Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN HÀM TÂN,

TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 47/2023/HS-ST

Ngày: 21-8-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM TÂN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thùy Trang;

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Hữu Ái và Ông Phan Quang Sơn;

Thư ký phiên tòa: Bà Phan Ngọc Trà My - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hàm Tân;

Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Tân tham gia phiên tòa: Ông Nông Ngọc Tuất - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 8 năm 2023 tại Hội trường xét xử TAND huyện Hàm Tân xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 26/2023/TLST-HS ngày 22/5/2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 36/2023/QĐXXST-HS ngày 17/7/2023 và Quyết định hoãn phiên toà số 12/2023/QĐXXST-HS ngày 02/8/2023 đối với bị cáo:

MAIS TA P, (Tên gọi khác: Không), sinh năm 1977 tại tỉnh Đ;

HKTT: Thôn H, xã H1, huyện H2, tỉnh B. Chỗ ở: Thôn T, xã S, huyện H, tỉnh B.

Nghề nghiệp: Làm nông; Trình độ học vấn: Không biết chữ; Dân tộc: Chăm;

Giới tính: Nam; Tôn giáo: Phật giáo; Quốc tịch: Việt Nam;

Con ông: Mais S (Chết) và bà Nguyễn Thị H (Chết);

Bị cáo là con thứ 6 trong gia đình có 08 anh chị em (trong đó có 04 anh chị cùng cha khác mẹ và 03 anh em cùng cha cùng mẹ).

Vợ: Nguyễn Thị B (Đã ly hôn); Sống chung như vợ chồng không đăng ký kết hôn với Nguyễn Thị G, sinh năm 1983; Có 04 con, con lớn nhất sinh năm 2001, con nhỏ nhất sinh năm 2019.

Tiền án, tiền sự: Không

Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 09/12/2022, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện H. Có mặt tại phiên tòa.

* Người bị hại: Bà Nguyễn Thị Thanh P1, sinh năm 1983; Địa chỉ: Thôn T, xã S, huyện H, tỉnh B (Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • + Bà Nguyễn Thanh H1, sinh năm 1950; Địa chỉ: Thôn B, xã S, huyện T, tỉnh B. (Vắng mặt)
  • + Bà Nguyễn Thị G, sinh năm 1983; Địa chỉ: Khu phố C, thị trấn T, huyện H, tỉnh B. (Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 16 giờ 00 phút ngày 09/12/2022, Mais Ta P điều khiển xe mô tô BKS 86B7 - 343.79 chạy trên đường QL55 hướng QL1A - T. Khi đến đoạn gần công trình làm đường cao tốc thuộc thôn T, xã S, huyện H thì thấy chị Nguyễn Thị Thanh P1 đang dừng xe bên lề đường bên phải nghe điện thoại. Do P đã uống rượu và nghĩ rằng chị P1 là vợ P (mặc dù P không biết chị P1) nên P dừng xe trước xe mô tô của chị P1 (khoảng cách 2m) rồi xuống xe, đi đến gần chị P1 nói “mày lấy đồ theo trai hả, mày đưa điện thoại đây”, nói xong P giật điện thoại di động trên tay chị P1, chị P1 chụp tay P kéo lại giằng co với P.

Trong lúc giằng co, P nhìn thấy mặt chị P1 nên biết chị P1 không phải là vợ mình nhưng vẫn giằng lấy điện thoại. Chị P1 không buông điện thoại nên P nói tiếp “mày buông ra không, không buông tao đánh mày” nhưng chị P1 vẫn không buông tay, nên P đã tát vào mặt chị P1 một cái, chị P1 mới buông tay. P cầm điện thoại của chị P1 trên tay rồi đến xe mô tô của mình lên xe chạy đi, chị P1 chạy đến nắm sau xe Pha kéo lại nhưng P vẫn vặn ga tẩu thoát.

Thời điểm này, anh Trần Văn T, là công an viên thôn T, xã S đang đi ngang qua nghe tiếng la của chị P1 “Cướp điện thoại, cướp điện thoại” nên anh T đã quay xe đuổi theo P, đồng thời, anh T điện báo cho Công an xã S, Công an thôn T2 đón chặn. P quay đầu lại thấy có xe mô tô chạy đuổi theo phía sau nên rẽ vào đường đất bên tay trái đường, rồi chạy vào hướng Nghĩa trang thôn T được khoảng 01km thì bị té ngã, bị anh Trần Văn T cùng Lê Tuấn A là Công an viên thôn T và Nguyễn Văn T1 là Trưởng thôn Tân Hòa đuổi kịp bắt giữ, thu giữ 01 điện thoại hiệu OPPO Reno 2F đã qua sử dụng, 01 xe mô tô BKS 86B7 - 343.79.

Sau khi bị bắt, bị cáo còn khai nhận vào khoảng 07h00' sáng ngày 09/12/2022, bị cáo thấy bà Nguyễn Thị G là người sống chung như vợ chồng với bị cáo đang ngồi ở nhà ông Nguyễn Tùng L (Tên gọi khác là Hai R). Bị cáo vào gặp bà G, hỏi lý do tại sao bà G bỏ đi, đồng thời bị cáo đòi lại vàng mà bị cáo gửi bà G giữ, do bà G thách thức nên bị cáo dùng cây sắt đánh bà G. Do đánh nhau trong nhà ông L nên ông L yêu cầu cả hai đi ra ngoài. Khi ra ngoài, bị cáo yêu cầu bà G trả vàng, bà G đồng ý nhưng nói “từ từ em đưa”, nên bị cáo đã dùng tay tháo bông tai và nhẫn kim loại màu vàng bà G đang đeo cất vào ví da.

Bản kết luận định giá tài sản số 33/KL-HĐĐGTS, ngày 16/12/2022 của Hội đồng định giá tài sản theo tố tụng hình sự huyện H, kết luận: 01 điện thoại hiệu Oppo Reno 2F tại thời điểm ngày 09/12/2022 có giá trị là 2.500.000 đồng.

Vật chứng của vụ án:

  • + 01 điện thoại di động OPPO Reno 2F, màu xanh, bên ngoài bọc ốp nhựa màu trắng, bên trong gắn sim có số thuê bao 0355323945, đã được CQĐT trả lại cho bị hại Nguyễn Thị Thanh P1;
  • + 01 xe mô tô BKS 86B7 - 343.79 và 01 giấy đăng ký xe mô tô mang tên Nguyễn Thanh H1. Cơ quan CSĐT Công an H đã chuyển Chi cục thi hành án dân sự huyện Hàm Tân quản lý chờ xử lý.
  • + 01 điện thoại di động Masstel, màu đỏ - đen; 01 con dao hình lưỡi liềm bằng kim loại cán dài 40cm, lưỡi dài 23cm, sắc, nhọn; 01 cái ví da màu nâu; 01 chứng minh nhân dân số [...], 01 căn cước công dân số [...] và 01 giấy phép lái xe số T216394, tất cả giấy tờ mang tên Mais Ta P và số tiền 710.000 đồng, Cơ quan CSĐT Công an H đã trả lại cho Mais Ta P.
  • + 01 chiếc nhẫn bằng kim loại màu vàng; 01 chiếc bông tai bằng kim loại màu vàng, Cơ quan CSĐT Công an H đã trả lại cho Nguyễn Thị G.

Về trách nhiệm dân sự: Nguyễn Thị Thanh P1 đã nhận lại tài sản, không yêu cầu gì thêm về phần dân sự và xin giảm nhẹ hình phạt cho P.

Cáo trạng số 26/CT-VKS-HT ngày 22/5/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Tân đã truy tố bị cáo Mais Ta P về tội “Cướp tài sản” theo khoản 1 Điều 168 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Tân đã truy tố và thống nhất với các điều khoản mà Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Tân đã viện dẫn trong Cáo trạng.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Tân giữ quyền công tố luận tội và tranh luận đã phân tích hành vi phạm tội của bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bị cáo phạm tội “Cướp tài sản” như nội dung Cáo trạng, đồng thời xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ khi quyết định mức hình phạt đối với bị cáo. Đề nghị: Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 168, điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Mais Ta P từ 03 năm tù đến 04 năm tù.

Đối với xe máy BKS 86B7- 343.79 và 01 giấy đăng ký xe mô tô mang tên Nguyễn Thanh H1, đề nghị HĐXX tuyên trả lại cho chủ sở hữu là bà Nguyễn Thanh H1.

* Ý kiến của bị cáo: Bị cáo đồng ý với nội dung và tội danh mà Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Tân đã truy tố, tuy nhiên xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng trong điều tra, truy tố, xét xử.

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện H, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục, quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại, người có quyền và nghĩa vụ liên quan không có ý kiến, hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, phù hợp với lời khai và các tài liệu chứng cứ thu thập được trong quá trình điều tra vụ án, đã có đủ cơ sở xác định:

Ngày 09/12/2022, bị cáo P đã có hành vi giật điện thoại di động của chị P1, chị P1 chụp tay Pha kéo lại giằng co, P đe doạ nếu không buông thì sẽ đánh, chị P1 vẫn không buông tay nên P đã tát vào mặt chị P1 một cái. Bị đánh nên chị P1 buông tay, P cầm điện thoại rồi lên xe chạy đi, chị P1 chạy đến nắm sau xe P kéo lại, nhưng P vẫn vặn ga bỏ chạy, sau đó bị bắt. Bản kết luận định giá tài sản số 33/KL-HĐĐGTS, ngày 16/12/2022 của Hội đồng định giá tài sản theo tố tụng hình sự huyện H, kết luận: 01 điện thoại hiệu Oppo Reno 2F tại thời điểm ngày 09/12/2022 có giá trị là 2.500.000 đồng.

Tại các biên bản ghi lời khai của bị cáo, bị hại, người có quyền, nghĩa vụ liên quan; biên bản hỏi cung; lời khai bị cáo tại phiên tòa đều thống nhất hành vi của bị cáo đúng như Cáo trạng đã nêu.

Hành vi của bị cáo xâm phạm khách thể được Luật Hình sự bảo vệ là quyền sở hữu tài sản, và quyền nhân thân của công dân. Bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức hành vi dùng vũ lực tấn công bị hại để chiếm đoạt tài sản là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp. Như vậy, hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Cướp tài sản” quy định khoản 1 tại Điều 168 Bộ luật Hình sự.

[3] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản và quyền nhân thân của người khác được pháp luật bảo vệ, làm ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự tại địa phương. Vì vậy cần phải dành cho bị cáo mức án thật nghiêm khắc, tương xứng với tính chất mức độ hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện để răn đe đối với bị cáo cũng như phòng ngừa tội phạm chung.

[4] Về trách nhiệm dân sự: Bà Nguyễn Thị Thanh P1 đã nhận lại tài sản, hiện nay không có yêu cầu gì về phần dân sự nên HĐXX không xem xét.

[5] Về tình tiết tăng nặng: Không có.

[6] Về tình tiết giảm nhẹ: Sau khi thực hiện hành vi phạm tội cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình. Bị hại đã có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[7] Về vật chứng vụ án:

  • + 01 xe mô tô BKS 86B7 - 343.79 và 01 giấy đăng ký xe mô tô mang tên Nguyễn Thanh H1. Bị cáo trình bày xe máy nói trên của bị cáo, do mẹ bị cáo đứng tên giùm nhưng không có tài liệu chứng cứ. Hơn nữa, thông tin lưu trữ trên hệ thống dữ liệu dân cư thì mẹ của bị cáo tên Nguyễn Thị H, không phải tên Nguyễn Thanh H1.

Hiện nay, mẹ của bị cáo đã chết và chưa làm thủ tục đăng ký khai tử. Quá trình điều tra, Công an xã S xác định tại thôn B, S, Tánh L1 không có người nào tên Nguyễn Thị H, Nguyễn Thanh H1; Cơ quan CSĐT Công an huyện H cũng đã thông báo truy tìm chủ sở hữu, nhưng không có kết quả, nên không tiến hành làm việc được với chủ sở hữu xe mô tô nói trên. Vì vậy, không đủ căn cứ để xác định xe máy nêu trên có phải là tài sản của bị cáo hay không, cũng không xác định được xe máy nêu trên có phải do bà Nguyễn Thanh H1 giao cho bị cáo thực hiện hành vi phạm tội hay không. Do đó, HĐXX xét thấy cần trả lại xe máy nêu trên cho bà Nguyễn Thanh H1.

  • + 01 điện thoại di động OPPO Reno 2F, màu xanh, bên ngoài bọc ốp nhựa màu trắng, bên trong gắn sim có số thuê bao 0355323945. Đây là tài sản của bị hại, Cơ quan CSĐT Công an huyện H trả lại cho bị hại Nguyễn Thị Thanh P1 là phù hợp nên HĐXX không xem xét.
  • + 01 điện thoại di động Masstel, màu đỏ - đen; 01 con dao hình lưỡi liềm bằng kim loại cán dài 40cm, lưỡi dài 23cm, sắc, nhọn; 01 cái ví da màu nâu; 01 chứng minh nhân dân số [...], 01 căn cước công dân số [...] và 01 giấy phép lái xe số T216394, tất cả giấy tờ mang tên Mais Ta P và số tiền 710.000 đồng. Đây là những vật không liên quan đến việc phạm tội, Cơ quan CSĐT Công an H đã trả lại cho Mais Ta P là phù hợp nên HĐ XX không xem xét.
  • + 01 chiếc nhẫn bằng kim loại màu vàng; 01 chiếc bông tại bằng kim loại màu vàng. Đây là tài sản không liên quan đến việc phạm tội, Cơ quan CSĐT Công an H đã trả lại cho Nguyễn Thị G là phù hợp.

[8] Đối với hành vi bị cáo đánh bà G và lấy tài sản là nhẫn và bông tai, xét thấy, quá trình điều tra xác định việc bị cáo đánh bà G là do mâu thuẫn phát sinh khi hai người còn sống chung. Còn bông tai và nhẫn, đây là tài sản bà G dùng tiền của bị cáo để mua khi hai người còn sống chung, hơn nữa, khi còn sống chung, bị cáo đã bán bò là tài sản riêng của mình mua 03 chỉ vàng và giao cho G giữ hộ, P mới lấy được 01 chỉ, G còn giữ hộ P 2 chỉ. Việc bị cáo lấy nhẫn và bông tai của bà G mục đích là lấy lại tài sản mà mình nhờ G giữ hộ. Do đó, hành vi của bị cáo không đủ yếu tố cấu thành tội phạm, không xem xét xử lý trách nhiệm hình sự là phù hợp.

Đối với hành vi đánh bà G, bà G có lời khai việc bị cáo đánh, bà G chỉ bị thương tích nhẹ, sưng bầm tay chân nên không yêu cầu xử lý hình sự. Vì vậy, không xem xét xử lý trách nhiệm hình sự đối với bị cáo là phù hợp.

[9] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố: Bị cáo Mais Ta P phạm tội “Cướp tài sản”.

Áp dụng: Khoản 1 Điều 168, Điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Mais Ta P 03 (ba) năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 09/12/2022.

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng: Khoản 1 Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Trả lại cho bà Nguyễn Thanh H1 01 xe mô tô BKS 86B7 - 343.79 và 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máysố 021167 đối với xe mô tô BKS 86B7 - 343.79 mang tên Nguyễn Thanh H1, sinh năm 1950, địa chỉ: Thôn B, S, T. Vật chứng nêu trên hiện đang được Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hàm Tân quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 22/5/2023 giữa Công an huyện H và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hàm Tân.

3. Án phí: Áp dụng: Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điểm a Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án

Buộc bị cáo Mais Ta P phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Án xử công khai, báo cho bị cáo có mặt tại phiên tòa biết có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.

Trường hợp bản án được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

THẨM PHÁN

(Ký tên)

Nguyễn Thị Thùy Trang

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Thị Thùy Trang

* Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Bình Thuận;
  • - VKSND huyện Hàm Tân
  • - Công an huyện Hàm Tân;
  • - Cơ quan THAHS CA tỉnh Bình Thuận;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hồ sơ;
  • - Chi cục THADS Hàm Tân;
  • - UBND địa phương bị cáo cư trú.
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 47/2023/HS-ST ngày 21/08/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM TÂN, TỈNH BÌNH THUẬN về cướp tài sản (tội phạm hình sự)

  • Số bản án: 47/2023/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cướp tài sản (Tội phạm Hình sự)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/08/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM TÂN, TỈNH BÌNH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Mais Ta P bị truy tố tội "Cướp tài sản"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger