|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 47/2024/DS-PT
Ngày 17 và 22/4/2024
V/v: “Tranh chấp chia di sản thừa kế”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI
Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Văn Hà.
Các Thẩm phán: Ông Trần Văn Thưởng và ông Lưu Anh Tuấn.
Thư ký phiên tòa: Bà Thái Thị Mỹ Nga – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Bình - Kiểm sát viên.
Ngày 17 và 22 tháng 4 năm 2024, tại Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 138/2023/TLPT-DS ngày 28 tháng 11 năm 2023 về “Tranh chấp phân chia di sản thừa kế”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số 04/2023/DS-ST ngày 28/7 và ngày 02/8/2023 của Tòa án nhân dân huyện Phú Thiện, tỉnh Gia Lai bị kháng cáo.
Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 34/2024/QĐ-PT ngày 05 tháng 3 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn:
Chị Nguyễn Thị Mỹ N, sinh năm 1995, địa chỉ: Tổ dân phố A (nay Tổ 10), thị trấn P, huyện P, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt.
Chị Nguyễn Thị Thanh H, sinh năm 1997, địa chỉ: G H, thị xã A, tỉnh Gia Lai.
Người đại diện theo ủy quyền cho chị Nguyễn Thị Thanh H: Bà Hoàng Ngọc Minh P, địa chỉ: Số C T, tổ D, phường S, thị xã A, tỉnh Gia Lai (theo giấy ủy quyền số 2220A ngày 16/3/2024). Có mặt.
- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Thu H1, sinh năm 1970, địa chỉ: Tổ dân phố A (nay Tổ 10), thị trấn P, huyện P, tỉnh Gia Lai. Có mặt.
Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn: Ông Vũ Ngọc B, sinh năm 1992; địa chỉ: Tổ dân phố A, phường T, Quận N, thành phố Hà Nội và ông Nguyễn Tiến Đ, sinh năm 1995; địa chỉ: Phố T, phường T, thành phố N, tỉnh Ninh Bình. Có mặt.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
Bà Phạm Thị S, sinh năm 1942, địa chỉ: Tổ dân phố A (nay Tổ 10), thị trấn P, huyện P, tỉnh Gia Lai. Có mặt.
Chị Nguyễn Thị Mỹ C, sinh năm 2001, đia chỉ: Tổ dân phố A (nay Tổ 10), thị trấn P, huyện P, tỉnh Gia Lai
Anh Nguyễn Thanh L, sinh năm 2003, địa chỉ: Tổ dân phố A (nay Tổ 10), thị trấn P, huyện P, tỉnh Gia Lai
Người đại diện theo ủy quyền của chị Nguyễn Thị Mỹ C và anh Nguyễn Thanh L: Bà Nguyễn Thị Thu H1, địa chỉ: Tổ dân phố A (nay Tổ 10), thị trấn P, huyện P, tỉnh Gia Lai. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Theo đơn khởi kiện, bản tự khai cùng các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và tại phiên tòa.
1.1 Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Mỹ N trình bày:
Bà Nguyễn Thị Mỹ N và bà Nguyễn Thị Thanh H là con ruột của ông Nguyễn Quốc L1 (đã chết năm 2008) và bà Hoàng Ngọc Minh P, ông L1 và bà P ly hôn năm 1998, đến năm 1999 ông L1 kết hôn với bà Nguyễn Thị Thu H1, có 02 người con chung, gồm chị Nguyễn Thị Mỹ C, sinh năm 2001 và anh Nguyễn Thanh L, sinh năm 2003.
Ông L1 chết ngày 03/12/2008 có để lại di sản là đất ở các địa phương khác nhau và 01 căn nhà xây cấp 4 như sau:
- Lô đất tại tổ dân phố A (nay tổ dân phố A), thị trấn P, huyện P, được Nhà nước cấp cho ông Nguyễn Quốc L1 vào năm 1993, giấy tờ hiện do bà Nguyễn Thị Thu H1 đang quản lý.
- Lô đất tại tổ dân phố A (nay tổ dân phố A), thị trấn P, huyện P, của ông Đinh Văn Q sang nhượng cho ông Nguyễn Quốc L1 và Bà Nguyễn thị Thu H2, có giấy tờ kèm theo, bà Nguyễn Thị Thu H1 đang quản lý.
- Lô đất tại thôn K, xã I, huyện P, tỉnh Gia Lai của ông Phạm Thành L2 sang nhượng cho bố tôi Nguyễn Quốc L1, có giấy tờ mua bán do bà Nguyễn Thị Thu H1 quản lý.
- Lô đất tại thôn I, xã I, huyện P của ông Phạm Văn H3 sang nhượng cho bố tôi Nguyễn Quốc L1, có giấy tờ mua bán do bà Nguyễn Thị Thu H1 quản lý.
- Lô đất tại P, xã I, huyện P, tỉnh Gia Lai do người dân sang nhượng lại cho bố tôi Nguyễn Quốc L1, có giấy tờ hiện bà Nguyễn Thị Thu H1 đang giữ.
- Lô đất tại xã I, huyện I, tỉnh Gia Lai (mang tên Nguyễn Quốc L1, có giấy tờ kèm theo, bà Nguyễn Thị Thu H1 đang quản lý.
- 01 Nhà xây cấp 4 và công trình phụ trên diện tích đất lô số 179 nêu trên, là tài sản chung của bà H1 và ông L1.
Quá trình giải quyết, do một số lô đất trên không có giấy tờ rõ rằng, không xác định vị trí tứ cận, chưa được Nhà nước công nhận quyền sở hữu, sử dụng hợp pháp... dẫn đến khó giải quyết nên chúng tôi xin rút một phần khởi kiện chia thừa kế đối với một số lô đất sau:
- Lô đất tại thôn K, xã I, huyện P, tỉnh Gia Lai của ông Phạm Thành L2 sang nhượng cho ông Nguyễn Quốc L1.
- Lô đất tại thôn I, xã I, huyện P, tỉnh Gia Lai của ông Phạm Văn H3 sang nhượng cho ông Nguyễn Quốc L1.
- Lô đất tại P, xã I, huyện P, tỉnh Gia Lai mua của người dân tại đó.
- Lô đất tại xã I, huyện I, tỉnh Gia Lai.
Nguyên đơn yêu cầu Tòa án giải quyết chia di sản thừa kế của ông Nguyễn Quốc L1 để lại gồm:
- Lô đất tại tổ dân phố A (nay tổ dân phố A), thị trấn P, huyện P, được Nhà nước cấp cho ông Nguyễn Quốc L1 vào năm 1993, giấy tờ hiện do bà Nguyễn Thị Thu H1 đang quản lý. Nay lô đất mang tên bà Nguyễn Thị Thu H1 thửa số 179, tờ bản đồ số 17 diện tích 933,2m². Đây là tài sản riêng của ông L1 được Nhà nước cấp vào năm 1993, theo quyết định giao đất xây dựng nhà ở số 15/QĐ-UB ngày 20/03/1993 của UBND huyện A, tài sản này có trước khi kết hôn với bà H1 vào năm 1999. Qua đo đạc thực tế đất trên có diện tích 933,2m²; chiều rộng 10m, chiều dài trung bình là 93,50m.
- Lô đất tại tổ dân phố A (nay tổ dân phố A), thị trấn P, huyện P, tỉnh Gia Lai của ông Đinh Văn Q sang nhượng cho ông Nguyễn Quốc L1 và bà Nguyễn Thị Thu H1. Hiện nay lô đất này được cấp và mang tên Nguyễn Thị Thu H1. Thửa đất số 296, diện tích 202,5m². Đây là tài sản chung của ông L1 và bà H1 mua của ông Q vào năm 2006.
- Nhà xây cấp 4 và công trình phụ trên đất tại thửa số 179 nêu trên, là tài sản chung của bà H1 và ông L1 xây dựng vào khoảng năm 2002.
Hiện toàn bộ quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất yêu cầu giải quyết được bà Nguyễn Thị Thu H1 đang quản lý, chiếm hữu, sử dụng. Vậy chúng tôi yêu cầu tòa án giải quyết chia thừa kế theo quy định của pháp luật.
1.2. Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thanh H là bà Hoàng Ngọc Minh P trình bày:
Bà Hoàng Ngọc Minh P và ông Nguyễn Quốc L1 kết hôn vào năm 1993, có với nhau 02 người con chung là Nguyễn Thị Mỹ N và Nguyễn Thị Thanh H. Đến năm 1998, bà P và ông L1 ly hôn. Về tài sản bà P và ông L1 được cha mẹ ông L1 cho một lô đất ở tổ dân phố A để làm nhà, làm ăn sinh sống. Nên khi ly hôn, bà P và ông L1 không yêu cầu chia tài sản là lô đất trên. Khoảng vào năm 1999, ông L1 kết hôn với bà H1 và năm 2008 ông L1 chết do tai nạn lao động và không để lại di chúc.
Về tài sản lô đất tại tổ dân phố A, huyện P mà bà H1 hiện nay đang sinh sống là tài sản riêng của ông L1 có trước khi lập gia đình và căn cứ vào quyết định số 15/QĐ-UB của Ủy ban nhân dân huyện A về việc giao đất xây dựng nhà ở và căn cứ theo bản án số 02/2016/DSST ngày 09/5/2016 của Tòa án nhân dân huyện Phú Thiện về việc “Đòi lại đất cho ở nhờ và công nhận quyền sử dụng đất”, bà P khẳng định đây là tài sản riêng của ông Nguyễn Quốc L1. Nên các con bà P yêu cầu Tòa án chia theo đúng quy định của pháp luật. Về ngôi nhà được xây dựng trên đất bà P đề nghị cũng chia theo nguyện vọng của các con bà P.
Di sản là tài sản thừa kế mà ông L1 để lại gồm: Lô đất ở tổ dân phố A diện tích 10x 100m, nay thuộc thửa số 179, tờ bản đồ số 17 diện tích 933,2m2; Ngôi nhà cấp 4 trên lô đất ở tổ dân phố A; Lô đất sang nhượng lại của ông Q cho vợ chồng H1, L1 ở tổ dân phố A, nay thửa đất được cấp số 296, tờ bản đồ số 17, diện tích 202,5m2 mang tên Nguyễn Thị Thu H1. Người được hưởng di sản gồm bà Phạm Thị S là mẹ đẻ của ông Nguyễn Quốc L1, bà Nguyễn Thị Thu H1 là vợ của ông L1, chị Nguyễn Thị Mỹ N, Nguyễn Thị Thanh H, Nguyễn Thị Mỹ C và Nguyễn Thanh L là con đẻ của ông Nguyễn Quốc L1.
Bà P yêu cầu Tòa án chia di sản thừa kế của ông Nguyễn Quốc L1 cho những người thừa kế theo quy định của pháp luật. Cháu Nguyễn Thị Thanh H sẽ nhận di sản thừa kế của ông L1 bằng giá trị di sản.
1.3. Tại bản tự khai cùng các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và tại phiên tòa, bị đơn, đồng thời là người đại diện theo ủy quyền của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Nguyễn Thị Mỹ C và anh Nguyễn Thanh L là bà Nguyễn Thị Thu H1 trình bày:
Năm 1999 bà H1 và ông L1 kết hôn với nhau, quá trình chung sống vợ chồng có 02 người con chung, gồm: Nguyễn Thị Mỹ C sinh năm 2001 và Nguyễn Thanh L 2003. Đến năm 2008, ông Nguyễn Quốc L1 chết không để lại di chúc. Khi còn sống ông L1 có quyền sử dụng đất và thực hiện quyền của mình theo đúng qui định của pháp luật, ông L1 tự nguyện và thể hiện ý chí quyết định đối với tài sản của mình. Cụ thể:
- Đối với lô đất tại tổ dân phố A (nay tổ dân phố A), thị trấn P, huyện P, được Nhà nước cấp cho ông Nguyễn Quốc L1 vào năm 1993, theo quyết định giao đất xây dựng nhà ở số 15/QĐ-UB ngày 20/03/1993 của UBND huyện A, trước đây là tài sản riêng của ông L1 nhưng ông L1 đã xác lập hợp đồng sang nhượng đất cho bà H1 vào ngày 30/5/2004 đã được UBND thị trấn P xác nhận, do đó được pháp luật công nhận thành quyền sử dụng riêng của bà H1 nên đây là tài sản riêng của bà H1, bà H1 khẳng định diện tích đất này không phải là di sản thừa kế. Đến năm 2021, Nhà nước cấp giấy CNQSD đất cho bà Nguyễn Thị Thu H1. Đất có thửa số 179, tờ bản đồ số 17 diện tích 933,2m² và sau đó bà H1 chuyển tặng cho con trai bà H1 là Nguyễn Thanh L toàn bộ diện tích đất nói trên, được Văn phòng đăng ký đất đai chỉnh lý sang tên.
- Đối với nhà cấp 4 và công trình phụ trên diện tích đất lô số 179, tờ bản đồ số 17. Căn nhà này vợ chồng bà H1 xây dựng cách đây hơn 20 mươi năm rồi, là tài sản chung của bà H1 với ông L1 nhưng nay bà H1 không đồng ý chia vì bà H1 tu sửa lại nhiều lần cách đây khoảng 04 năm hoặc 05 năm, chi phí sửa chữa lúc bấy giờ khoảng 200 triệu đồng.
Lô đất và căn nhà bà H1 đề nghị Tòa án nhân dân huyện Phú Thiện bác toàn bộ yêu cầu của bên nguyên đơn, đồng thời công nhận đây là tài sản riêng của bà H1.
- Đối với thửa đất số 296, diện tích 202,5m² tại tổ dân phố A, thị trấn P, huyện P, tỉnh Gia Lai, trước đây bà H1 với ông L1 mua của ông Đinh Văn Q vào năm 2006, vậy đây là tài sản chung của vợ chồng bà H1, bà H1 đồng ý chia di sản thừa kế theo quy định của pháp luật.
1.4. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Phạm Thị S trình bày:
Bà Phạm Thị S yêu cầu chia theo quy định pháp luật những tài sản mà ông L1 để lại là:
- Lô đất tại tổ dân phố A, thị trấn P, huyện P, tỉnh Gia Lai (mang tên Nguyễn Quốc L1, nay đất có thửa số 179, tờ bản đồ số 17 diện tích 933,2m²). Đó là tài sản riêng của ông L1, bà S không đồng ý chia tài sản lô đất trên cho bà H1, bà S yêu cầu chia lô đất trên làm 05 phần, bà H1 không được hưởng. Việc bà H1 cho là ông L1 sang nhượng cho bà vào năm 2004 là không đúng, không có thật. Chữ ký và chữ viết trong giấy sang nhượng do bà H1 làm giả chứ không phải là của L1.
- Lô đất của ông Đinh Văn Q sang nhượng tại tổ dân phố A, thị trấn P, huyện P, tỉnh Gia Lai bà S đề nghị chia theo pháp luật.
- Căn nhà cấp 4 và các tài sản gắn liền đất tại tổ dân phố A, thị trấn P, huyện P. Đề nghị Tòa án chia theo pháp luật.
Còn lại các di sản khác thì sau này bà Phạm Thị S yêu cầu giải quyết sau.
2. Giải quyết của tòa án cấp sơ thẩm:
Tại bản án dân sự sơ thẩm số 04/2023/DS-ST ngày 28/7 và ngày 02/8/2023 của Tòa án nhân dân huyện Phú Thiện, tỉnh Gia Lai đã quyết định:
Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm b khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 92, khoản 1 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 266, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Áp dụng các khoản 3 Điều 40, Điều 116, Điều 117, Điều 119, Điều 122, Điều 123, Điều 131, Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015;
Áp dụng khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về chia di sản thừa kế của chị Nguyễn Thị Mỹ N và chị Nguyễn Thị Thanh H.
- Giao cho bà Nguyễn Thị Thu H1 được sử dụng, quản lý diện tích 561,8m² (6m x 93,50m). Vị trí tứ cận: Phía nam giáp QL 25 dài 6m; Bắc giáp thửa đất 296 (đất bà H1, ông L1) dài 6m; Phía đông giáp đất phần đất trống được chia cho Nguyễn Thị Mỹ N dài 93,30m và Phía tây giáp thửa đất 176 (đất ông Nguyễn Thanh V) dài 93,30m và được sở hữu căn nhà cấp 4 cùng các tài sản gắn liền với đất nằm trên phần đất được chia cho bà Nguyễn Thị Thu H1 được sử dụng, quản lý tại tổ dân phố A (nay tổ dân phố A), thị trấn P, huyện P, tỉnh Gia Lai.
Giao cho Bà Nguyễn Thị Thu H1 tiếp tục được sử dụng và quản lý toàn bộ diện tích thửa đất số 296, diện tích 202,5m² tại tổ dân phố A, thị trấn P, huyện P, tỉnh Gia Lai, đặc điểm, tứ cận và diện tích theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CU 077244 do Ủy ban nhân dân huyện P cấp ngày 09/9/2021 mang tên Nguyễn Thị Thu H1.
- Giao cho Nguyễn Thị Mỹ N quản lý và sử dụng đất với diện tích là 379m² (chiều rộng 4m x chiều dài 93,50m). Có vị trí tứ cận: Phía nam giáp QL 25 dài 4m; Bắc giáp thửa đất 296 (đất được giao cho bà Nguyễn Thị Thu H1) dài 4m;
Phía đông giáp thửa đất 178 (đất ông Nguyễn Đình T) dài 93,30m và Phía tây giáp đất và căn nhà được chia cho bà Nguyễn Thị Thu H1 dài 93,30m.
Bà Nguyễn Thị Thu H1 có trách nhiệm trả mặt bằng phần diện tích đất trống có diện tích và tứ cận như trên được chia cho chị Nguyễn Thị Mỹ N sử dụng và đồng thời có trách nhiệm tự tháo dỡ các công trình xây dựng tạm thời trên phần đất này theo quy định.
- Các đương sự có trách nhiệm liên hệ với cơ quan có thẩm quyền để thực hiện thủ tục đăng ký lại sự biến động quyền sử dụng đất theo đúng quy định. Đề nghị Cơ quan có thẩm quyền điều chỉnh giấy số CU 077244 do Ủy ban nhân dân huyện C1 cho bà Nguyễn Thị Thu H1 ngày 09 tháng 9 năm 2021 theo đúng quyết định của bản án.
-
Buộc bà Nguyễn Thị Thu H1 có trách nhiệm thanh toán lại giá trị kỷ phần như sau:
- - Thanh toán cho chị Nguyễn Thị Thanh H số tiền là 380.800.000 đồng (350.000.000đ + 20.800.000đ + 10.000.000₫);
- - Thanh toán cho chị Nguyễn Thị Mỹ N, cho bà Phạm Thị S mỗi người 30.800.000đồng (20.800.000đ + 10.000.000₫);
- - Thanh toán kỷ phần cho chị Nguyễn Thị Mỹ C, Nguyễn thành L3 mỗi người là 613.800.000đồng (583.800.000đ +20.800.000₫ + 10.000.000₫).
-
Buộc chị Nguyễn Thị Mỹ N có trách nhiệm thanh toán như sau:
- Thanh toán cho bà Phạm Thị S số tiền 583.300.000đồng tương ứng với giá trị phần đất của bà S được hưởng là 154,87m² (1,66mx93,30m).
- Thanh toán cho chị Nguyễn Thị Thanh H 233.300.000đồng, tương ứng với giá trị phần đất mà chị H được hưởng là 61,71m² (0,66mx93,30m).
Kể ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền trên, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 Bộ luật Dân sự.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên nghĩa vụ chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm, thông báo quyền yêu cầu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án và thời hiệu thi hành án; tuyên quyền kháng cáo của các đương sự.
3. Về kháng cáo, kháng nghị:
Ngày 24/8/2023, bị đơn bà Nguyễn Thị Thu H1 có đơn kháng cáo yêu cầu hủy bản án sơ thẩm số 04/2023/DSST ngày 28/7 và ngày 02/8/2023 của Tòa án nhân dân huyện Phú Thiện, tỉnh Gia Lai.
Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Mỹ N và bà Nguyễn Thị Thanh H không kháng cáo.
Bản án không bị kháng nghị.
4. Diễn biến tại phiên tòa:
Nguyên đơn không rút đơn khởi kiện, giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm số 04/2023/DSST ngày 28/7 và ngày 02/8/2023 của Tòa án nhân dân huyện Phú Thiện, tỉnh Gia Lai.
Tại phiên toà phúc thẩm, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Phạm Thị S có cung cấp thêm tài liệu, chứng cứ là bản trình bày nêu lý do chữ ký của ông Nguyễn Quốc L1 trong tài liệu của nguyên đơn cung cấp và chữ ký so với giấy sang nhượng là không giống nhau. Do đó bà S có yêu câu bác toàn bộ kháng cáo của bị đơn.
Bị đơn kháng cáo vì lý do cấp sơ thẩm đánh giá chứng cứ chỉ dựa trên lời khai của nguyên đơn, cho rằng bị đơn giả chữ ký là không đúng. Ngoài ra cấp sơ thẩm không định giá tài sản mà xác định quyền ưu tiên thanh toán là không phù hợp và có một số vi phạm khác. Đề nghị sửa án bản sơ thẩm số 04/2023/DSST ngày 28/7 và ngày 02/8/2023 của Tòa án nhân dân huyện Phú Thiện, tỉnh Gia Lai.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị đơn còn cung cấp thêm tài liệu, chứng cứ là 03 bản án số 04/2023/DSST ngày 28/7 và 02/8/2023 về tranh chấp chia di sản thừa kế (bản photocopy) thể hiện có sự khác nhau về nội dung các bản án mà Tòa án nhân dân huyện Phú Thiện đã phát hành. Đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xem xét, giải quyết theo hướng hủy bản án sơ thẩm do vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng.
Các đương sự không tự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.
5. Kiểm sát viên phát biểu ý kiến:
- Về việc tuân theo pháp luật của người tiến hành tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án ở giai đoạn phúc thẩm: Đảm bảo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Tại phiên tòa, thành phần Hội đồng xét xử đúng quy định của pháp luật, các thủ tục khai mạc phiên tòa và các thủ tục khác được Hội đồng xét xử và Chủ tọa phiên tòa điều hành đúng quy định tại các Điều 70, 71, 72 và Điều 234 Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về nội dung vụ án: Do cấp sơ thẩm có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng trong việc phát hành bản án và đánh giá tài liệu chứng cứ. Do đó đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 3 Điều 308; Điều 310 Bộ luật Tố tụng dân sự; huỷ toàn bộ bản án sơ thẩm số 04/2023/DSST ngày 28/7 và 02/8/2023 về tranh chấp chia di sản thừa kế của Tòa án nhân dân huyện Phú Thiện. Chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân huyện Phú Thiện, tỉnh Gia Lai để giải quyết lại vụ án theo thủ tục chung.
NHẬN ĐỊNH TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng: Tòa án cấp sơ thẩm xác định đúng quan hệ pháp luật và thụ lý giải quyết theo thẩm quyền. Quá trình giải quyết vụ án Tòa án cấp sơ thẩm đã xác định đầy đủ tư cách của những người tham gia tố tụng.
[2] Về di sản thừa kế của ông Nguyễn Quốc L1:
Ông Nguyễn Quốc L1 chết ngày 03/12/2008 và không để lại di chúc. Các đương sự thừa nhận ông L1 có để lại di sản là một phần quyền sử dụng thửa đất số 296, thuộc tờ bản đồ số 17, diện tích 202,5m², tại tổ dân phố A (nay tổ dân phố A), thị trấn P, huyện P, tỉnh Gia Lai, được Ủy ban nhân dân huyện P cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CU 077221 ngày 10/8/2021 cho người sử dụng Nguyễn Thị Thu H1 nên đây là tình tiết không phải chứng minh.
Ngoài di sản nêu trên, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Mỹ N cho rằng di sản do Nguyễn Quốc L1 để lại còn có quyền sử dụng thửa đất số 179, thuộc tờ bản đồ số 17, diện tích 933,2m², tại tổ dân phố A (Nay tổ dân phố A), thị trấn P, huyện P, được Ủy ban nhân dân huyện P cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CU 077244 ngày 09/9/2021 cho người sử dụng bà Nguyễn Thị Thu H1.
Đối với ý kiến của nguyên đơn cho rằng thửa đất số 179, thuộc tờ bản đồ số 17 là tài sản riêng của ông L1, được Nhà nước cấp vào năm 1993, theo quyết định giao đất xây dựng nhà ở số 15/QĐ-UB ngày 20/03/1993 của UBND huyện A, tài sản này có trước khi kết hôn với bà H1 vào năm 1999.
Hội đồng xét xử thấy rằng: Về nguồn gốc thửa đất số 179, thuộc tờ bản đồ số 17 là do ông Nguyễn Quốc L1 được Ủy ban nhân dân huyện A cấp theo Quyết định giao đất Xây dựng nhà ở số 15 ngày 20/3/1993. Đến ngày 30/5/2004, ông L1 đã chuyển nhượng toàn bộ quyền sử dụng thửa đất số 179, thuộc tờ bản đồ số 17 cho bà Nguyễn Thị Thu H1 theo Giấy sang nhượng đất thổ cư ghi ngày 30/5/2004 (BL277). Ngày 09/9/2021, bà H1 được UBND huyện P cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, đến ngày 18/11/2021 bà H1 tặng toàn bộ quyền sử dụng thửa đất số 179, thuộc tờ bản đồ số 17 cho con trai là anh Nguyễn Thành L4.
Tại hồ sơ vụ án, Tòa án cấp sơ thẩm thu thập thể hiện bà Phạm Thị S có 02 lần khởi kiện tại Tòa án nhân dân huyện Phú Thiện, cụ thể: lần thứ nhất, bà S khởi kiện yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông L1 và bà H1, tại bản án sơ thẩm Tòa án quyết định không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà S. Tại bản án phúc thẩm đã hủy toàn bộ bản án sơ thẩm với lý do vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng vì người khởi kiện không nộp đủ tiền tạm ứng án phí. Lần thứ hai bà S khởi kiện yêu cầu đòi lại đất cho ở nhà và công nhận quyền sử dụng đất, tại bản án số 02/2016/DSST ngày 09/5/2016 của Tòa án nhân dân huyện Phú Thiện cho rằng quyền sử dụng thửa đất số 179, thuộc tờ bản đồ số 17 là thuộc quyền sử dụng của ông L1, không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà S và bản án hiện đang có hiệu lực pháp luật.
Tại phiên toà phúc thẩm, phía nguyên đơn cung cấp chứng cứ cho rằng chữ ký của ông L1 trong Giấy sang nhượng đất thổ cư cho chị H1 nêu trên không phải là chữ ký của ông L1. Do đó, cần xem xét, giám định chữ ký của ông L1 để tôn trọng quyền định đoạt về tài sản trong trường hợp cho rằng việc chuyển nhượng này là không đúng và xác định ngày 30/5/2004, ông L1 đã chuyển nhượng toàn bộ quyền sử dụng thửa đất số 179, thuộc tờ bản đồ số 17 cho bà Nguyễn Thị Thu H1 theo Giấy sang nhượng đất thổ cư ghi ngày 30/5/2004 là có phù hợp hay không. Giám định chữ ký của ông L1 là một căn cứ quan trọng để đánh giá bản chất của vụ án nhằm giải quyết đúng đắn vụ kiện, Tòa án cấp sơ thẩm chưa thu thập xác minh đầy đủ mà đưa ra nhận định cho rằng giấy sang nhượng trên trong thời kỳ hôn nhân tồn tại là không rõ ràng về mục đích là chưa đảm bảo chính xác.
[3] Về tài liệu chứng cứ mới phát sinh tại phiên tòa phúc thẩm:
Tại phiên tòa phúc thẩm ngày 17/4/2024 bị đơn bà Nguyễn Thị Thu H1 trình bày và cung cấp cho Hội đồng xét xử 03 bản án số 04/2023/DSST ngày 28/7 và 02/8/2023 về tranh chấp chia di sản thừa kế (Photocopy):
- Lần 1: Vào ngày 18/8/2023 Tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Thiện bà Nguyễn Thị Thu H1 nhận bản án số 04/2023/DSST ngày 28/7 và 02/8/2023 về tranh chấp chia di sản thừa kế do thư ký Trần Minh H4 tống đạt trực tiếp, bản án gồm 11 trang với nội dung tại trang 5 “Tại phiên tòa đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Thiện, tỉnh Gia Lai phát biểu quan điểm giải quyết vụ án như sau: ....về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận toàn bộ nội dung khởi kiện của nguyên đơn...”
- Lần 2: Vào ngày 21/8/2023 tại nhà của bà Nguyễn Thị Thu H1, Thư ký Trần Minh H4 đến và đổi bản án số 04/2023/DSST ngày 28/7 và 02/8/2023 về tranh chấp chia di sản thừa kế được thay đổi như sau: Bản án ngày 21/8/2023 được nhận gồm 12 trang có nội dung tại trang 5 “Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Thiện, tỉnh Gia Lai phát biểu quan điểm giải quyết vụ án như sau: ....về quan điểm giải quyết vụ án:.....đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ nội dung khởi kiện của nguyên đơn………” và nhiều nội dung khác được thay đổi tại phần phát biểu của đại diện Viện kiểm sát.
- Lần 3: Vào ngày 22/8/2023 tại nhà của bà Nguyễn Thị Thu H1, thư ký Trần Minh H4 đến và đổi bản án số 04/2023/DSST ngày 28/7 và 02/8/2023 về tranh chấp chia di sản thừa kế được thay đổi về số liệu như sau: “Diện tích đất trên có giá trị 3.500.000 đồng” thành “Diện tích đất trên có giá trị 3.500.000.000 đồng”.
Ngày 19/4/2024 Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai tiến hành xác minh tại Tòa án nhân dân huyện Phú Thiện do thẩm phán Ksor J và thư ký Trần Minh Hoàng cung cấp thông tin như sau: Thư ký Trần Minh H4 đã giao bản án số 04/2023/DSST ngày 28/7 và 02/8/2023 về tranh chấp chia di sản thừa kế vào ngày 18/8/2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Thiện và có 02 lần đổi bản án nêu trên tại nhà của bà Nguyễn Thị Thu H1 là đúng sự thật. Lý do có sự thay đổi như trên là do quá trình phát hành bản án của Tòa án nhân dân huyện Phú Thiện có sự sai sót về lỗi đánh máy và nhầm lẫn về số liệu trong bản án.
Điều 268 của Bộ luật Tố tụng dân sự quy định:
“Điều 268. Sửa chữa, bổ sung bản án
- Sau khi tuyên án xong thì không được sửa chữa, bổ sung bản án, trừ trường hợp phát hiện lỗi rõ ràng về chính tả, về số liệu do nhầm lẫn hoặc tính toán sai.
- Trường hợp cần sửa chữa, bổ sung bản án theo quy định tại khoản 1 Điều này thì Thẩm phán phối hợp với các Hội thẩm nhân dân là thành viên Hội đồng xét xử đã tuyên bản án đó phải ra quyết định sửa chữa, bổ sung bản án và gửi ngay cho đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện, Viện kiểm sát cùng cấp và cơ quan thi hành án dân sự nếu bản án đã được gửi cho cơ quan thi hành án dân sự.
Trường hợp Thẩm phán đã xét xử vụ án đó không còn đảm nhiệm chức vụ Thẩm phán tại Tòa án đã ra bản án đó thì Chánh án Tòa án thực hiện việc sửa chữa, bổ sung bản án.”.
Như vậy, việc Tòa án cấp sơ thẩm không ban hành quyết định sửa chữa, bổ sung bản án mà tự đổi bằng một bản án khác là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng.
Từ những phân tích trên, có căn cứ xác định kháng cáo của bị đơn là có căn cứ. Tòa án cấp sơ thẩm có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng, chưa xem xét đánh giá đầy đủ chứng cứ, chưa giải quyết toàn diện vụ án. Mặc dù, Tòa án cấp phúc thẩm đã tiến hành khắc phục một số vi phạm tố tụng nhưng không thể bổ sung được toàn bộ các vấn đề để giải quyết nội dung vụ án. Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ khoản 3 Điều 308, Điều 310 của Bộ luật Tố tụng dân sự, hủy toàn bộ bản án sơ thẩm và chuyển hồ sơ vụ án cho tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại.
Do bản án sơ thẩm bị hủy nên người kháng cáo không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 3 Điều 308; Điều 310 Bộ luật Tố tụng dân sự; Căn cứ khoản 3 điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy Ban T1 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Chấp nhận kháng cáo của bà Nguyễn Thị Thu H1.
- Hủy bản án dân sự sơ thẩm số 04/2023/DS-ST ngày 28/7 và ngày 02/8/2023 của Tòa án nhân dân huyện Phú Thiện, tỉnh Gia Lai.
- Chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân huyện Phú Thiện, tỉnh Gia Lai để giải quyết lại vụ án theo thủ tục chung.
- Về án phí: Bà Nguyễn Thị Thu H1 không phải chịu án phí phúc thẩm. Trả lại cho bà Nguyễn Thị Thu H1 số tiền 300.000 (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0008181 ngày 03/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Thiện, tỉnh Gia Lai.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa Lê Văn Hà |
Bản án số 47/2024/DS-PT ngày 22/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI về tranh chấp chia di sản thừa kế
- Số bản án: 47/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp chia di sản thừa kế
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 22/04/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: - Chấp nhận kháng cáo của bà Nguyễn Thị Thu H - Hủy bản án dân sự sơ thẩm số 04/2023/DS-ST ngày 28/7 và ngày 02/8/2023 của Tòa án nhân dân huyện Phú Thiện, tỉnh Gia Lai.
