Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ PLEIKU

TỈNH GIA LAI

Bản án số: 47/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 22-7-2024

“V/v Ly hôn, tranh chấp

nuôi con”

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PLEIKU, TỈNH GIA LAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hoài Thơ.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Bích Thủy;

2. Ông Bạch Quảng.

Thư ký phiên toà: Ông Đặng Đại Bình – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố

Pleiku, tỉnh Gia Lai.

Ngày 22 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 367/2024/TLST-HNGĐ ngày 12 tháng 6 năm 2024 về “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 68/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 10 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Đinh Thị Nguyệt M, sinh năm 1989. Địa chỉ: C N, tổ C, phường P, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Có mặt;

- Bị đơn: Anh Quách Quốc H, sinh năm 1987. Địa chỉ: C N, tổ C, phường P, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 05/6/2024; bản tự khai ngày 12/6/2024 và tại phiên tòa chị Đinh Thị Nguyệt M trình bày:

Chị và anh Quách Quốc H tự nguyện tìm hiểu, chung sống với nhau và đăng ký kết hôn tại UBND phường D, thành phố P, tỉnh Gia Lai vào ngày 27/4/2018. Quá trình chung sống hạnh phúc đến năm 2021 giữa chị và anh H đã có nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do chị và anh H không hợp với nhau về tính cách và quan điểm sống, không có tiếng nói chung, thường xuyên xảy ra cãi vã. Do mâu thuẫn căng thẳng chị M và anh H không còn tình cảm, quan tâm, chăm sóc nhau từ năm 2021 cho đến nay. Nay chị nhận thấy không còn tình cảm với anh H nữa nên chị yêu cầu ly hôn với anh Quách Quốc H.

Về con chung: Chị và anh Quách Quốc H có 01 con chung là cháu Quách Đinh Kim N, sinh ngày 24/5/2018. Ly hôn, chị yêu cầu được nuôi con chung.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị, vì chị đủ điều kiện kinh tế nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại Bản tự khai ngày 14 tháng 6 năm 2024, Đơn yêu cầu Tòa án giải quyết và xét xử vắng mặt ngày 14 tháng 6 năm 2024, Đơn yêu cầu Tòa án không tiếp tục hòa giải ngày 28 tháng 6 năm 2024 và Đơn yêu cầu xét xử vắng mặt ngày 19 tháng 7 năm 2024, bị đơn là anh Quách Quốc H trình bày:

Về hoàn cảnh, điều kiện kết hôn anh thống nhất với ý kiến của nguyên đơn là chị Đinh Thị Nguyệt M trình bày.

Về hôn nhân: Anh thừa nhận quá trình chung sống đến nay giữa anh và chị M đã phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống và thường xuyên cãi nhau. Nay anh nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống hôn nhân không còn hạnh phúc nên anh đồng ý ly hôn với chị M.

Về con chung: Anh và chị M có 01 con chung là cháu Quách Đinh Kim N, sinh ngày 24/5/2018. Ly hôn, anh đồng ý giao cháu Quách Đinh Kim N, sinh ngày 24/5/2018 cho chị M được trực tiếp nuôi dưỡng.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Anh không đồng ý cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị M.

Về tài sản chung và nợ chung: Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, căn cứ vào quá trình tranh tụng tại phiên tòa trên cở sở xem xét đầy đủ tòan diện các chứng cứ ý kiến của đương sự. Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Chị Đinh Thị Nguyệt M khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với anh Quách Quốc H. Đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình được quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng Dân sự nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 Bộ luật tố tụng Dân sự thì tranh chấp này thuộc thẩm quyển của Tòa án nhân dân cấp huyện vì bị đơn là anh Quách Quốc H có hộ khẩu thường trú tại thành phố P, tỉnh Gia Lai. Do vậy, căn cứ điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng Dân sự thì Tòa án nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai có thẩm quyền thụ lý, giải quyết yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Bị đơn anh Quách Quốc H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia tố tụng tại phiên tòa nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt, nên theo quy định tại khoản 1 Điều 227 của Bộ luật tố tụng Dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Đinh Thị Nguyệt M và anh Quách Quốc H tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn tại UBND phường D, thành phố P, tỉnh Gia Lai vào ngày 27/4/2018 nên quan hệ hôn nhân của chị M và anh H là hợp pháp.

Quá trình chung sống ban đầu hạnh phúc nhưng từ năm 2021 giữa chị M và anh H xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do chị M nhận thấy chị M và anh H không còn hòa hợp với nhau về tính cách và quan điểm sống. Do mâu thuẫn căng thẳng chị M và anh H không còn nói chuyện, quan tâm, chăm sóc nhau từ năm 2021 cho đến nay. Nay chị M nhận thấy không còn tình cảm với anh H nữa nên chị M yêu cầu ly hôn với anh Quách Quốc H.

[3] Xét thấy trong quá trình giải quyết vụ án, chị Đinh Thị Nguyệt M và anh Quách Quốc H đều thừa nhận vợ chồng đã phát sinh mâu thuẫn và hiện nay không còn tình cảm với nhau, cuộc sống hôn nhân không còn hạnh phúc. Quá trình hòa giải tại Tòa án và tại phiên tòa sơ thẩm chị Đinh Thị Nguyệt M vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện là được ly hôn anh Quách Quốc H. Tòa án cũng đã triệu tập anh H để tiến hành hòa giải cho hai vợ chồng đoàn tụ với nhau và để giải quyết vụ án nhưng anh H có đơn đề nghị Tòa án không tiếp tục hòa giải và không đến Tòa án để tham các phiên hòa giải, phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải và phiên tòa. Đồng thời, anh H cũng đã có bản tự khai trình bày ý kiến về việc đồng ý ly hôn với chị M. Như vậy, anh H và chị M đã không còn quan tâm đến nhau, tình cảm vợ chồng không còn cũng như không thể tiếp tục việc xây dựng, hàn gắn tổ ấm gia đình và đã thống nhất ly hôn.

Từ nhận định trên thấy rằng mâu thuẫn giữa hai vợ chồng đã làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do vậy, yêu cầu khởi kiện ly hôn với anh H của chị Đinh Thị Nguyệt M là có căn cứ, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[4] Về con chung: Chị Đinh Thị Nguyệt M và anh Quách Quốc H có 01 con chung là cháu Quách Đinh Kim N, sinh ngày 24/5/2018. Hiện cháu N đang sống cùng chị M. Xét thấy, chị M và anh H đều thống nhất giao con chung là cháu Quách Đinh Kim N cho chị M được trực tiếp nuôi dưỡng.

Do vậy, Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu của chị M phù hợp với quy định của pháp luật và phù hợp đến phát triển ổn định của con chung là cháu N nên giao con chung là cháu N cho chị M tiếp tục trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến khi con chung là cháu N đủ 18 tuổi có đầy đủ năng lực hành vi dân sự và có khả năng lao động tự nuôi sống bản thân mình.

[5] Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Chị Đinh Thị Nguyệt M không yêu cầu anh Quách Quốc H cấp dưỡng nuôi con chung là cháu Quách Đinh Kim N, sinh ngày 24/5/2018 cùng chị M, vì chị M đủ điều kiện kinh tế nuôi con, nên Hội đồng xét xử không đề cập.

[6] Về tài sản chung và nghĩa vụ chung: Chị Đinh Thị Nguyệt M và anh Quách Quốc H không yêu cầu giải quyết, nên Hội đồng xét xử không đề cập.

[7] Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Đinh Thị Nguyệt M là nguyên đơn yêu cầu ly hôn nên phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000đồng (ba trăm nghìn đồng).

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39, 144, 147, 227 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng Dân sự;

Căn cứ vào Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 và 84 Luật hôn nhân và gia đình;

Căn cứ vào khoản 5, khoản 6 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Đinh Thị Nguyệt M đối với anh Quách Quốc H.

1.Về hôn nhân: Cho chị Đinh Thị Nguyệt M được ly hôn anh Quách Quốc H.

2. Về con chung: Giao con chung là cháu Quách Đinh Kim N, sinh ngày 24/5/2018 cho chị Đinh Thị Nguyệt M trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến khi con chung là cháu Quách Đinh Kim N đủ 18 tuổi có đầy đủ năng lực hành vi dân sự và có khả năng lao động tự nuôi sống bản thân mình.

Người không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định của pháp luật, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con và việc cấp dưỡng nuôi con.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

3. Về án phí: Chị Đinh Thị Nguyệt M phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng), nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo Giấy thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí số 00001344194 ngày 12 tháng 6 năm 2024 của Công ty Cổ phần T1 (thanh toán trực tuyến qua Cổng dịch vụ công quốc gia) và Biên lai thu tiền số 0001577 ngày 12 tháng 6 năm 2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai.

4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn chị Đinh Thị Nguyệt M có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị đơn anh Quách Quốc H vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc được niêm yết công khai.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Gia Lai;
  • - VKSND TP. Pleiku;
  • - Chi cục THADS TP. Pleiku;
  • - Các đương sự;
  • - UBND phường Diên Hồng,
  • thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai
  • (GCNKH số: 35/2018 ngày 27/4/2018);
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Hoài Thơ

5

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 47/2024/HNGĐ-ST ngày 22/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PLEIKU, TỈNH GIA LAI về ly hôn, tranh chấp nuôi con

  • Số bản án: 47/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 22/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PLEIKU, TỈNH GIA LAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger