Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HẢI DƯƠNG

TỈNH HẢI DƯƠNG

Bản án số:47/2024/HS - ST

Ngày: 22/4/2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                             

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI DƯƠNG, TỈNH HẢI DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Thu.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Văn Thắng; Bà Ngô Thị Thời.

Thư ký phiên tòa: Bà Nông Thị Đào - Thư ký Tòa án nhân thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương tham gia phiên tòa: Ông Phạm Minh Việt - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 48/2024/TLST - HS ngày 26/3/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 49/2024/QĐXXST - HS ngày 10 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo:

Phạm Văn T, sinh năm 1995; ĐKHKTT và chỗ ở: Khu T, phường T, thành phố H, tỉnh Hải Dương; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 10/12; Dân tộc: kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Phạm Văn T1 và bà Nguyễn Thị L; Có vợ là Nguyễn Thị P (đã ly hôn) và 02 con, lớn sinh năm 2016, nhỏ sinh năm 2018.

Tiền án : Không.

Tiền sự: Quyết định đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc số 23/QĐ-TA ngày 17/5/2021 của Tòa án nhân dân thành phố Hải Dương thời hạn 18 tháng. Chấp hành xong ngày 13/01/2023.

Nhân thân:

  • - Quyết định số 21 ngày 01/12/2014 của Công an phường T, TP . xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền 1.500.000đ về hành vi Sử dụng trái phép chất ma túy. Nộp tiền phạt ngày 17/12/2014.
  • - Quyết định số 02 ngày 05/12/2020 của Công an phường T, TP . xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền 750.000đ về hành vi Trộm cắp tài sản. Nộp tiền phạt ngày 15/12/2020.
  • - Quyết định số 61/QĐ - UBND ngày 27/12/2020 của Chủ tịch UBND P.T, TP ., tỉnh Hải Dương áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn, thời hạn 04 tháng, kể từ ngày 27/12/2020. Quyết định chấm dứt việc áp dụng biện pháp giáo dục tại xã phường, thị trấn số 93/QĐ-UBND ngày 20/4/2021 của Chủ tịch UBND P.T, TP ., tỉnh Hải Dương.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 20/12/2023, chuyển tạm giam từ ngày 22/12/2023 đến nay tại Trại tạm giam Công an tỉnh H. (Có mặt tại phiên tòa).

* Người làm chứng:

- Anh Nguyễn Xuân H; Anh Nguyễn Việt H1. (Đều vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Phạm Văn T sử dụng ma túy đá từ năm 2010, bằng hình thức châm lửa hít khói ma túy vào cơ thể. Khoảng 21h00' ngày 20/12/2023, T thuê 1 người chở xe mô tô (không quen biết) đi từ khu vực khu T, P. T, TP . ra khu vực đường Đ, TP ., tỉnh Hải Dương mua ma túy đá để sử dụng cho bản thân. Đến nơi, T đi bộ vào trong ngõ (không nhớ ngõ cụ thể) gặp một người đàn ông không quen biết và hỏi mua được 01 túi ma túy đá với số tiền 500.000 đồng. Mua được túi ma túy T cầm trên tay trái rồi đi tìm nơi sử dụng. Đến khoảng 21h20' cùng ngày khi T đi bộ đến khu vực trước cửa số nhà A Đ, P. P, TP ., tỉnh Hải Dương thì bị Tổ công tác Đội cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thành phố H kiểm tra bắt quả tang thu giữ trong lòng bàn tay trái T đang cầm 1 (một) túi nilon màu trắng kích thước (2x2)cm, bên trong có chứa chất tinh thể dạng cục màu trắng trước sự chứng kiến của anh Nguyễn Việt H1 và anh Nguyễn Xuân H.

Tại Bản kết luận giám định số 32/KL–KTHS ngày 23/12/2023 của Phòng K, Công an tỉnh H:

Chất rắn (dạng tinh thể) màu trắng trong túi nilon màu trắng được niêm phong trong phong bì, ghi thu của Phạm Văn T, gửi đến giám định khối lượng là: 0,422g là ma túy, loại Methamphetamine được quy định tại Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất.

Tại Phiếu kết quả xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể ngày 20/12/2023 tại Công an T đối với Phạm Văn T xác định: T dương tính với chất ma túy trong cơ thể loại Methamphetamine.

Quá trình điều tra Phạm Văn T thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội.

Tại bản cáo trạng số 53/CT- VKS ngày 22/3/2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương truy tố Phạm Văn T về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa: Bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội và xin giảm nhẹ hình phạt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Dương giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố: Bị cáo Phạm Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 38 Bộ luật hình sự:

Xử phạt: Bị cáo Phạm Văn T từ 18 đến 21 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 20/12/2023.

Hình phạt bổ sung: Không áp dụng.

Về vật chứng: áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu cho tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong số 32/KL - KTHS của Phòng K Công an tỉnh H là mẫu vật hoàn lại sau giám định, bên trong gồm: 0,360 gam Methamphetamine, 01 (một) vỏ túi nilon màu trắng và 01 (một) vỏ phong bì niêm phong mẫu vật gửi đến giám định.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. [1] Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố H, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Dương, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
  2. [2] Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định, lời khai của người làm chứng và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 21h20' ngày 20/12/2023, tại khu vực trước cửa số nhà A Đ, P. P, TP ., tỉnh Hải Dương, Phạm Văn T đang cất giấu trái phép trong lòng bàn tay trái 0,422g Methamphetamine để sử dụng thì bị Tổ công tác Đội cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thành phố H phát hiện bắt quả tang, thu giữ vật chứng.

Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự nhận thức rõ việc Tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vì mục đích để thỏa mãn nhu cầu của bản thân, bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Vì vậy Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

  1. [3] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, gây ảnh hưởng xấu tới tình hình an ninh chính trị tại địa phương, gây bức xúc trong quần chúng nhân dân. Việc mua bán, sử dụng ma túy còn là mầm mống làm phát sinh một số loại tội phạm khác, gây ảnh hưởng nặng nề cho sức khỏe của con người và kinh tế của gia đình người sử dụng.
  2. [4] Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng.
  3. [5] Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo đã thành khẩn khai báo hành vi phạm tội của mình nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo có 01 tiền sự chưa được xóa; về nhân thân bị cáo nhiều lần bị xử phạt hành chính nhưng không lấy đó là bài học cho bản thân để tu dưỡng, rèn luyện mà lại tiếp tục phạm tội. Do vậy, cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa.

  1. [6] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo làm nghề lao động tự do, thu nhập không ổn định, không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
  2. [7] Về vật chứng: Đối với 0,360 gam Methamphetamine, 01 (một) vỏ túi nilon màu trắng và 01 (một) vỏ phong bì niêm phong mẫu vật gửi đến giám định là vật là nước cấm lưu hành và không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu cho tiêu hủy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự .
  3. [8] Về các vấn đề khác: Không làm rõ được người đàn ông bán trái phép chất ma túy cho T và người lái xe chở T nên không có căn cứ xử lý.
  4. [9] Về án phí: Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 38, điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự. Điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 136; Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự. Luật phí, lệ phí; Nghị quyết số 326/QH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. 1. Tuyên bố: Bị cáo Phạm Văn T phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
  2. 2. Xử phạt: Bị cáo Phạm Văn T 18 (Mười tám) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 20/12/2023.
  3. 3. Về vật chứng: Tịch thu cho tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong số 32/KL - KTHS của Phòng K Công an tỉnh H là mẫu vật hoàn lại sau giám định, bên trong gồm: 0,360 gam Methamphetamine, 01 (một) vỏ túi nilon màu trắng và 01 (một) vỏ phong bì niêm phong mẫu vật gửi đến giám định.

(Đặc điểm, tình trạng vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố H và và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Hải Dương ngày 03/4/2024).

  1. 4. Về án phí: Bị cáo Phạm Văn T phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
  2. 5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Nơi nhận

  • - VKSND thành phố Hải Dương;
  • - VKSND tỉnh Hải Dương;
  • - Công an thành phố Hải Dương;
  • - Cơ quan THAHS Công an TP Hải Dương;
  • - Cơ quan CSĐT Công an TP Hải Dương;
  • - Chi cục THADS thành phố Hải Dương;
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh Hải Dương;
  • - Sở tư pháp tỉnh Hải Dương;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Thị Thu

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 47/2024/HS - ST ngày 22/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI DƯƠNG, TỈNH HẢI DƯƠNG về hình sự (tàng trữ trái phép chất ma túy)

  • Số bản án: 47/2024/HS - ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tàng trữ trái phép chất ma túy)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 22/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI DƯƠNG, TỈNH HẢI DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phạm Văn T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger