Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TÂN THẠNH

TỈNH LONG AN

Bản án số: 47/2024/DS-ST

Ngày: 21-6-2024

V/v “Tranh chấp về đòi

lại tiền đặt cọc”

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN THẠNH, TỈNH LONG AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Khánh

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Võ Thị Vân Khánh
  2. Bà Nguyễn Ngọc Nhuận

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Phước Mãi – Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân huyện Tân Thạnh, tỉnh Long An.

Ngày 21 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Thạnh, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 27/2024/TLST-DS ngày 29 tháng 01 năm 2024 về việc “Tranh chấp về đòi lại tiền đặt cọc” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 51/2024/QĐXXST-DS ngày 09 tháng 5 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 44/2024/QĐST-DS ngày 31 tháng 5 năm 2024, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Bà Trần Thị T, sinh năm 1979; Địa chỉ thường trú: Khóm C, Phường B, thị xã D, tỉnh Trà Vinh; Địa chỉ tạm trú: Áp G, xã H, huyện T, tỉnh Long An. (Xin vắng mặt).
  2. Bị đơn: Ông Nguyễn Văn L, sinh năm 1970 và bà Lê Thị X, sinh năm 1972; Cùng địa chỉ: Ấp P, xã H, huyện T, tỉnh Long An. (Vắng mặt không lý do).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện ngày 27/11/2023, thì nội dung khởi kiện của nguyên đơn là bà Trần Thị T đối với ông Nguyễn Văn L, bà Lê Thị X được tóm tắt như sau:

Ngày 18/12/2022, bà T và vợ chồng ông Nguyễn Văn L, bà Lê Thị X có ký kết hợp đồng đặt cọc để đặt cọc chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Theo nội dung hợp đồng đặt cọc, vợ chồng ông L, bà X chuyển nhượng cho bà T phần diện tích đất 495m² (chiều ngang 11m x dài 45m) tọa lạc tại Ấp P, xã H, huyện T, tỉnh Long An (không nhớ rõ số thửa đất), với giá chuyển nhượng là 220.000.000đ. Bà T đã đặt cọc trước cho vợ chồng ông L, bà X số tiền 100.000.000đ, khi nào làm thủ tục chuyển nhượng và sang tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất xong, thì bà T sẽ trả hết số tiền còn lại là 120.000.000đ. Hai bên thỏa thuận là trong tháng 5 năm 2023 âm lịch đến tháng 6 dương lịch thì bên bán phải làm thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho bên mua. Tuy nhiên, cho đến nay, đã quá thời gian mà vợ chồng ông L, bà X không thực hiện việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo thỏa thuận. Bà T đã nhiều lần đến nhà gặp vợ chồng ông L, bà X để yêu cầu thực hiện việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất, nhưng vợ chồng ông L, bà X xin hẹn lại và kéo dài thời gian vẫn không thực hiện. Do đó, nay bà T khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc vợ chồng ông Nguyễn Văn L, bà Lê Thị X có nghĩa vụ liên đới trả cho bà T số tiền đặt cọc chuyển nhượng quyền sử dụng đất là 100.000.000đ, ngoài ra không còn yêu cầu nào khác.

Bị đơn là ông Nguyễn Văn L, bà Lê Thị X đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng thể hiện yêu cầu khởi kiện của bà T đối với ông L, bà X, nhưng ông L và bà X không có bất kỳ văn bản nào gởi cho Tòa án thể hiện ý kiến phản đối yêu cầu khởi kiện của bà T.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tổ chức phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải. Do bị đơn là ông Nguyễn Văn L, bà Lê Thị X không đến tham gia phiên họp, nên Tòa án chỉ tiến hành họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ mà không tổ chức hòa giải được. Sau đó, nguyên đơn có đơn đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải, vụ án được đưa ra xét xử là đúng quy định của pháp luật. Nguyên đơn là bà Trần Thị T có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Bị đơn là ông Nguyễn Văn L, bà Lê Thị X đã được triệu tập để tham gia phiên tòa đến lần thứ 02 mà vẫn vắng mặt, căn cứ quy định tại Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt các đương sự.

[2] Về nội dung vụ án:

[2.1] Xét yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị T về việc đòi ông Nguyễn Văn L, bà Lê Thị X phải trả lại số tiền đặt cọc là 100.000.000đ, Hội đồng xét xử thấy rằng: Văn bản “Hợp đồng đặt cọc ngày 18/12/2022” mà bà T dùng làm chứng cứ khởi kiện ông L, bà X thể hiện nội dung bà T có đặt cọc cho ông L, bà X số tiền 100.000.000đ, để nhận chuyển nhượng phần đất có chiều ngang 11m, chiều dài 45m, do ông Nguyễn Văn L đứng tên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (giá chuyển nhượng phần đất trên là 220.000.000đ). Hai bên thỏa thuận trong tháng 5 âm lịch đến tháng 6 dương lịch, bên bán phải chuyển quyền sử dụng đất cho bên mua. Hợp đồng đặt cọc ngày 18/12/2022 này có chữ ký mang tên ông Nguyễn Văn L, bà Lê Thị X và chữ ký mang tên bà Trần Thị T. Ông Nguyễn Văn L, bà Lê Thị X đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng thể hiện yêu cầu khởi kiện của bà T đối với ông L, bà X, nhưng ông L và bà X không có bất kỳ văn bản nào gởi cho Tòa án thể hiện ý kiến phản đối yêu cầu khởi kiện của bà T hay phản đối chứng cứ do bà T đưa ra. Do đó, Hội đồng xét xử xác định Văn bản “Hợp đồng đặt cọc ngày 18/12/2022” được xác lập giữa bà T với ông L, bà X là có thật.

[2.2] Tuy nhiên, do nội dung “Hợp đồng đặt cọc ngày 18/12/2022” không thể hiện rõ đối tượng quyền sử dụng đất mà thỏa thuận đặt cọc hướng đến để bảo đảm thực hiện việc chuyển nhượng là thửa đất nào? thuộc tờ bản đồ nào? loại đất gì? tọa lạc tại đâu? nên “Hợp đồng đặt cọc ngày 18/12/2022” bị vô hiệu về nội dung do không xác định được đối tượng để thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 408 của Bộ luật Dân sự năm 2015. Do “Hợp đồng đặt cọc ngày 18/12/2022” bị vô hiệu, nên chiếu theo quy định tại Điều 131 của Bộ luật Dân sự năm 2015, bên đặt cọc là bà T yêu cầu bên nhận đặt cọc là ông L, bà X phải hoàn trả lại khoản tiền đặt cọc 100.000.000₫ đã nhận là có căn cứ, nên được chấp nhận.

[3] Về án phí sơ thẩm: Căn cứ Điều 6, Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị đơn là ông Nguyễn Văn L, bà Lê Thị X phải liên đới trách nhiệm chịu án phí là 5.000.000đ. Nguyên đơn là bà Trần Thị T không phải chịu án phí.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 5, Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 161, Điều 227, Điều 228, Điều 483 Bộ luật Tố tụng dân sự; Các Điều 131, Điều 328, Điều 408 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 6, Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị T về đòi lại tiền đặt cọc.

    Buộc ông Nguyễn Văn L, bà Lê Thị X phải liên đới trách nhiệm trả lại cho bà Trần Thị T số tiền đặt cọc đã nhận theo hợp đồng đặt cọc ngày 18/12/2022 là 100.000.000₫.

  2. KỂ TỪ NGÀY BẢN ÁN CÓ HIỆU LỰC PHÁP LUẬT (ĐỐI VỚI CÁC TRƯỜNG HỢP CƠ QUAN THI HÀNH ÁN CÓ QUYỀN CHỦ ĐỘNG RA QUYẾT ĐỊNH THI HÀNH ÁN) HOẶC KỂ TỪ NGÀY CÓ ĐƠN YÊU CẦU THI HÀNH ÁN CỦA NGƯỜI ĐƯỢC THI HÀNH ÁN (ĐỐI VỚI CÁC KHOẢN TIỀN PHẢI TRẢ CHO NGƯỜI ĐƯỢC THI HÀNH ÁN) CHO ĐẾN KHI THI HÀNH ÁN XONG, TẤT CẢ CÁC KHOẢN TIỀN, HÀNG THÁNG BÊN PHẢI THI HÀNH ÁN CÒN PHẢI CHỊU KHOẢN TIỀN LÃI CỦA SỐ TIỀN CHẬM THI HÀNH ÁN, THEO MỨC LÃI SUẤT QUY ĐỊNH TẠI KHOẢN 2 ĐIỀU 468 CỦA BỘ LUẬT DÂN SỰ NĂM 2015.
  3. Về án phí sơ thẩm: Buộc ông Nguyễn Văn L, bà Lê Thị X phải liên đới trách nhiệm nộp 5.000.000đ án phí sung Ngân sách Nhà nước. Hoàn lại cho bà Trần Thị T khoản tiền tạm ứng án phí đã nộp là 2.500.000đ theo biên lai thu số 0003457 ngày 26/01/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Thạnh, tỉnh Long An.
  4. Án xử sơ thẩm công khai, nguyên đơn, bị đơn được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ bản án được giao hoặc được niêm yết theo quy định của pháp luật.
  5. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án hoặc bị cưỡng chế theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • -TAND tỉnh Long An;
  • -VKSND huyện Tân Thạnh;
  • -Chi cục THADS huyện Tân Thạnh;
  • -Đương sự;
  • -Lưu hồ sơ, án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Văn Khánh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 47/2024/DS-ST ngày 21/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN THẠNH, TỈNH LONG AN về tranh chấp về đòi lại tiền đặt cọc

  • Số bản án: 47/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về đòi lại tiền đặt cọc
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/06/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN THẠNH, TỈNH LONG AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bà Trường kiện đòi ông La bà Xinh trả lại tiền cọc đã nhận
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger