TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIAO THUỶ TỈNH NAM ĐỊNH | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 47/2024/HS-ST Ngày: 22-5-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIAO THUỶ, TỈNH NAM ĐỊNH
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Ông Ngọc Lễ.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Trần Hà Bắc;
- Ông Tống Thái Dương – Giáo viên trường Trung học cơ sở Hoành Sơn.
Thư ký phiên toà: Bà Đặng Thị Ngoan – Thư ký Toà án nhân dân huyện
Giao Thuỷ, tỉnh Nam Định.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Giao Thuỷ, tỉnh Nam Định
tham gia phiên toà: Bà Đào Thị Yến – Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Giao Thuỷ, tỉnh Nam Định, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 45/2024/TLST-HS ngày 19 tháng 4 năm 2024, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 42/2024/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 5 năm 2024, đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Văn B, tên gọi khác: Không. Giới tính: Nam; sinh ngày 19-11-2007. Nơi sinh: Huyện G, tỉnh Nam Định; nơi đăng ký HKTT và chỗ ở hiện nay: Xóm T, xã G, huyện G, tỉnh Nam Định. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Trình độ học vấn: 8/12. Con ông: Nguyễn Văn C (Đã chết) và bà Lưu Thị Huyền . Tiền án: Không; tiền sự: Ngày 20-11-2023 bị Công an huyện G xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Gây rối trật tự công cộng”. Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 08-02-2024 đến nay. Hiện bị can đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện G “có mặt”.
Người đại diện hợp pháp cho bị cáo: Bà Lưu Thị H; địa chỉ: Xóm T, xã G, huyện G, tỉnh Nam Định “có mặt”.
Người bào chữa cho bị cáo: Bà Trần Thị T - Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh N “có mặt”.
Bị hại:
1. Anh Trần Thanh T1, sinh ngày 10-8-2006 “vắng mặt”
Người đại diện hợp pháp cho anh Trần Thanh T1 là ông Trần Thái D “vắng mặt”; đều có địa chỉ: Xóm T, xã G, huyện G, tỉnh Nam Định.
2. Anh Trần Viết T2, sinh ngày 07-02-2007 “có mặt”
Người đại diện hợp pháp cho anh Trần Viết T2 là bà Ngụy Thị T3 “có mặt”; đều có địa chỉ: Xóm T, xã G, huyện G, tỉnh Nam Định.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Văn T4, sinh năm 1980 “vắng mặt”; địa chỉ: Xóm A, xã H, huyện G, tỉnh Nam Định.
Người làm chứng:
- Anh Trần Đức D1 vắng mặt‘“”
- Anh M Lê Đình L “vắng mặt”
- Anh Trần Sinh H1 “vắng mặt”
- Anh Cao Trần T5 “vắng mặt”
- Anh Đinh Tiến S “vắng mặt”
- Anh Nguyễn Ngọc T6 “vắng mặt”
- Anh Phạm Anh T7 “vắng mặt”
- Anh Vũ Minh Q “có mặt”
- Anh Lều Hữu Q1 “vắng mặt”.
Người đại diện hợp pháp cho anh L là bà Lê Thị Đ “vắng mặt”
Người đại diện hợp pháp cho anh H1 là ông Trần Văn N “vắng mặt”
Người đại diện hợp pháp cho anh S là ông Đinh Xuân C1 “vắng mặt”
Người đại diện hợp pháp cho anh T7 là bà Trần Thị H2 “vắng mặt”
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 19 giờ 30 ngày 06/02/2024, Nguyễn Văn B cùng Trần Đức D1, Đinh Tiến S, Mai Lê Đình L1, Cao Trần T5, Trần Sinh H1, và một số người khác đến nhà anh em Nguyễn Ngọc T6 và Nguyễn Bá T8, ở xóm A, xã H, huyện G để ăn tất niên. Đến khoảng 21h cùng ngày, một số người ăn xong đã ra về, một số người vẫn tiếp tục uống rượu. Khi B mời rượu cả mâm thì giữa B và một người bạn của T8 lời qua tiếng lại, có người (không xác định được là ai) ném bát về phía Bắc nhưng B tránh được, B liền cầm bát ăn cơm ném lại nhưng không trúng. Sau đó, giữa nhóm của B và nhóm của người trên xảy ra xô xát và được mọi người can ngăn (trong đó có anh Lều Hữu Q1). Khi vào can ngăn, anh Q1 bị một người (không rõ là ai) đập 01 bát ăn cơm vào đầu. Sau đó anh Q1 đi ra ngoài thì thấy ngón trỏ bàn tay trái của mình bị thương, chảy nhiều máu. Trong quá trình xô xát, có một đối tượng (chưa xác định được là ai) dùng 01 con dao dạng dao tự chế chém 01 nhát vào lưng H1 nhưng H1 không bị thương tích gì chỉ bị ngã ra đất. Thấy H1 bị chém, D1 chạy vào trong bếp nhà T6 lấy 01 con dao pha dài 38 cm, bản rộng nhất 08 cm chém 01 nhát về phía anh Trần Nhật Quang M1 trúng vào vùng lưng bên trái anh M1 làm rách da khoảng 02 cm. Lúc này, có người đứng trên hiên nhà T6 ném bát về phía nhóm của B. B, H1, D1, T5 và S dùng bát ném lại, B nhặt 01 con dao phay dài khoảng 35,5cm, nắm dao bằng gỗ dài khoảng 12cm, bản rộng nhất 06cm ở sân nhà T6 rồi B, H1, S, D1 đi vào trong nhà T6. Thấy cửa phòng ngủ đóng, B dùng dao chém nhiều phát vào cửa, H1 cầm 02 cốc nước ở phòng khách ném vào kính cửa gió phía trên làm kính bị vỡ nhưng không mở được cửa nên B, H1, S, D1 đi ra ngoài. Sau đó, một mình B quay lại vào trong nhà T6, đến phòng ngủ thứ 3 cạnh phòng bếp B mở được cửa vào phòng thì thấy có anh Vũ Hoàng P và anh Trần Thanh T1, đang ở trong phòng. Thấy B, anh P liền chạy ra ngoài, B hỏi anh T1 “Mày đúng không”, anh T1 chưa kịp trả lời thì B liền vung dao từ trên xuống, chém trúng vào cánh tay trái anh T1 03 - 04 nhát. Lúc này anh M Lê Đình L1 vào ôm Bắc can ngăn, anh Vũ Minh Q kéo B ra ngoài. B cầm dao đi ra cổng nhà T6 thì gặp anh Phạm A T5 và anh Trần Viết T2, đi một xe máy đến cổng nhà T6. Bắc vung dao chém trúng đầu xe máy của anh Phạm Anh T7, anh T7 nhảy xuống sông bỏ chạy, B tiếp tục vung dao chém 01 nhát trúng đùi phải anh Trần Viết T2 làm rách da cơ dài khoảng 5cm, anh Trần Viết T2 cũng nhảy xuống sông bỏ chạy. Bắc không đuổi theo mà lên xe máy do Cao Trần T5 điều khiển bỏ đi. Anh Trần Thanh T1, anh Trần Viết T2 và anh Lều Hữu Q1 đã được người thân đưa đi điều trị tại Trung tâm Y tế huyện G, Bệnh viện Đa khoa tỉnh N, Bệnh viện V, Bệnh viện Đa khoa tỉnh T.
Ngày 07/02/2024 và ngày 13/02/2024, gia đình anh Trần Thanh T1 và anh Trần Viết T2 có đơn yêu cầu giải quyết vụ việc theo quy định của pháp luật; anh Lều Hữu Q1 có đơn đề nghị xác định đối tượng gây thương tích cho mình và xử lý vụ việc theo quy định của pháp luật.
Cơ quan cảnh sát điều tra (CSĐT) Công an huyện G đã triệu tập Nguyễn Văn B đến làm việc, B đã thừa nhận hành vi dùng dao gây thương tích cho anh Trần Thanh T1 và Trần Viết T2.
Quá trình điều tra, Cơ quan CSĐT Công an huyện G thu giữ tại nhà anh Nguyễn Văn T4, trú tại xóm A, xã H, huyện G 01 con dao phay dài 35,5cm, bản rộng nhất 06cm; 01 con dao pha chiều dài 38cm, bản rộng nhất 08cm; thu giữ một số mảnh vỡ không rõ hình gồm nhiều loại mảnh bát, đĩa, chén cốc, đũa gãy; một số mảnh thuỷ tinh kính, thạch cao, cốc chén vỡ không xác định hình dạng; thu giữ 02 thẻ nhớ của 02 camera ở trước nhà và trong phòng khách nhà anh T4.
Ngày 16/02/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện G ra Quyết định trưng cầu giám định đối với thương tích của anh Trần Thanh T1 và anh Trần Viết T2.
Tại bản kết luận giám định số 58/KLTTCT-TTGDDYK&PY ngày 26/3/2024 của Trung tâm giám định y khoa và pháp y – Sở y tế tỉnh H kết luận thương tích của anh Trần Thanh T1: tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Trần Thanh T1 tại thời điểm giám định là 13% (mười ba phần trăm).
Tại bản kết luận giám định số 59/KLTTCT-TTGDDYK&PY ngày 26/3/2024 của Trung tâm giám định y khoa và pháp y – Sở y tế tỉnh H kết luận thương tích của anh Trần Viết T2: tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Trần Viết T2 tại thời điểm giám định là 02% (hai phần trăm).
Tại bản kết luận giám định tổn thương cơ thể số 60/KLTTCT-TTGDDYK&PY ngày 26/3/2024 của Trung tâm giám định y khoa và pháp y – Sở y tế tỉnh H kết luận thương tích của anh Lều Hữu Q1: tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Lều Hữu Q1 tại thời điểm giám định là 02% (hai phần trăm).
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 04/KL ngày 07/3/2024 của Hội đồng định giá tài sản huyện G thì kết quả định giá thiệt hại về tài sản của gia đình ông Nguyễn Văn T4 do hành vi của Nguyễn Văn B và các đối tượng khác gây ra ngày 06/02/2024 như sau:
- 15 chiếc bát ăn cơm, không rõ nhãn hiệu, đã qua sử dụng. Giá thị trường của loại bát ăn cơm mới là 90.000 đồng/ 10 chiếc (tương đương 9.000 đồng/chiếc), bát ăn cơm bị vỡ trong vụ án còn lại 80%. Thành tiền: 15 x 9.000 đồng x 80% = 108.000 đồng.
- 10 ly uống rượu, không rõ nhãn hiệu, đã qua sử dụng. Giá thị trường của loại ly uống rượu là 20.000 đồng/10 chiếc (tương đương 2.000 đồng/ chiếc), ly uống rượu bị vỡ trong vụ án còn lại 80%. T9 tiền: 10 x 2.000 đồng x 80% = 16.000 đồng.
- 01 bộ ấm chén uống nước, không rõ nhãn hiệu, đã qua sử dụng. Giá thị trường của bộ Á chén là 200.000 đồng/01 bộ. Bộ ấm chén bị vỡ trong vụ án còn lại 80%. Thành tiền: 1 x 200.000 đồng x 80% = 160.000 đồng.
- 02 tấm kính, loại kính trắng, dày 0,5 cm, có cùng kích thước (36 x 40) cm, đã qua sử dụng. Giá thị trường của cả 02 tấm kính có kích thước như trên là 45.000 đồng. Mà 02 tấm kính trong vụ án còn lại 80%. Thành tiền: 45.000 đồng x 80% = 36.000 đồng.
- 01 cánh cửa phòng ngủ, kích thước (82 x 216) cm, loại gỗ lim Nam Phi, đã qua sử dụng. Giá thị trường của cánh cửa trên khi làm mới và hoàn thiện là 5.000.000 đồng/01 cánh cửa. Mà cánh cửa trong vụ án bị hư hỏng còn lại 80%. Thành tiền: 5.000.000 đồng x 80% = 4.000.000 đồng. Thiệt hại về việc dùng dao chém vào cánh cửa là 20% giá trị cánh cửa. Thành tiền: 20% x 4.000.000 đồng = 800.000 đồng.
Tổng cộng thiệt hại = 1.120.000 đồng.
Quá trình điều tra, anh Trần Viết T2 và gia đình không yêu cầu Nguyễn Văn B bồi thường, anh Trần Thanh T1 và gia đình yêu cầu Nguyễn Văn B bồi thường số tiền 20.600.000đ chi phí điều trị, thuốc men, ông Nguyễn Văn T4 yêu cầu Nguyễn Văn B bồi thường chi phí thay mới cánh cửa phòng ngủ do B dùng dao chém.
Tại bản cáo trạng số 46/CT-VKS-GT ngày 19-4-2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Giao Thuỷ đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn B về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 điều 134 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Giao Thuỷ vẫn giữ nguyên bản cáo trạng truy tố bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn B phạm tội “Cố ý gây thương tích”; căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 91, Điều 101 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo B tù 02 năm đến 02 năm 03 tháng tù. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ các Điều 584, 585, 586, 590 Bộ luật dân sự; Nghị quyết số 02/2022/NQ-HĐTP ngày 06/9/2022 của Hội đồng Thẩm phán toà án nhân dân tối cao, buộc bà Lưu Thị H phải có trách nhiệm bồi thường cho ông Trần Thái D các khoản chi phí điều trị thương tích cho anh T1, tổng cộng 20.600.000 đồng và bồi thường cho ông Nguyễn Văn T4 số tiền 800.000 đồng thiệt hại cánh cửa. Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu cho tiêu huỷ 02 con dao và một số mảnh vỡ bát đĩa, cốc, chén...cho tiêu huỷ.
Người bào chữa cho bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự cho bị cáo hưởng mức hình phạt thấp nhất mà Đại diện Viên kiểm sát đề nghị.
Bị cáo không bào chữa, không tranh luận gì, nhất trí với đề nghị của người bào chữa, người đại diện hợp pháp; lời nói sau cùng bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Bị hại Trần Viết T2 và người đại diện hợp pháp cho bị hại đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện G, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện G, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố: Đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về tội danh và điều luật áp dụng: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại giai đoạn điều tra, phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 21 giờ 30 phút ngày 06/02/2024, tại nhà ông Nguyễn Văn T4 ở xóm A, xã H, huyện G, tỉnh Nam Định, vì mâu thuẫn trong quá trình uống rượu tất niên, Nguyễn Văn B đã sử dụng 01 con dao phay bằng kim loại, dài 35,5cm, bản rộng nhất 06cm (là hung khí nguy hiểm) chém vào cánh tay trái anh Trần Thanh T1 gây tỷ lệ thương tích 13% và chém vào đùi phải anh Trần Viết T2 gây tỷ lệ thương tích 02%. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý. Do đó hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội "Cố ý gây thương tích". Viện kiểm sát nhân dân huyện Giao Thủy đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn B về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ pháp luật.
[3]Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Nguyễn Văn B có tiền sự ngày 20-11-2023 bị Công an huyện G xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Gây rối trật tự công cộng” nên là người có nhân thân xấu; bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định của Bộ luật hình sự; bị cáo thành khẩn khai báo, nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
[4] Về hình phạt chính: Căn cứ vào tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, hình phạt quy định tại điểm d khoản 2 Điều 134 và Điều 91, Điều 101 của Bộ luật hình sự quy định nguyên tắc xử lý đối với người dưới 18 tuổi phạm tội, Hội đồng xét xử thấy cần xử phạt bị cáo bằng hình phạt tù có thời hạn, đủ tác dụng cải tạo bị cáo thành người có ích cho gia đình và xã hội đồng thời răn đe, giáo dục, phòng ngừa chung.
[5] Về trách nhiệm dân sự: Ông Trần Thái D là bố bị hại Trần Thanh T1 yêu cầu bà Lưu Thị H là mẹ bị cáo B phải bồi thường các khoản chi phí điều trị thương tích cho Trần Thanh T1 và nộp các tài liệu chứng cứ gồm; Phiếu chỉ định ngày 06-02-2024 số tiền 196.200 đồng, phiếu thu ngày 07-02-2024 số tiền 292.500 đồng của Bệnh viên đa khoa tỉnh N; hoá đơn ngày 21-02-2024 số tiền 10.992.000 đồng, phiếu thu ngày 07-02-2024 số tiền 736.530 đồng, phiếu thu ngày 09-02-2024 số tiền 3.341.000 đồng của Bệnh viện H3; tổng 15.558.230 đồng, các khoản chi phí khác; tổng cộng 20.600.000 đồng. Xét thấy các khoản chi phí điều trị trên là phù hợp cần được chấp nhận. Căn cú cú Điều 584, 585, 586 Bộ luật dân sự, buộc bà Lưu Thị H phải có trách nhiệm bồi thường cho ông Trần Thái D số tiền 20.600.000 đồng. Đối với gia đình ông Nguyễn Văn T4 bị thiệt hại một số bát, đĩa, cốc, chén, kính và một cánh cửa, ông T4 chỉ yêu cầu bồi thường thiệt hại do cánh cửa bị hỏng. Xét thấy bị cáo B là người trực tiếp làm hỏng cánh cửa nhà ông T4, theo định giá chiếc cánh cửa có giá 800.000 đồng, nay buộc bà H phải có trách nhiệm bồi thường số tiền 800.000 đồng cho ông T4. Đối với bị hại Trần Viết T2, bản thân anh T2 và gia đình không yêu cầu bồi thường nên không xem xét.
[6] Đối với Trần Sinh H1 bị một đối tượng (không xác định được là ai) chém vào lưng tuy nhiên không gây thương gì, bản thân H1 không đề nghị gì nên không xem xét.
Đối với anh Trần Nhật Quang M1, quá trình điều tra xác định anh M1 bị Trần Đức D1 dùng dao chém vào lưng gây thương tích rách da cơ khoảng 02 cm, tuy nhiên anh M1 từ chối giám định thương tích và không đề nghị xử lý về hình sự đối với Trần Đức D1. Công an huyên G đã xử phạt vi phạm hành chính đối với Trần Đức D1 là phù hợp.
Đối với Nguyễn Văn B; Trần Đức D1, Cao Trần T5, Trần Sinh H1 và Đinh Tiến S có hành vi chém cửa, ném vỡ bát, cốc, chén nhà ông Nguyễn Văn T4, tuy nhiên thiệt hại về tài sản chưa đến mức xử lý hình sự, Công an huyện G đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với B, D1, T5, H1, S là phù hợp.
Đối với anh Lều Hữu Q1, quá trình điều tra xác định trong lúc can ngăn các đối tượng xô xát tại nhà anh Nguyễn Văn T4, anh Q1 bị thương tích 02%, tuy nhiên không xác định được anh Q1 bị người khác gây thương tích hay bản thân anh Q1 tự tác động với vật sắc gây ra thương tích. Anh Q1 không đề nghị gì về pháp luật, tuy nhiên anh Q1 yêu cầu đối tượng gây thương tích cho mình bồi thường số tiền 10.000.000đ. Cơ quan CSĐT Công an huyện G đã tách ra để điều tra và có biện pháp xử lý sau là phù hợp.
[7] Về xử lý vật chứng: Một số mảnh vỡ bát, đĩa, cốc, chén, mảnh kính... và 2 con dao (gia đình ông T4 không lấy lại) nay tịch thu cho tiêu hủy.
[8] Về án phí, quyền kháng cáo: Bị cáo Nguyễn Văn B bị kết án nên phải nộp án phí hình sự sơ thẩm; bị cáo, bị hại, đại diện hợp pháp cho bị cáo, bị hại, người bào chữa cho bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1.Về tội danh và hình phạt: Căn cứ vào điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 91, Điều 101 của Bộ luật Hình sự; tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn B phạm tội “Cố ý gây thương tích”; xử phạt bị cáo Nguyễn Văn B 02 năm tù; thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 08-02-2024.
2. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 584, 585, 586 Bộ luật dân sự; buộc bà Lưu Thị H phải bồi thường cho ông Trần Thái D số tiền 20.600.000 đồng (Hai mươi triệu, sáu trăm nghìn đồng), bồi thường cho ông Nguyễn Văn T4 số tiền 800.000 đồng (Tám trăm nghìn đồng).
Sau khi bản án có hiệu lực pháp luật người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự.
3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự; tịch thu tiêu hủy toàn bộ số mảnh vỡ không rõ hình dạng gồm nhiều loại bát, đĩa, chén, cốc, kính, thạch cao và 02 con dao (được ghi chi tiết tại Biên bản giao nhận vật chứng số: 63 ngày 22-4-2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Giao Thủy).
4. Về án phí: Căn cứ vào Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sụ; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Nguyễn Văn B phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về kháng cáo: Căn cứ các điều 331 và 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự, bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị cáo, người bào chữa, bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, người vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.
Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Ông Ngọc Lễ |
Bản án số 47/2024/HS-ST ngày 22/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIAO THUỶ, TỈNH NAM ĐỊNH về cố ý gây thương tích
- Số bản án: 47/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 22/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIAO THUỶ, TỈNH NAM ĐỊNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Xử Nguyễn Văn Bắc 2 năm tù
