Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ NGHI SƠN

TỈNH THANH HÓA

Bản án số: 47/2024/HS-ST

Ngày 22-04-2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN, TỈNH THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thanh Huyền

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Văn Dương
  2. Ông Bùi Quốc Kiên

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Vân Ánh - Thư ký Tòa án nhân dân Thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Bà Hà Thị Hường - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 04 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân, Thị xã N, tỉnh Thanh Hóa. Xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 30/2024/TLST-HS ngày 21 tháng 03 năm 2024, Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 52/2024/QĐXXST-HS ngày 10/04/2024, đối với bị cáo:

Thạch Ngọc T - Sinh năm 1959

Nơi cư trú: Thôn S, xã X, huyện N, tỉnh Thanh Hóa. Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 07/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam. Con ông Thạch Ngọc T1 (đã chết) và bà Lưu Thị T2 (đã chết). Có 04 con (con nhỏ nhất sinh năm 1991, con lớn nhất sinh năm 1985).

Tiền án: 03

- Ngày 28/4/2011, bị TAND huyện Như Xuân, tỉnh Thanh Hóa xử phạt 24 tháng tù về tội mua bán trái phép chất ma tuý theo Bản án số 08/2011/HSST. Ngày 15/9/2012. Ngày 22/6/2011 đã nộp án phí và nộp đủ truy thu. Chưa được xóa án tích.

- Ngày 23/8/2013, bị TAND huyện Nghĩa Đàn, tỉnh Nghệ An xử phạt 42 tháng tù về tội tàng trữ trái phép chất ma túy theo Bản án số 64/2013/HSST. Ngày 28/7/2016, T chấp hành xong án phạt tù. Đã nộp án phí ngày 14/4/2014. Chưa được xóa án tích.

- Ngày 06/3/2018, bị TAND huyện Như Xuân, tỉnh Thanh Hóa xử phạt 05 năm 09 tháng tù về tội tàng trữ trái phép chất ma túy theo Bản án số 05/2018/HSST. Ngày 13/10/2022, T chấp hành xong án phạt tù. Chưa được xóa án tích.

Tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 19/12/2023 đến ngày 25/12/2023 chuyển tạm giam cho đến nay. Hiện bị can đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thị xã N.

- Những người làm chứng:

  1. Đỗ Đức K, sinh năm 1986, địa chỉ: Thôn T, xã P, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa. (vắng mặt)
  2. Lê Huy N, sinh năm 1973, địa chỉ: Thôn T, xã P, Thị xã N, tỉnh Thanh Hóa. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 17 giờ 00 phút ngày 19/12/2023, Tổ công tác Công an thị xã N phối hợp với Công an xã P tuần tra làm nhiệm vụ trên tuyến đường N - B, thuộc địa phận thôn T, xã P, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa đã tiến hành kiểm tra hành chính đối với Thạch Ngọc T sinh năm 1959, trú tại thôn S, xã X, huyện N, tỉnh Thanh Hóa. Quá trình kiểm tra phát hiện bên trong túi quần phía trước bên trái T đang mặc có 02 túi ni lông màu trắng, một túi bên trong có 06 gói giấy màu trắng, loại giấy có dòng kẻ, một túi bên trong có 02 gói giấy màu trắng loại giấy có dòng kẻ ô ly, bên trong mỗi gói giấy đều có chứa chất bột màu trắng ngà dạng cục vụn. T khai nhận chất bột màu trắng ngà dạng cục vụn có trong các gói giấy này là ma tuý, loại Heroine, T mang đến thị xã N để bán cho một người nam giới sử dụng số điện thoại 0359.331.xxx đã liên lạc đặt mua ma tuý của T trước đó. Tổ công tác đã phối hợp với cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã N lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Thạch Ngọc T, thu giữ, niêm phong số ma tuý ký hiệu T1; thu giữ điện thoại di động, xe mô tô kèm theo đăng ký xe, giấy phép lái xe và 02 tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng của T để phục vụ công tác điều tra.

Tại bản Kết luận giám định số 4611/KL-KTHS ngày 22/12/2023 của Phòng KTHS Công an tỉnh T, kết luận:

- Chất bột màu trắng ngà dạng cục vụn đựng trong 06 gói giấy màu trắng, loại giấy có dòng kẻ của phong bì niêm phong ký hiệu T1 gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 0,392g, loại Heroine.

- Chất bột màu trắng ngà dạng cục vụn đựng trong 02 gói giấy của phong bì niêm phong ký hiệu T1 gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 0,099g, loại Heroine.

Tại kết luận giám định số: 530/KL-KTHS ngày 05/02/2024 của Phòng KTHS Công an tỉnh T, kết luận:

- 02 tờ tiền Việt Nam mệnh giá 1.000.000đ có các số seri: OR 16370006; FU 18385665 (Mẫu cần giám định) là tiền thật.

Về nguồn gốc ma túy, Thạch Ngọc T khai số ma túy trên Thiên mua của Nguyễn Thế Đ, sinh năm 1961, trú tại làng L, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An với giá 3.000.000 đồng; quá trình giao dịch mua bán ma túy, Đ sử dụng số điện thoại 0397.074.xxx và 0965114229. Cơ quan điều tra đã tiến hành làm việc với Nguyễn Thế Đ, tuy nhiên Đ không thừa nhận việc bán ma túy cho T. Xác minh các số điện thoại trên, Đ khai đã từng đăng ký và sử dụng số điện thoại 0965.114.xxx nhưng sau đó Đ đã bán cả điện thoại và sim cho người khác (không nhớ bán cho ai); đối với số điện thoại 0397.074.xxx, Đ khai không sử dụng và không biết ai là người sử dụng số điện thoại này. Xác minh số điện thoại 0397.074.xxx, xác định chủ thuê bao là Lộc Văn P, sinh năm 1963, trú tại xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An. Tuy nhiên ông P đã chết ngày 04/6/2022. Cơ quan điều tra cũng đã tiến hành cho Thạnh Ngọc T3 đối chất với Nguyễn Thế Đ nhưng vẫn không có kết quả. Ngoài lời khai của T3, thì không còn có tài liệu, chứng cứ nào khác chứng minh Nguyễn Thế Đ đã bán trái phép chất ma tuý cho Thạch Ngọc T. Vì vậy, không có căn cứ để xử lý.

Đối với người liên hệ mua ma túy của Thạch Ngọc T, T khai chỉ biết là người ở xã P, thị xã N, có sử dụng số điện thoại 0359.331.xxx. Người mua ma túy chuyển khoản tiền mua ma túy cho T từ số tài khoản 0348555903, Ngân hàng M mang tên Bùi Thị T4, Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh, sao kê tài khoản ngân hàng của Thạch Ngọc T, xác định tài khoản đã chuyển số tiền 1.000.000 đồng cho T là của chị Bùi Thị T4, sinh năm 1980, trú tại thôn T, xã P, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa. Làm việc với Cơ quan điều tra chị T4 trình bày, bản thân kinh doanh hàng tạp hóa ở xã P nên khi có người đưa tiền mặt, nhờ chuyển khoản thì chị T4 chuyển khoản hộ, chị không biết người nhờ mình chuyển tiền là ai. Tiến hành rà soát Camera tại khu vực chợ P2, là nơi các đối tượng hẹn gặp nhau mua bán ma tuý; khu vực quán T8 là nơi đối tượng đến nhờ chuyển tiền vào tài khoản nhưng không phát hiện được đối tượng nghi vấn. Xác minh số điện thoại 0359.331.xxx, xác định chủ thuê bao là bà Nguyễn Thị P1, sinh năm 1944, trú tại thôn B, xã Q, huyện Q, Thanh Hóa. Làm việc với Cơ quan điều tra, bà P1 khai bản thân không đăng ký sử dụng và cũng không biết ai sử dụng số điện thoại này. Vì vậy, Cơ quan điều tra chưa xác định được đối tượng đã liên hệ mua ma túy của Thạch Ngọc T để xử lý theo quy định.

Đối với chị Bùi Thị T4 là người chuyển tiền hộ cho người mua ma túy, quá trình điều tra xác định chị T4 không biết mục đích chuyển tiền của đối tượng nên hành vi của chị T4 không cấu thành tội phạm.

Ngoài hành vi tàng trữ ma túy để bán trái phép bị bắt quả tang nêu trên, thì Thạch Ngọc T còn khai nhận sau khi mua được ma tuý, T đã vào một bãi đất trống ven đường lấy ra một ít sử dụng (kết quả xét nghiệm ma túy trong cơ thể dương tính với H. Cơ quan điều tra đã chuyển hồ sơ đề nghị Công an thị xã N xử phạt vi phạm hành chính đối với Thạch Ngọc T về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy và hành vi điều khiển xe mô tô tham gia giao thông mà trong cơ thể có chất ma túy theo quy định của pháp luật.

Tại bản Cáo trạng số 58/CT-VKSNS ngày 20/03/2024 của Viện kiểm sát nhân dân Thị xã Nghi Sơn truy tố bị cáo Thạch Ngọc T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm q khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thị xã Nghi Sơn giữ nguyên quyết định truy tố về tội danh như Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Áp dụng điểm q khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt Thạch Ngọc T từ 7 năm 06 tháng đến 08 năm 06 tháng, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 19/12/2023. Không áp dụng hình phạt tiền bổ sung đối với bị cáo.

- Về vật chứng: Đề nghị: Tịch thu tiêu huỷ toàn bộ ma tuý là vật chứng sau giám định. Tịch thu phát mại sung quỹ nhà nước chiếc điện thoại di động S A0 là công cụ phương tiện để bị cáo liên lạc mua bán ma túy. Tịch thu phát mại sung quỹ nhà nước chiếc xe mô tô nhãn hiệu Fanlim BKS 37K8-8330 là của bị cáo sử dụng là phương tiện để đi bán ma túy. Tịch thu sung quỹ nhà nước số tiền 1.000.000đ (một triệu đồng) là tiền người mua ma túy đã chuyển vào tài khoản ngân hàng của bị cáo, bị cáo rút ra mang theo người.

Phần tranh luận: Bị cáo không có ý kiến tự bào chữa và tranh luận.

Lời nói sau cùng: Bị cáo nhận tội, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi và quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Thị xã N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Thị xã Nghi Sơn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục và tuân thủ đúng quy định của pháp luật. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo:

Tại phiên toà, bị cáo khai nhận:

Ngày 19/12/2023, bị cáo Thạch Ngọc T mang theo 08 gói ma túy, loại Heroine có tổng khối lượng là 0,491 gam đến địa bàn thị xã N để bán cho một người nam giới (chưa xác định được danh tính, địa chỉ) đã đặt mua trước đó, thì bị Công an thị xã N phát hiện, bắt quả tang.

Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, phù hợp với kết luận giám định của Phòng K1 Công an Tỉnh T và các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập có trong hồ sơ vụ án; Phù hợp với kết quả xét hỏi và tranh tụng tại phiên tòa.

Mặc dù khối lượng ma túy Thạch Ngọc T tàng trữ để bán trái phép dưới 05 gam Heroine, nhưng lần phạm tội này của T thuộc trường hợp “Tái phạm nguy hiểm” nên T phải chịu tình tiết định khung tăng nặng theo quy định điểm q khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự. Quyết định truy tố của VKSND Thị xã Nghi Sơn và luận tội của Đại diện Viện kiểm sát là hoàn toàn có căn cứ pháp luật.

[3] Về tính chất và mức độ nghiêm trọng của tội phạm:

Hành vi mua bán trái phép ma túy của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý chất ma túy của Nhà nước và gây mất trật tự trị an xã hội.

[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo:

Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Tuy nhiên, bị cáo có nhân thân xấu, đã nhiều lần bị tòa án xét xử về tội mua bán trái phép chất ma túy, tàng trữ trái phép chất ma túy nhưng không lấy đó làm bài học cho bản thân, mà vẫn tiếp tục phạm tội. Lần phạm tội này thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm là tình tiết định khung tăng nặng của tội phạm. Vì vậy cần xử lý nghiêm tương xứng với tính chất mức độ phạm tội để răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo thành khẩn khai báo là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật, yên tâm cải tạo thành công dân tốt.

[5] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự qui định "Người phạm tội còn có thể phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản". Tuy nhiên, xét thấy bị cáo là lao động tự do, đã cao tuổi, không có thu nhập ổn định, do đó Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[6] Về xử lý vật chứng:

  • - Toàn bộ ma tuý là vật chứng sau giám định là vật nhà nước cấm tàng trữ lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy.
  • - Chiếc điện thoại di động S A0 là công cụ phương tiện để bị cáo liên lạc mua bán ma túy nên cần tịch thu phát mại sung quỹ nhà nước.
  • - Chiếc xe mô tô nhãn hiệu Fanlim BKS 37K8-8330 là của bị cáo sử dụng làm phương tiện để đi bán ma túy nên cần tịch thu phát mại sung quỹ nhà nước.
  • - Số tiền 1.000.000đ (một triệu đồng) công an thu giữ của bị cáo là tiền người mua ma túy đã chuyển vào tài khoản ngân hàng của bị cáo, bị cáo rút ra mang theo người, vì vậy cần tịch thu số tiền này để sung quỹ nhà nước.

Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ:

Điểm q khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự đối Thạch Ngọc Thiên;

Điểm a khoản 2 Điều 106; Điều 136; Điều 331; Điều 332; Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự;

Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Mục 1 phần I, Điểm b Tiểu mục 1.3 Mục 1 phần II Danh mục mức án phí, lệ phí Tòa án ban hành kèm theo Nghị quyết.

Tuyên bố: Thạch Ngọc T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Thạch Ngọc T 08 (tám) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 19/12/2023.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về vật chứng:

- Tịch thu tiêu hủy toàn bộ ma tuý là vật chứng sau giám định đựng trong 01 (một) phong bì niêm phong mẫu vật do Phòng K1 Công an tỉnh T phát hành, được dán kín, niêm phong bởi các chữ ký ghi rõ họ tên Nguyễn Trần Đ1, Trần Thị Thúy H1, Đới Thế H2 và các hình dấu của Phòng K1 Công an tỉnh T bên trong có chứa toàn bộ vỏ bao gói mở niêm phong của phong bì kí hiệu T1 và các mẫu vật còn lại sau giám định gồm:

  • + 01 (một) túi ni lông màu trắng đựng 06 (sáu) gói giấy màu trắng loại giấy có dòng kẻ: 0,340g (không phẩy ba bốn không gam) chất bột màu trắng ngà dạng cục vụn.
  • + 01 (một) gói ni lông màu trắng đựng 02 (hai) gói giấy: 0,084g (không phẩy không tám bốn gam) chất bột màu trắng ngà dạng cục vụn.

- Tịch thu phát mại sung quỹ nhà nước 01 (một) phong bì ký hiệu ĐT1 được dán kín, niêm phong trong bởi chữ ký, chữ viết ghi rõ họ tên của Lê Ngọc H3, Nguyễn Văn T5, Thạch Ngọc T, Vũ Đình T6 và các hình dấu của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã N, tỉnh Thanh Hóa bên trong có chứa 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A03, màu xanh; số Imei 1: 354076275778209, số I 2: 354860825778201, bên trong lắp sim số: 0778523934, trên sim có dãy số: 8401220612026239 và sim số: 0335320839, trên sim có dãy số: 8984048000909045857;

- Tịch thu phát mại sung quỹ nhà nước 01 (một) chiếc xe môtô 2 bánh nhãn hiệu Fanlim; số loại: C100; màu sơn: Nâu; BKS: 37K8-8330, số khung: DCG053TT003909, số máy: LIP50FMG003909; Dung tích xi lanh: 97cm²; xe đã qua sử dụng (không thu hồi được đăng ký).

Các vật chứng trên hiện đang tạm giữ tại Chi cục thi hành án dân sự Thị xã Nghi Sơn theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 27/3/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra công an Thị xã N, tỉnh Thanh Hóa và Chi cục thi hành án dân sự Thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa (theo phiếu nhập kho số NK2024/64 ngày 27/3/2024).

- Tịch thu sung quỹ nhà nước số tiền 1.000.000đ (một triệu đồng) của bị cáo được niêm phong trong 01 phong bì màu trắng được dán kín, niêm phong, mặt sau có 05 hình dấu tròn đỏ, nội dung “PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ*CÔNG AN TỈNH THANH HÓA”; có cách chữ ký, chữ viết tên Đỗ Thùy T7, Lê Ngọc H3, bên trong có 02 (hai) tờ tiền Việt Nam mệnh giá 500.000đ (năm trăm nghìn đồng) có các số seri OR 16370006; FU 18385665. Số tiền hiện đang được ký gửi tại Kho bạc nhà nước thị xã N theo biên bản giao nhận tài sản số 04/2024/BBBG-KBSN ngày 01/03/2024 giữa Công an thị xã NKho bạc nhà nước N.

Về án phí:

Buộc bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo:

Bị cáo quyền kháng cáo Bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Thanh Hoá;
  • - VKSND Thị xã Nghi Sơn;
  • - VKSND tỉnh Thanh Hoá;
  • - Cơ quan điều tra công an TX Nghi Sơn;
  • - Cơ quan THA hình sự công an TX Nghi Sơn;
  • - Trại tạm giam công an tỉnh Thanh Hoá;
  • - Chi cục THA dân sự Thị xã Nghi Sơn;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

HỘI THẨM NHÂN DÂN

Bùi Quốc Kiên

Nguyễn Văn Dương

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thanh Huyền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 47/2024/HS-ST ngày 22/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN, TỈNH THANH HÓA về mua bán trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 47/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 22/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN, TỈNH THANH HÓA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Mặc dù khối lượng ma túy Thạch Ngọc T tàng trữ để bán trái phép dưới 05 gam Heroine, nhưng lần phạm tội này của T thuộc trường hợp“Tái phạm nguy hiểm” nên T phải chịu tình tiết định khung tăng nặng theo quy định điểm q khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger