Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TƯƠNG DƯƠNG

TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 47/2024/HS-ST

Ngày 21-8-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TƯƠNG DƯƠNG - TỈNH NGHỆ AN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lương Thị Ái

Các Hội thẩm nhân dân.

Bà Lô Thị Huyền

Ông Nguyễn Mạnh Cường

Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thảo - Thư ký Toà án nhân dân huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tương Dương tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà: Ông Võ Trọng Thắng - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An đưa ra xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 44/2024/TLST-HS ngày 10 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 49/2024/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Hữu T, tên gọi khác: Không có; sinh ngày 06 tháng 02 năm 1983 tại huyện Đ, tỉnh Nghệ An; Nơi Đăng ký thường trú và chỗ ở hiện nay: Bản C, xã X, huyện T, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Trồng trọt; Trình độ văn hoá: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Hữu S (Đã chết) và con bà Nguyễn Thị L; vợ, con: Chưa có; Tiền án: Có 02 tiền án; ngày 25/4/2016, bị Tòa án huyện T, tỉnh Nghệ An xử phạt 02 năm tù về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”, đến ngày 05/9/2017 chấp hành xong trở về địa phương; ngày 30/8/2018, bị Tòa án huyện Đ, tỉnh Nghệ An xử phạt 06 năm tù về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, đến ngày 22/10/2022 chấp hành xong trở về địa phương, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 30 tháng 4 năm 2024 đến nay. Có mặt tại phiên tòa.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1959. Trú tại: Bản C, xã X, huyện T, tỉnh Nghệ An. Có mặt

Người chứng kiến: Anh Trần Văn D. Vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 15 giờ ngày 30/4/2024, Nguyễn Hữu T lên cơn nghiện chất ma túy nên đã điều khiển xe máy nhãn hiệu Yamaha, S1, biển kiểm soát 37D1-136.06 đi từ nhà ở bản C, xã X, huyện T, tỉnh Nghệ An đến xã L, huyện T, tỉnh Nghệ An để tìm mua ma túy sử dụng. Khi Nguyễn Hữu T đi đến bản M, xã L, huyện T, tỉnh Nghệ An thì gặp và mua của một người đàn ông không quen biết 01 gói ma túy bên ngoài được gói bằng ni lông màu vàng bên trong có viên nén màu hồng với số tiền 300.000đ. Mua ma túy xong, Nguyễn Hữu T đi xe máy về nhà.

Đến khoảng 17 giờ 30 phút cùng ngày, khi Nguyễn Hữu T đi về đến khu vực bản X, xã L, huyện T, tỉnh Nghệ An thì bị tổ công tác Công an huyện T phát hiện, bắt quả tang về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy” thu giữ trong lòng bàn tay trái của T 01 gói được gói bằng bao ni lông màu vàng bên trong có chứa các viên nén màu hồng. T khai nhận với tổ công tác số viên nén màu hồng là ma tuý hồng phiến của T mua về để sử dụng. Ngoài ra còn thu giữ của Nguyễn Hữu T 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Yamaha, Sirius, biển kiểm soát 37D1-136.06. Tổ công tác lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Nguyễn Hữu T về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy và các biên bản khác theo đúng quy định của pháp luật.

Tại Kết luận giám định số: 491 /KL-KTHS(Đ2-MT) ngày 07/5/2024 của Phòng K Công an tỉnh N kết luận: Mẫu viên nén màu hồng thu giữ của Nguyễn Hữu T gửi giám định là ma túy; loại Methamphetamine. Số viên nén màu hồng thu giữ của Nguyễn Hữu T có tổng khối lượng là 0,57 gam (Không phẩy năm mươi bảy gam).

Bản Cáo trạng số 49/CT-VKS-TD ngày 09 tháng 7 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tương Dương đã truy tố Nguyễn Hữu T về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố vẫn giữ nguyên Quyết định truy tố của Bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm o khoản 2 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để xử phạt bị cáo: Nguyễn Hữu T mức án từ 05 năm đến 05 năm 06 tháng tù, về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo; xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy vật chứng còn lại của vụ án.

Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, không có ý kiến gì tranh luận bổ sung. Lời nói sau cùng trước khi Hội đồng xét xử vào phòng nghị án, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để nhanh chóng trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng: Điều tra viên, Cơ quan điều tra Công an huyện T, tỉnh Nghệ An, Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục theo Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng.

[2] Hành vi phạm tội của bị cáo: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Nguyễn Hữu T đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình như cáo trạng đã truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp lời khai của người chứng kiến đã được công bố công khai tại phiên tòa, phù hợp với biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang, và các chứng cứ tài liệu khác có trong hồ sơ. Vì vậy có đủ cơ sở để kết luận: Vào khoảng 17 giờ 30 phút, ngày 30/4/2024, tại bản X, xã L, huyện T, tỉnh Nghệ An, Nguyễn Hữu T đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,57g Methamphetamine nhằm mục đích để sử dụng. Hành vi mà bị cáo đã thực hiện và khối lượng vật chứng thu được đã cấu thành tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy. Bị cáo đã bị kết án lần thứ hai vào ngày 30 tháng 8 năm 2018 bị Tòa án nhân dân huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An xử phạt 06 năm tù, về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, đến ngày 22 tháng 12 năm 2022 chấp hành xong hình phạt, xác định đã tái phạm, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý, nên phạm tội thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự. Như vậy quyết định truy tố của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Tương Dương đối với bị cáo về tội danh và điều khoản trên là có căn cứ đúng pháp luật.

[3] Tính chất, mức độ hậu quả của vụ án: Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự đã cố ý thực hiện tội phạm rất nghiêm trọng, xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước, gây mất trật tự trị an tại địa phương và là một trong những nguyên nhân gây nên các tệ nạn xã hội và tội phạm. Vì vậy việc cách ly bị cáo ra khỏi cộng đồng xã hội một thời gian nhất định để nhằm giáo dục riêng và phòng ngừa chung là cần thiết.

[4] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[5] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo sau khi phạm tội đã khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải đối với hành vi phạm tội của mình gây ra, nên Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo và

lượng hình ở mức thấp nhất như lời đề nghị của Kiểm sát viên là tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo.

[6] Hình phạt bổ sung: Kết quả xác minh tài sản của bị cáo chỉ đủ duy trì cuộc sống thiết yếu hàng ngày và không có tài sản nào được tạo lập từ việc phạm tội nên chấp nhận đề nghị của Kiểm sát viên miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

Đối với người đàn đã bán ma túy cho Nguyễn Hữu T, quá trình điều tra chưa xác minh được nhân thân, lý lịch cụ thể của những người này nên không có cơ sở để điều tra làm rõ.

Đối với bà Nguyễn Thị L người đã cho Nguyễn Hữu T mượn chiếc xe máy nhãn hiệu Yamaha, Sirius, biển kiểm soát 37D1 -136.06. Quá trình điều tra xác định việc T sử dụng chiếc xe đi ma túy bà L không biết nên hành vi của bà L không cấu thành tội phạm.

[7] Xử lý vật chứng: 0,57g Heroine (đã lấy 0,2g để đi giám định) là vật cấm lưu hành không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy;

Đối với chiếc xe máy nhãn hiệu Yamaha, S, biển kiểm soát 37D1 -136.06 đã qua sử dụng. Quá trình điều tra xác định đây là tài sản thuộc quyền sở hữu của bà Nguyễn Thị L (me đẻ của Nguyễn Hữu T), sinh năm 1959, trú tại bản C, xã X, huyện T, tỉnh Nghệ An. Quá trình cho mượn xe bà L không biết T sử dụng đi mua ma túy nên Cơ quan CSĐT Công an huyện T đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại chiếc xe máy cho bà L theo đúng quy định pháp luật

[8] Án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

[1] Căn cứ điểm o khoản 2 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu T 05 (Năm) năm tù về tội. “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 30/4/2024.

[2] Xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tiêu hủy vật chứng còn lại của vụ án;

(Đặc điểm và tình trạng vật chứng như trong biên bản giao nhận vật chứng ngày 09.7.2024 giữa cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T, tỉnh Nghệ An và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An);

[3] Án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH bị cáo Nguyễn Hữu T phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

[4] Quyền kháng cáo: Bị cáo, Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án lên Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án là ngày 21/8/2024.

Nơi nhận:

  • - TAND, VKSND tỉnh Nghệ An;
  • - VKSND huyện Tương Dương;
  • - Công an huyện Tương Dương;
  • - UBND xã Xá Lượng;
  • - Bị cáo, Trại tạm giam;
  • - Người bào chữa;
  • - Sở Tư Pháp tỉnh Nghệ An;
  • - Chi cục THADS huyện Tương Dương;
  • - Lưu: VP, hồ sơ vụ án

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lương Thị Ái

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 47/2024/HS-ST ngày 21/08/2024 của Tòa án nhân dân huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An về hình sự (tàng trữ trái phép chất ma túy)

  • Số bản án: 47/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tàng trữ trái phép chất ma túy)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger