bộ dụng cụ sử dụng ma túy tự chế, bên trong có tinh thể màu trắng nghi là ma túy, được niêm phong ký hiệu A2 và nhiều vật chứng có liên quan.

Tại Kết luận giám định số 462/KL-KTHS ngày 12/04/2024 của Phòng K Công an tỉnh Đ kết luận: tinh thể rắn chứa trong 01 bịch nylon màu trắng được hàn kín ba đầu, được niêm phong trong phong bì ghi ký hiệu A1 nêu trên gửi giám định là chất ma túy, có khối lượng 0,154 gam, loại Methamphetamine; Tinh thể rắn chứa trong 01 nỏ thủy tinh có 01 đầu tròn, được niêm phong trong phong bì ghi ký hiệu A2 nêu trên gửi giám định là chất ma túy, có khối lượng 0,033 gam, loại Methamphetamine. (Hoàn trả đối tượng gửi giám định: Mẫu tinh thể rắn trong phong bì ghi ký hiệu Al còn lại sau giám định, có khối lượng 0,131 gam; tinh thể rắn trong phong bì ký hiệu A2 đã sử dụng hết cho công tác giám định. Tất cả mẫu vật đã được niêm phong trả cho Cơ quan trưng cầu khi nhận Kết luận giám định).

Kết quả xét nghiệm chất ma túy ngày 10/04/2024, xác định T và V dương tính với chất ma túy loại Methamphetamine.

Về vật chứng đã thu giữ và xử lý:

  • - 01 (một) gói thuốc lá nhãn hiệu NELSON, bên trong có chứa 01 túi nylon màu trắng được hàn kín ba đầu, bên trong có chứa nhiều tinh thể rắn màu trắng nghi là ma túy, túi nylon được niêm phong trong phong bì thư màu trắng, ký hiệu là A1, có chữ ký của ông Bùi Thanh T5, Nguyễn Văn T, Phạm Thanh N, Nguyễn Văn Đ có đóng dấu tròn đỏ của Công an xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
  • - 01 (một) chai nhựa Sting có nắp màu vàng, bên trên nắp có 02 lỗ tròn, 01 lỗ được gắn 01 cái ống hút màu trắng, lỗ còn lại có gắn 01 cái nỏ thủy tinh có một đầu tròn, bên trong có tinh thể màu trắng nghi là ma túy. Nỏ thủy tinh được tháo ra, niêm phong trong phong bì thư màu trắng, ký hiệu là A2, có chữ ký của ông Bùi Thanh T5, Nguyễn Văn T, Phạm Thanh N và Nguyễn Văn Đ có đóng dấu tròn đỏ của Công an xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp;
  • - 01 (một) đoạn ống hút nhựa, màu trắng, đã qua sử dụng;
  • - 01(một) đoạn dao lam (lưỡi lam), màu bạc có chữ SUPER THIN BLADE đã qua sử dụng;
  • - 01 (một) quẹt gas có nước màu cam, phần đáy màu trắng, đã qua sử dụng.
  • - 01 (một) quẹt gas màu xanh trắng, có nắp màu vàng, hiệu Hoa Việt, đã qua sử dụng;

Quá trình điều tra bị cáo Nguyễn Văn T (Dồ) thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, phù hợp lời khai người làm chứng và bản kết luận giám định số 462/KL-KTHS ngày 12/04/2024 của Phòng K Công an tỉnh Đ, vật chứng thu giữ và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Tại Bản Cáo trạng số: 47/CT - VKSTM, ngày 24 tháng 7 năm 2024 của Viện kiểm sát huyện T, đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn T (Dồ) về tội “ Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 255 của Bộ luật hình sự và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa sơ thẩm:

Vị đại diện Viện kiểm sát huyện T thực hiện quyền công tố tại phiên tòa phát biểu quan điểm luận tội đã đưa ra những chứng cứ, lý lẽ kết tội đối với bị cáo. Sau khi phân tích hành vi phạm tội, căn cứ nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử:

  • + Về tội danh: Căn cứ khoản 1 Điều 255 và điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
  • + Về hình phạt: Áp dụng Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 255; điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T (Dồ) từ 02 năm đến 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “ Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và từ 01 (một) năm đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tháng tù về tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • + Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự đề nghị tịch thu tiêu hủy:
  • - 01 gói thuốc lá nhãn hiệu Nelson, đã qua sử dụng;
  • - 01 vỏ chai nhựa hiệu Sting, có nắp đậy màu vàng, bên trong có 02 lỗ tròn, một lỗ được gắn một đoạn ống hút màu trắng, đã qua sử dụng.
  • - 01 đoạn ống hút nhựa, màu trắng, đã qua sử dụng;
  • - 01 đoạn dao lam (lưỡi lam), màu bạc có chữ SUPER THIN BLADE đã qua sử dụng;
  • - 01 quẹt gas có nước màu cam, phần đáy màu trắng, đã qua sử dụng.
  • - 01 quẹt gas màu xanh trắng, có nắp màu vàng, hiệu Hoa Việt, đã qua sử dụng;

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Căn cứ vào các tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, lời khai của bị cáo, và những người tham gia tố tụng khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng:

Tại phiên tòa vắng mặt người làm chứng Lê Văn V. Xét thấy, anh V có lời khai trong hồ sơ vụ án, nên không gây trở ngại cho việc xét xử, vì vậy Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử theo quy định.

[2] Về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát huyện T, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Quá trình điều tra, chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện điều hợp pháp.

[3] Tại phiên tòa, bị cáo T khai: Vào ngày 09/4/2024, bị cáo T đi đến Bệnh viện H máu tại Thành phố Cần Thơ để thăm vợ là Nguyễn Thị Mai T3 đang điều trị bệnh. Tại khu vực bên ngoài bệnh viện, T gặp và mua tép ma túy của người tên T4 (không rõ họ tên, địa chỉ cụ thể) với giá 380.000 đồng mục đích để sử dụng. Ngày 10/04/2024, T từ Cần Thơ về phòng trọ. Đến khoảng 15 giờ 30 phút, T lấy ma túy cho vào bộ D1 để sử dụng. Phần ma tuý còn lại, bị can dùng quẹt gas hơ nóng hàn kín lại rồi cất giấu vào gói thuốc hiệu NELSON để dưới nền gạch. Lúc T đang sử dụng ma túy, Lê Văn V đến phòng rủ bị cáo T đi ăn. Lúc này, bị cáo T rủ V vào phòng cùng sử dụng ma tuý, thì V đồng ý. Vẹn lấy bộ dụng cụ bên trong có ma túy của bị cáo T sử dụng. Khi T và V đang sử dụng ma tuý thì bị lực lượng công an tiến hành kiểm tra và bắt quả tang thu giữ tại vị trí trước mặt dưới nền gạch nơi bị cáo T đang ngồi có 01 gói thuốc lá hiệu NELSON, bên trong gói thuốc phát hiện 01 túi nylon màu trắng được hàn kín 03 đầu bên trong có chứa chất rắn màu trắng, nghi vấn là ma túy được niêm phong ký hiệu A1, 01 nỏ thủy tinh có một đầu tròn được tháo ra từ bộ dụng cụ sử dụng ma túy tự chế, bên trong có tinh thể màu trắng nghi là ma túy, được niêm phong ký hiệu A2 và nhiều vật chứng có liên quan.

[4] Xét, lời khai của bị cáo phù hợp với kết luận giám định số 462/KL-KTHS ngày 12/4/2024 của Phòng K Công an tỉnh Đ kết luận: tinh thể rắn chứa trong 01 bịch nylon màu trắng được hàn kín ba đầu, được niêm phong trong phong bì ghi ký hiệu A1 nêu trên gửi giám định là chất ma túy, có khối lượng 0,154 gam, loại Methamphetamine; Tinh thể rắn chứa trong 01 nỏ thủy tinh có 01 đầu tròn, được niêm phong trong phong bì ghi ký hiệu A2 nêu trên gửi giám định là chất ma túy, có khối lượng 0,033 gam, loại Methamphetamine. (Hoàn trả đối tượng gửi giám định: Mẫu tinh thể rắn trong phong bì ghi ký hiệu A1 còn lại sau giám định, có khối lượng 0,131 gam; tinh thể rắn trong phong bì ký hiệu A2 đã sử dụng hết cho công tác giám định. Tất cả mẫu vật đã được niêm phong trả cho Cơ quan trưng cầu khi nhận Kết luận giám định).

[5] Do đó, Viện kiểm sát huyện T truy tố bị cáo Nguyễn Văn T phạm vào tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 255 Bộ luật hình sự và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự; là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 255, và điểm c, khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015 quy định như sau:

Tại khoản 1 Điều 255 Bộ luật Hình sự có quy định:

“Điều 255. Tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy

1. Người nào tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy dưới bất kỳ hình thức nào, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.”

Tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự quy định:

“Điều 249. Tội tàng trữ trái phép chất ma túy

1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

...

c/ Heroine, C, Methamphetamine, Amphaetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng 0,1 gam đến dưới 5 gam;"

[6] Xét, bị cáo là người đã thành niên, nhận thức được tác hại của chất ma túy đối với sức khỏe của con người, việc bị cáo tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và tàng trữ trái phép chất ma túy bị Nhà nước nghiêm cấm, nhưng bị cáo vẫn tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy có khối lượng 0,154 gam, loại Methamphetamine.

[7] Hành vi của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, thực hiện với lỗi cố ý, chẳng những xâm phạm trực tiếp đến những quy định của Nhà nước về quản lý các chất ma túy, mà còn làm ảnh hưởng đến tình hình trật tự trị an tại địa phương.Vì trên thực tế hiện nay, các chất ma túy là mầm móng, là nguồn phát sinh của nhiều loại tội phạm.

[8] Do đó, việc đưa bị cáo ra xét xử tại phiên tòa hôm nay là cần thiết, cần cách ly các bị cáo một thời gian nhất định, để các bị cáo có điều kiện học tập, cải tạo trở thành một công dân tốt, sống có ích cho xã hội. Đồng thời cũng nhằm để phòng ngừa chung trong toàn xã hội nói chung và địa phương huyện T nói riêng, do các tội phạm về ma túy đang có chiều hướng gia tăng.

[9] Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử xem xét tình tiết bị cáo thành khẩn khai báo theo điểm s, khoản 1 Điều 51 để giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt.

[10] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

Về hình phạt bổ sung: không đề nghị áp dụng, lý do bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, không có nghề nghiệp ổn định.

[11] Xét, đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tháp Mười là có căn cứ và phù hợp nên chấp nhận. Tuy nhiên, riêng về phần mức án phạt tù, Hội đồng xét xử sẽ xem xét toàn bộ tài liệu, chứng cứ, cũng như tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của bị cáo trong vụ án này để xem xét giải quyết theo quy định pháp luật.

[12] Về vật chứng: Đề nghị của Kiểm sát viên là đúng với quy định tại Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[13] Về nguồn gốc ma túy do không xác định được nhân thân người bán ma túy cho cho bị cáo T nên sẽ tiếp tục xem xét xử lý khi có căn cứ.

[14] Đối với anh Lê Văn V được bị cáo T rủ cùng sử dụng ma túy, và việc bị cáo T cất giấu ma túy trong gói thuốc là NELSON Vẹn không biết, Cơ quan Điều tra đã chuyển đến Công an huyện T đê nghị xử phạt vi phạm hành chính anh V theo quy định của pháp luật.

[15] Về án phí: án phí theo quy định tại Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Do đó, bị cáo phải chịu án phí.

[16] Về quyền kháng cáo: bị cáo, có quyền kháng cáo bản án này theo quy định tại Điều 331, 332 và 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ khoản 1 Điều 255, Điều 38, điểm s khoản 1, Điều 51 Bộ luật hình sự 2015.
    • - Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn T (D) phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
    • - Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn T (D) 02 (hai) năm tù.
  2. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, Điều 38, điểm s khoản 1, Điều 51 Bộ luật hình sự 2015.
    • - Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn T (D) phạm tội“Tàng trữ trái phép chất ma túy"
    • - Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn T (Dồ) 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù.
  3. Căn cứ khoản 1 Điều 55 Bộ luật hình sự: Tổng hợp hình phạt tù của hai tội buộc bị cáo Nguyễn Văn T (D) chấp hành là 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù, tính từ ngày tạm giữ là ngày 10/4/2024.
  4. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự đề nghị tịch thu tiêu hủy:
    • - 01 gói thuốc lá nhãn hiệu Nelson, đã qua sử dụng;
    • - 01 vỏ chai nhựa hiệu Sting, có nắp đậy, màu vàng, bên trong có 02 lỗ tròn, một lỗ được gắn một đoạn ống hút màu trắng, đã qua sử dụng.
    • - 01 đoạn ống hút nhựa, màu trắng, đã qua sử dụng;
    • - 01 đoạn dao lam (lưỡi lam), màu bạc có chữ SUPER THIN BLADE đã qua sử dụng;
    • - 01 quẹt gas có nước màu cam, phần đáy màu trắng, đã qua sử dụng.
    • - 01 quẹt gas màu xanh trắng, có nắp màu vàng, hiệu Hoa Việt, đã qua sử dụng;
  5. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; Bị cáo Nguyễn Văn T (D) phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
  6. Quyền kháng cáo:

    Bị cáo Nguyễn Văn T (Dồ) có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án tỉnh Đồng Tháp trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND Tỉnh;
  • - VKSND Tỉnh, Huyện;
  • - Sở Tư pháp Tỉnh;
  • - Nhà tạm giữ Công an Huyện;
  • - Chi cục THADS Huyện;
  • - Bị cáo, các đương sự;
  • - Lưu: HSVA, VP (Trung).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Thanh Tuấn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 47/2024/HS-ST ngày 22/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁP MƯỜI, TỈNH ĐỒNG THÁP về hình sự (tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và tàng trữ trái phép chất ma túy)

  • Số bản án: 47/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và Tàng trữ trái phép chất ma túy)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 22/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁP MƯỜI, TỈNH ĐỒNG THÁP
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy Nguyễn Văn Thanh
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger