|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÓC SƠN THÀNH PHỐ HÀ NỘI |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
|
Bản án số:47/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 20/6/2025
V/v: Tranh chấp ly hôn
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÓC SƠN - THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Thịnh Quang Thắng.
Hội thẩm nhân dân: 1/ Ông Nguyễn Văn Vĩ
2/ Ông Dương Văn Xuyên
- Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Ông Tô Ngọc Lâm – Thư ký Toà án nhân dân huyện Sóc Sơn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn tham gia phiên toà: Ông Đào Xuân Đạt – Kiểm sát viên.
Ngày 20/6/2025, tại trụ sở Toà án nhân dân Huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 146/2025/TLST – HNGĐ ngày 01 tháng 4 năm 2025 về việc “tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 45/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 15/5/2025; Quyết định hoãn phiên toà số 18/2025/QÐST ngày 03/6/2025. Giữa các đương sự:
1.Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị X, sinh năm 1978; CCCD: [...]; Cư trú thôn L, xã B, huyện S, Hà Nội. Có mặt.
2.Bị đơn: Anh Văn Đức T, sinh năm 1975; CCCD: [...]; Cư trú thôn L, xã B, huyện S, Hà Nội;(vắng mặt không có lý do).
NỘI DUNG VỤ ÁN
* Theo đơn khởi kiện ngày 24/9/2024, các lời khai bổ sung, chị Nguyễn Thị X - nguyên đơn trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị với anh Văn Đức T kết hôn năm 2005 nhưng đến ngày 23/12/2011 vợ chồng chị mới đăng ký kết hôn tại UBND xã B. Vợ chồng chị kết hôn trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện không ai gò ép hay ép buộc gì cả. Sau khi cưới vợ chồng chị về chung sống với gia đình chị tại thôn L, xã B, huyện S, Hà Nội. Quá trình chung sống vợ chồng hạnh phúc đến năm 2015 thì xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân là do anh T chơi bời không quan tâm đến gia đình và con cái. Chị khuyên bảo anh T thì vợ chồng lại cãi nhau. Đến năm 2022 thì vợ chồng ly thân. Anh T bỏ vào sinh sống tai miền N địa chỉ cụ thể ở đâu chị không rõ nhưng vẫn liên lạc với con để hỏi han tình hình. Từ đó đến nay anh T không liên lạc gì với chị hay các con và cũng không thông báo địa chỉ cụ thể ở đâu. Gia đình hai bên có biết và hoà giải nhưng không được. Nay chị xác định tình cảm không còn chị xin ly hôn anh T để ổn định cuộc sống.
- Về con chung: vợ chồng cchị sinh được 02 người con chung là cháu Văn Đức A, sinh ngày 21/3/2007 và cháu Văn Đức T1, sinh ngày 20/6/2012. Ly hôn chị có nguyện vọng nuôi dưỡng cả hai con chung. Chị không yêu cầu Toà án giải quyết về vấn đề cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết..
* Đối với anh Văn Đức T hiện nay vẫn cư trú tại thôn T, xã B, huyện S, Hà Nội. Toà án đã tống đạt các thủ tục Văn bản tố tụng cho anh T nhưng anh T không đến Toà án làm việc, không có Văn bản ý kiến gửi cho Toà án nên Toà án không ghi được ý kiến của anh T.
Tại phiên tòa:
* Chị X trình bày: Chị xác định tình cảm không còn chị xin ly hôn anh T để ổn định cuộc sống. Về con chung: Vợ chồng có 02 người con chung là cháu Văn Đức A, sinh ngày 21/3/2007 và cháu Văn Đức T1, sinh ngày 20/6/2012. Ly hôn, cháu Đức A đã thành niên nên chị không yêu cầu Toà án giải quyết. Còn đối với cháu T1, chị có nguyện vọng nuôi dưỡng cháu T1. Chị không yêu cầu Toà án giải quyết về vấn đề cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
- Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán và Hội đồng xét xử: Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng theo trình tự thủ tục pháp luật quy định. Đối với nguyên đơn từ khi thụ lý vụ án đến phiên toà hôm nay đã chấp hành tốt pháp luật không phải nhắc nhở, kiến nghị gì. Bị đơn không chấp hành, gây khó khăn cho việc giải quyết vụ án cần kiến nghị nhắc nhở.
- Về nội dung vụ án:
- + Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị X đối với anh Văn Đức T.
- + Về con chung: Anh chị có 02 người con chung là cháu Văn Đức A, sinh ngày 21/3/2007 và cháu Văn Đức T1, sinh ngày 20/6/2012. Ly hôn, cháu Đức A đã thành niên nên chị X không yêu cầu Toà án giải quyết. Còn đối với cháu T1, giao cháu T1 cho chị X nuôi dưỡng. Chị X không yêu cầu Toà án giải quyết về vấn đề cấp dưỡng nuôi con nên không đặt ra xem xét giải quyết.
- + Về tài sản, nợ chung: Quá trình giải qyết chị X không yêu cầu xem xét nên không đặt ra xem xét giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà. Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ pháp luật:
[1.1] Chị Nguyễn Thị X kết hôn với anh Văn Đức T kết hôn ngày 23/12/2011 vợ chồng chị mới đăng ký kết hôn tại UBND xã B, huyện S, Hà Nội. Anh T hiện cư trú tại thôn T, xã B, S, Hà Nội. Do vậy, xác định quan hệ pháp luật là tranh chấp về ly hôn theo khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự. Vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
[1.2] Trong quá trình giải quyết vụ án anh T đã được Toà án triệu hợp lệ đến Toà án làm việc, hoà giải nhưng anh T cố tình vắng mặt gây khó khăn cho việc giải quyết vụ án. Toà án cũng đã tiến hành lấy lời khai của anh T nhưng anh T không có mặt nên Toà án không thể tiến hành lấy lời khai của anh T. Toà án cũng đã thông báo yêu cầu anh T cung cấp Văn bản ghi ý kiến của mình nhưng anh T không chấp hành. Vì vậy, anh T được coi như đã từ bỏ quyền và nghĩa vụ của mình. Tại phiên toà chị X có đơn xin vắng mặt. Anh T vắng mặt tại phiên toà lần thứ 2 nhưng không có lý do. Do đó, Hội đồng xét xử vắng mặt anh T, chị X là phù hợp với quy định của pháp luật.
[2] Về nội dung:
[2.1] Về quan hệ vợ chồng: Chị Nguyễn Thị X và anh Văn Đức T kết hôn trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã B là hôn nhân hợp pháp. Nay chị X xin ly hôn, anh T không có ý kiến gửi cho Toà án. Căn cứ tài liệu xác minh tại chính quyền địa phương và lời khai của các đương sự thể hiện: Anh chị có nhiều mâu thuẫn, đã ly thân một thời gian dài từ năm 2022 đến nay, không còn trách nhiệm quan tâm chăm sóc lẫn nhau. Anh T không có biện pháp nào cải thiện quan hệ vợ chồng. Quá trình giải quyết anh T không trình bày quan điểm của mình, Toà án có đến lấy lời khi của anh T nhưng không ghi được. Xét thấy, mâu thuẫn giữa chị X và anh T đã quá căng thẳng và trầm trọng không thể hàn gắn được, cuộc sống chung vợ chồng không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được. Việc chị X xin ly hôn với anh T là có căn cứ và phù hợp qui định của pháp luật nên được chấp nhận là phù hợp với Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.
[2.2] Về con chung: Chị X, anh T có 02 người con chung là cháu Văn Đức A, sinh ngày 21/3/2007 và cháu Văn Đức T1, sinh ngày 20/6/2012. Hiện nay, cháu Đức A đã thành niên chị X không yêu cầu xem xét giải quyết. Chị X có nguyện vọng nuôi dưỡng cháu T1. Xét, hiện cháu Đức A đã thành niên chị X không yêu cầu xem xét giải quyết nên không đặt ra giải quyết. Đối với cháu T1 hiện đang ở với chị X và có nguyện vọng ở với chị X, ly hôn anh T không có quan điểm gì về con nên giao cháu T1 cho chị X nuôi dưỡng là phù hợp với quy định của pháp luật. Về cấp dưỡng: Chị X không yêu cầu Toà án xem xét nên không đặt ra xem xét giải quyết.
[2.3] Về tài sản, nợ chung: Các bên xác định không có nên không yêu cầu Toà án giải quyết.
[3] Về án phí ly hôn sơ thẩm: 300.000đ. Chị X phải chịu cả án phí ly hôn sơ thẩm.
[4] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào:
- - Điều 56, 81, 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình.
- - Khoản 1 Điều 28, khoản 4 Điều 147, Điều 203, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
- - Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Điểm 1.1 mục 1 phần II Danh mục án phí, lệ phí Tòa án (ban hành kèm theo Nghị quyết).
Xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của chị Nguyễn Thị X đối với anh Văn Đức T. Chị Nguyễn Thị X được ly hôn anh Văn Đức T.
2. Về con chung: Chị X, anh T có 02 người con chung là cháu Văn Đức A, sinh ngày 21/3/2007 và cháu Văn Đức T1, sinh ngày 20/6/2012. Ly hôn, cháu Đức A đã thành niên nên chị X không yêu cầu Toà án giải quyết. Giao cháu T1 cho chị X nuôi dưỡng cho đến khi con chung thành niên hoặc có sự thay đổi khác. Anh T có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.
Về cấp dưỡng nuôi con: Chị X không yêu cầu Toà án xem xét nên không đặt ra xem xét giải quyết.
3. Về tài sản chung, nợ chung: Các bên không yêu cầu giải quyết nên Tòa án không xem xét.
5. Về án phí: Chị Nguyễn Thị X phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng, theo biên lai số BLTU/23/0073203 ngày 20/3/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sóc Sơn. Chị X đã nộp đủ án phí.
6. Án xử công khai sơ thẩm. Chị X có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Anh T có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án.
|
Nơi nhận:
|
TM HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Thịnh Quang Thắng |
Bản án số 47/2025/HNGĐ-ST ngày 20/06/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÓC SƠN - THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 47/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÓC SƠN - THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Xử chấp nhận yêu cầu ly hôn, con chung và các vấn đề khác có liên quan
