Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

TỈNH NAM ĐỊNH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 47/2025/DS – PT

Ngày: 26 - 5 – 2025

V/v tranh chấp: Quyền sử dụng đất

Ranh giới quyền sử dụng đất.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NAM ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Mai Thị Minh Hồng

Các Thẩm phán: Ông Lại Văn Tùng

Ông Chu Thái Hà

- Thư ký phiên tòa: Bà Đoàn Thị Kim Phượng – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Nam Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nam Định tham gia phiên tòa: Bà Đặng Thị Phương Nhung - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 5 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nam Định xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 14/2024/TLPT – DS ngày 10 tháng 10 năm 2024, về tranh chấp: “Quyền sử dụng đất và Ranh giới quyền sử dụng đất”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 63/2024/DS – ST ngày 26 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Xuân Trường bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 26/2025/QĐXXPT-DS ngày 10 tháng 3 năm 2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Lê Văn D, sinh năm 1938; địa chỉ: Xóm C, xã X, huyện X, tỉnh Nam Định;

Người đại diện theo ủy quyền của ông Lê Văn D: Chị Lê Thị M, sinh năm 1976; địa chỉ: Xóm C, xã X, huyện X, tỉnh Nam Định. Có mặt.

- Bị đơn: Ông Lê Xuân H, sinh năm 1955. Có mặt

Bà Tạ Thị B, sinh năm 1955. Có mặt

Cùng địa chỉ: Xóm C, xã X, huyện X, tỉnh Nam Định.

- Người kế thừa quyền và nghĩa vụ của nguyên đơn và đồng thời là người có

quyền lợi và nghĩa vụ liên quan

  1. Bà Nguyễn Thị B1, sinh năm 1947; địa chỉ: Xóm C, xã X, huyện X, tỉnh Nam Định. Vắng mặt.
  2. Chị Lê Thị M, sinh năm 1976 và anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1972; địa chỉ: Xóm C, xã X, huyện X, tỉnh Nam Định. Có mặt
  3. Chị Lê Thị H1, sinh năm 1969; địa chỉ: Xóm C xã X (nay là xóm A xã X), huyện X, tỉnh Nam Định. Có mặt

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

  • + Ông Lê Đăng K, sinh năm 1966. Có mặt
  • Bà Nguyễn Thị P, sinh năm 1971. Vắng mặt
  • Địa chỉ: Xóm C, xã X, huyện X, tỉnh Nam Định.
  • + Anh Vũ Đức S, sinh năm 1989. Có mặt
  • Chị Đặng Thị Cẩm G, sinh năm 1989. Vắng mặt
  • Địa chỉ: Xóm C, xã X, huyện X, tỉnh Nam Định. Vắng mặt.

- Người đại diện theo uỷ quyền của bà Nguyễn Thị B1, anh Nguyễn Văn T anh Vũ Đức S, chị Đặng Thị Cẩm G, ông Lê Đăng K, bà Nguyễn Thị P, chị Lê Thị H1: Chị Lê Thị M, sinh năm 1976; địa chỉ: Xóm C, xã X, huyện X, tỉnh Nam Định. Có mặt.

- Người làm chứng: Ông Vũ Đức T1, sinh năm 1964; địa chỉ: Xóm C, xã X, huyện X, tỉnh Nam Định. Vắng mặt.

- Người kháng cáo: Ông Lê Xuân H, bà Tạ Thị B (là bị đơn)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo nội dung đơn khởi kiện đề ngày 06-9-2024; Bản tự khai; Lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn, người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn trình bày: Thửa đất của ông Lê Văn D và bà Nguyễn Thị B1 đang sử dụng có nguồn gốc mua của một người ở bên công giáo vào khoảng năm 1963, diện tích không nhớ. Sau đó khoảng năm 1967 mua thêm phần đất ao của hợp tác xã cũng như đổi đất phần trăm từ ngoài đồng vào trong ao mới thành ao to; theo bản đồ lập năm 1993 tại thửa đất số 20, tờ bản đồ số 6 diện tích đất 924m², trong đó đất ở 269m², đất vườn 255m², đất ao 400m²; tứ cận như sau: phía Nam giáp đất nhà ông T2, ông Lê Xuân H, phía Bắc giáp đường, phía Đông giáp nhà Nguyễn Văn P1. Ngày 01/6/2000 đã được UBND huyện X cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng mang tên hộ ông Lê Xuân D1 (Lê Văn D) tại thửa đất số 20, tờ bản đồ số 6 diện tích là 867m², trong đó đất ở 269m², đất ao 400m², đất vườn 198m². Năm 2010 vợ chồng ông D đã cho vợ chồng con gái là Lê Thị M và Nguyễn Văn T (khi đó đã

xảy ra tranh chấp vì ông thấy diện tích nhà ông giáp với nhà ông H thiếu) và năm 2019 ông D cho vợ chồng cháu Vũ Đức S và Đặng Thị Cẩm G một phần diện tích và cho vợ chồng cháu ruột Lê Đăng K và Nguyễn Thị Phương M1 một phần diện tích đất để xây dựng kinh doanh nguyên vật liệu xây dựng (ông D chưa làm thủ tục đất đai theo quy định của pháp luật về cho đất vợ chồng chị M, vợ chồng cháu S). Khi ông D cho con, cho cháu đất và cho cháu mượn đất để kinh doanh thì ông D mắc bệnh và không ra ngoài để chỉ rõ mốc giới như thế nào nên các con và cháu cứ xây dựng theo bức tường nhà ông H đã xây (thực tế con và cháu không nắm rõ được diện tích đất). Đối với phần đất ông D cho các con, cháu và cho cháu mượn đều đã xây dựng các công trình. Do tuổi cao, sức khoẻ yếu cũng như không biết đến sơ đồ đất như thế nào nên không rõ diện tích đất giáp với đất của nhà ông H đến đâu. Từ năm 2008 đến năm 2010 gia đình ông H xây tường bao, thời điểm đó sức khỏe ông yếu, phần đất giáp nhà ông H là ao của ông, có bụi dâm bụt nên hai bên không căn chỉnh xác định được và nhà ông H tự xây tường bao. Khi gia đình ông H xây tường bao hai gia đình đã xảy ra mâu thuẫn, ông đã làm đơn ra Ủy ban nhân dân xã X để giải quyết tranh chấp. UBND xã đến đo đạc và lập biên bản làm việc ngày 31/3/2010 với hai gia đình, cụ thể gia đình ông H đã lấn sang phần đất của nhà ông thể hiện:

  1. Đo thực tế: Phần đất của nhà ông Lê Văn D là 20,6m. Phần đất của ông Lê Xuân H là 22,5m
  2. Xác minh trên bản đồ: Phần đất của hộ ông Lê Văn D là 25m. Phần đất của hộ ông Lê Xuân H là 16,5m.

Đối chiếu với bản đồ địa chính: Phần đất của hộ ông Lê Văn D thực tế đo còn thiếu chiều dài cạnh phía Đông (giáp thổ đất ông P1) là 4,4m. Thổ đất của ông Lê Xuân H thực tế thừa cạnh phía Đông so với bản đồ địa chính là 6,1m.

UNND xã X đã động viên khuyên giải hai gia đình để thoả thuận giải quyết với nhau nhưng hai gia đình không gặp gỡ thoả thuận được, ông chuẩn bị làm đơn khởi kiện giải quyết tranh chấp đất đai thì thời điểm đó sức khoẻ yếu hay đi viện để điều trị, gia đình tập trung để điều trị cho ông nên không giải quyết được. Đến giữa tháng 4 năm 2024, gia đình ông Lê Xuân H có đào móng làm nhà và cho rằng phần móng nhà gia đình bà M có lấn sang đất nhà ông H. Giữa hai gia đình xảy ra tranh chấp nên gia đình ông có khảo sát đo đạc lại phần diện tích nhà mình thì phát hiện ra hiện tại phần diện tích đất nhà ông hiện còn thiếu khoảng 80m² và hiện trạng thửa đất của gia đình ông không đúng như diện tích trên bản đồ lập năm 1987, 1993 và hiện tại gia đình ông H diện tích đất đang thừa ra so với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Khi có tranh chấp gia đình ông đã làm đơn ra UBND xã X đề nghị giải quyết; UBND xã đã có văn bản yêu cầu gia đình ông H không được làm khi đang xảy ra tranh chấp nhưng gia đình ông H vẫn cố tình làm. Gia đình ông H

cho rằng trước kia gia đình ông H khi xây tường bao có sang thương lượng với gia đình ông, gia đình ông và gia đình ông H có nói với nhau bằng miệng phần đất mà hiện các bên đang tranh chấp cho gia đình ông H nhưng ông chưa bao giờ cho ông H phần đất đó. Ông và ông H chưa bao giờ nhận mốc giới để xây tường bao. Căn cứ vào kết quả đo đạc thực tế diện tích đất của nhà ông H thừa so với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, trong đó cạnh phía Đông thửa đất theo bản đồ lập năm 1987 của nhà ông H dài 17m, còn của nhà ông là 26m so với kết quả đo đạc thực tế thì hiện nay cạnh này của nhà ông H là 22,5m thừa ra, trong khi đó ông H lấn sang là 5,4m đất chiều dài của nhà ông. Đất của nhà ông tính từ điểm này kéo về phía Bắc gia đình ông lấy đủ 26m, chiều này có thể bị tiến ra lùi vào đất của nhà ông là hành lang đường. Để đảm bảo cho ông, ông yêu cầu vợ chồng ông H phải trả lại diện tích là 38m² tính từ điểm giáp móng nhà chị M kéo về hướng Đông và từ điểm góc nhà giáp bức tường kéo về phía Nam đoạn này là 5,4 nối hai điểm này với nhau tạo ranh giới hai thửa đất cũng như giáp hộ lân cận. Yêu cầu vợ chồng ông H phải tháo dỡ phần công trình nằm trên phần đất lấn chiếm. Đề nghị Tòa án xác định ranh giới của hai thửa đất.

* Bị đơn ông Lê Xuân H trình bày: Thửa đất mà vợ chồng ông đang sử dụng có nguồn gốc là của bố ông và hai em trai bố ông trước năm 1988. Sau năm 1988, bố ông là ông Lê Đình T3 cho vợ chồng ông vào năm 1989 diện tích đất 273m²; tứ cận thửa đất: Phía Đông giáp ông P1, ông D, phía Nam giáp ông B, phía Tây giáp ông N, phía Bắc giáp ông D. Năm 1990 vợ chồng ông kiến thiết xây nhà 4 gian cấp 4 cùng các công trình phụ. Ngoài ra năm 1989 ông Lê Xuân N được bố là cụ Lê Đình T4 cho diện tích 150m², ông có lô đất ở ngoài xóm H xã X diện tích 270m²; để thuận lợi cho việc sử dụng ông và ông Lê Xuân N đã hoán đổi là ông lấy thửa đất của ông N giáp với đất của nhà ông, còn thửa đất ở xóm H của nhà ông thì ông N sử dụng (đổi ngang nhau), phía Đông thửa đất giáp ông, phía Nam giáp ông B, phía Tây giáp ông T5, phía Bắc giáp ông D. Khi ông và ông Lê Xuân N đổi đất cho nhau không có văn bản mà chỉ nói miệng với nhau.

Thửa đất của vợ chồng ông, ngày 14/9/2007 đã được UBND huyện X cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho vợ chồng ông là Lê Xuân H, Tạ Thị B tại thửa đất số 24, tờ bản đồ 06 diện tích đất 273m², trong đó đất ở 184m², đất vườn 89m²; cấp đại trà. Đối với phần đất mà vợ chồng ông đổi đất cho ông Lê Xuân N do hai bên không làm văn bản theo quy định của pháp luật nên nhà nước không cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng phần đất đổi này. (Phần đất đổi trước đây mang tên ông T3, T2, T4 là 3 anh em).

Trước đây thửa đất của bố ông cho ông phía Bắc thửa đất của nhà ông giáp với phía Nam thửa đất của nhà ông Lê Văn D đều là ao nhưng được ngăn cách bờ ao; năm 1982, bố mẹ ông và anh em đã san lấp ao và khi bố mẹ cho đất vợ chồng ông

là đất nổi, còn nhà ông D vẫn là ao và ngăn cách đất nhà ông với ao nhà ông D lúc đó là dậu dâm bụt do ông D trồng. Hàng dậu dâm bụt không còn nữa do bờ ao lở. Do bờ ao lở nhiều, năm 2006 ông có sang gia đình ông Lê Văn D nói ông D tát ao đi để ông xây kè bờ ao để giữ mốc giới. Ông và ông D đã thống nhất vị trí mốc giới từ nhà giáp nhà ông P1 đến thẳng nhà ông T5, hai bên chỉ thống nhất bằng miệng không có văn bản xác nhận mốc giới cũng như không có sự chứng kiến của cơ sở về xác định mốc giới. Sau khi ông và ông Lê Văn D xác định mốc giới như thế thì ông xây tường cao khoảng 1,3m dài 18m. Cạnh bờ tường giáp đất của nhà ông, bố ông có trồng cây vối, năm 2021 ông mới phá đi, hiện gốc vẫn còn.

Năm 2009 cán bộ địa chính tỉnh Nam Định về đo đạc khảo sát mốc giới của từng gia đình trên địa bàn xã X, gia đình ông và gia đình ông D xác định mốc giới là ông xác định bức tường bao ông đã xây hai bên gia đình không có gì xảy ra. Năm 2010 ông Lê Vă D2 san lấp ao và phân chia đất cho các con, cháu thì lúc đó con gái ông D2 là chị Lê Thị M phá một tường bao của nhà ông dài khoảng 2 mét và xây đè lên trên, trong khi đó công trình phụ và bếp xây giáp vào đó; hai bên có to tiếng với nhau. Do các bên xảy ra tranh chấp ông D2 đã làm đơn ra xã để giải quyết; khi cán bộ địa chính xã đến đo đạc khảo sát hiện trạng nhà ông, địa chính xã cung cấp thông tin là phần đất chỗ nhà chị M xây nhà giáp với phần đất nhà ông là đủ nhưng cạnh phía Đông thửa đất của nhà ông D2 thiếu. Do vậy ngày 31/3/2010 UBND xã lập biên bản làm việc giữa ông và ông D2, trong nội dung biên bản được thể hiện gia đình ông có lấn sang đất của nhà ông D2 cạnh phía Đông là 4,4m giáp ông P1. Trong biên bản xã đã giao cho hai gia đình thoả thuận giải quyết với nhau, sau đó hai gia đình không thoả thuận được với nhau với lý do là khi ông xây bức tường và kè bờ ao, ông và ông D2 đã thống nhất mốc giới. Theo bản đồ lập năm 1987 đoạn đường thẳng chỗ gốc Đông Bắc thửa đất của nhà ông hơi chếch về phía Nam, bản đồ địa chính lập năm 2010 thì đoạn này hơi chếch về phía góc Đông Nam thửa đất của nhà ông D2, bản đồ địa chính đất năm 1987 của nhà ông D2 là 822m², bản đồ năm 1993 chỉnh lý năm 1999 diện tích 867m² tăng 45m², bản đồ lập năm 2010 diện tích 894m². Bản đồ qua các thời kỳ, năm 1999 mang tên T4, T2, Tá diện tích là 1305m²; bản đồ năm 1993 và chỉnh lý năm 1999 diện tích còn 1.111m², diện tích này được tách thành 5 thửa là Huyên diện tích 220m², ông T4 205m², ông T2 243m², ông T5 170m², ông H 273m². Bản đồ lập năm 2010, diện tích là 378m², còn giấy chứng nhận là 273m²; chênh nhau là 105m².

Tháng 4 năm 2024 do nhà và các công trình khác đã xuống cấp nên vợ chồng ông đã phá đi để xây dựng công trình mới. Khi gia đình ông xây dựng công trình mới thì xảy ra tranh chấp, phần nhà ông giáp với phần nhà của bà M khi ông ghép cốt pha ông có bảo vợ chồng bà M đục đi phần bê tông nhưng vợ chồng bà M không làm rồi hai bên xảy ra tranh chấp. Bà M cho rằng gia đình ông lấn sang đất của ông

D2 80m². Hiện nay ông đã đổ móng nhà và cách tường bao khoảng 15cm gần nhất, chỗ xa nhất là 3m. Do đang tranh chấp nên vợ chồng ông dừng việc xây dựng và không thi công nữa.

Ông Lê Văn D cho rằng gia đình ông lấn sang đất nhà ông D là 80m² nhưng căn cứ vào kết quả đo đạc nói lấn 38m² và xác định ranh giới đất là không có cơ sở, gia đình ông không nhất trí. Ông đề nghị Toà án căn cứ vào quy định của pháp luật xem xét giải quyết để đảm bảo quyền lợi cho vợ chồng ông.

* Tại phiên tòa sơ thẩm, gia đình ông H nhất trí trả lại diện tích 38m² cho vợ chồng ông D và tự tháo dỡ phần công trình xây dựng (móng nhà) nằm trên đất không thuộc quyền mình được sử dụng.

* Bà Tạ Thị B trình bày: Bà nhất trí với lời trình bày của ông H. Khi gia đình bà xây tường và kè bờ ao, vợ chồng bà xây tường kè bờ ao bao nhiêu ngày ông D vẫn ra và chứng kiến; ông D vẫn khoẻ mạnh chứ không phải ốm. Nếu như gia đình bà xây dựng, kè bờ ao mà có lấn chiếm thì ông D phải báo cáo chính quyền địa phương nhưng ông D không có ý kiến gì. Vợ chồng bà cũng không muốn tranh chấp nữa, nhất trí trả lại cho vợ chồng ông D diện tích 38m² và tự tháo dỡ phần móng nhà không nằm trên phần đất mình được quyền sử dụng.

* Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Bà Nguyễn Thị B1 có quan điểm: Bà là vợ ông Lê Văn D; vợ chồng bà có tài sản là thửa đất số 20, tờ bản đồ số 6, diện tích đất 867m² ở xóm C xã X, đất đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 2000. Năm 2010 vợ chồng bà cho con gái là Lê Thị M đất thì phát hiện đất nhà bà giáp với nhà ông H bị thiếu nên bắt đầu xảy ra tranh chấp. Năm 2019, vợ chồng bà cho cháu ngoại là Vũ Đức S và Đặng Thị Cẩm G một phần diện tích đất trong phần đất đã được cấp Giấy chứng nhận, mới chỉ cho bằng miệng chưa làm thủ tục cấp Giấy chứng nhận và cho vợ chồng cháu ruột là Lê Đăng K, Nguyễn Thị Phương M1 một phần diện tích đất để kinh doanh nguyên vật liệu xây dựng. Khi cho đất và cho mượn đất bà bị bệnh nặng nên chỉ cho bằng miệng, không ra ngoài chỉ rõ đất như thế nào nên các con và cháu cứ xây theo bức tường nhà ông H. Đối với phần đất cho và cho mượn các con, cháu đều đã xây dựng công trình trên đất. Khoảng năm 2008 đến 2010 nhà ông H xây tường bao, do sức khỏe yếu lúc đó bà chỉ nhớ phần đất giáp nhà ông H là đất ao, có bụi, bờ ao nên không căn chính xác được và nhà ông H đã tự xây tường bao lên. Khi nhà ông H xây tường bao, hai gia đình đã xảy ra mâu thuẫn, Ủy ban lập biên bản hòa giải xong và bà đã làm thủ tục chuẩn bị để giải quyết tranh chấp thì chồng bà là ông D phải đi viện điều trị bệnh nên gia đình chỉ tập trung chữa trị bệnh cho ông D. Đến tháng 4/2024, gia đình ông H đào móng xây dựng nhà và cho rằng phần móng nhà bà M xây sang đất nhà ông H; giữa hai gia đình đã

xảy ra mâu thuẫn, gia đình bà khảo sát đo đạc lại phần đất của nhà mình thì mới phát hiện ra phần đất nhà bà bị thiếu 80m² và hiện trạng thửa đất nhà bà không đúng như bản đồ năm 1987 và bản đồ năm 1993. Hiện đất nhà ông H đang thừa so với Giấy chứng nhận cấp cho nhà ông H. Khi xảy ra tranh chấp gia đình đã làm đơn đề nghị giải quyết, UBND xã đã có văn bản yêu cầu gia đình ông H không được xây dựng vì đất đang có tranh chấp nhưng gia đình ông H vẫn cố tình đổ móng. Gia đình bà chưa bao giờ cho ông H đất, chưa bao giờ chỉ mốc giới để ông H xây tường bao. Đề nghị Tòa án giải quyết buộc gia đình ông Lê Xuân H trả lại phần đất đã lấn cho gia đình bà.

- Chị Lê Thị H1 có quan điểm: Chị là con gái ông Lê Văn D. Bố mẹ chị có tài sản là thửa đất số 20, tờ bản đồ số 6, diện tích đất 867m² ở xóm C xã X, đất đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bố mẹ chị năm 2000. Khoảng năm 2010 bố mẹ chị và gia đình ông H đã xảy ra tranh chấp do nhà ông H xây tường bao sang đất nhà bố mẹ chị, hai bên xảy ra tranh chấp và đã làm đơn ra UBND xã giải quyết. Sau khi UBND lập biên bản hòa giải xong, bố mẹ chị đã làm các thủ tục chuẩn bị để giải quyết tranh chấp ra tòa án thì lúc đó bố chị sức khỏe yếu phải đi viện nên gia đình chỉ tập trung vào chữa bệnh cho bố. Sau đó bố mẹ có cho em gái là Lê Thị M một phần đất đê xây nhà. Đến tháng 4/2024, gia đình ông H đào móng xây dựng nhà và cho rằng phần móng nhà em gái chị là Lê Thị M xây sang đất nhà ông H; giữa hai gia đình đã xảy ra mâu thuẫn, gia đình chị khảo sát đo đạc lại phần đất của nhà mình thì mới phát hiện ra phần đất nhà bố mẹ chị bị thiếu 80m² và hiện trạng thửa đất nhà chị không đúng như bản đồ năm 1987 và bản đồ năm 1993. Hiện đất nhà ông H đang thừa so với Giấy chứng nhận cấp cho nhà ông H. Khi xảy ra tranh chấp gia đình chị đã làm đơn đề nghị giải quyết, UBND xã đã có văn bản yêu cầu gia đình ông H không được xây dựng vì đất đang có tranh chấp nhưng gia đình ông H vẫn cố tình đổ móng. Gia đình ông H cho rằng trước kia gia đình ông H xây tường bao có sang thương lượng với bố chị, khi hòa giải ở xóm và ở ngoài ông H cho rằng ông H xây tường bao có sang thương lượng với bố mẹ chị và bố mẹ chị cho bằng miệng phần đất mà hiện các bên đang có tranh chấp; nhưng bố mẹ chị chưa bao giờ cho ông H phần đất đó, chưa bao giờ chỉ cho ông H mốc giới để xây tường bao. Chị đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Nam Định giải quyết buộc gia đình ông Lê Xuân H trả lại phần đất đã lấn sang đất của gia đình chị.

- Ông Nguyễn Văn T trình bày: Vào năm 2010, ông được bố mẹ là ông Lê Văn D và bà Nguyễn Thị B1 cho một phần diện tích đất để xây nhà tại thửa đất số 20, tờ bản đồ 6, diện tích 867m², tại xóm C, xã X, huyện X, tỉnh Nam Định; đất được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bố mẹ ông vào ngày 01/6/2000. Nguồn gốc đất của bố mẹ ông là của cụ Lê Văn X và cụ Vũ Thị N1. Khi bố mẹ ông cho đất vợ chồng ông chỉ cho bằng miệng chưa làm thủ tục sang tên. Hiện nay ông đã

xây dựng nhà 2 tầng và 1 tum trên đất của bố ông. Ông nhớ khoảng năm 2010 thì gia đình ông và gia đình ông H đã xảy ra tranh chấp do bố ông nói là nhà ông H xây tường bao sang đất nhà ông, hai bên xảy ra tranh chấp mâu thuẫn và thời điểm đó bố ông đã làm đơn ra UBND xã để giải quyết. Sau khi UBND xã lập biên bản hoà giải xong bố mẹ ông đã làm các thủ tục chuẩn bị để giải quyết tranh chấp ra Toà thì lúc đó bố ông sức khoẻ yếu, hay phải đi viện và điều trị bệnh nên gia đình chỉ tập chung vào chữa trị bệnh cho bố ông, thời gian vừa qua sức khoẻ của bố ông mới ổn định. Còn việc ông H xây tường bao như thế nào, xây vào thời gian nào thì ông không biết, ông cũng không chứng kiến.

Đến giữa tháng 4 năm 2024, gia đông ông Lê Xuân H có đào móng để xây dựng nhà và cho rằng phần móng nhà gia dình ông có xây sang đất của nhà ông H, giữa hai gia đình xảy ra mâu thuẫn nên bố mẹ ông có khảo sát lại phần diện tích đất nhà mình thì phát hiện ra hiện tại phần diện tích đất nhà bố ông còn thiếu hơn 80m² và hiện trạng thửa đất của bố mẹ ông không đúng như diện tích của bản đồ lập năm 1987 và bản đồ lập năm 1993; hiện tại diện tích đất gia đình ông H đang thừa ra so với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho gia đình ông H. Phần diện tích đất của bố mẹ ông còn thiếu hiện tại gia đình ông H đang sử dụng. Khi có tranh chấp gia đình ông đã làm đơn ra xã đề nghị giải quyết, UBND xã X đã có văn bản yêu cầu gia đình ông H không được xây dựng vì đất đang tranh chấp nhưng gia đình ông H vẫn cố tình làm móng nhà. Gia đình ông H cho rằng trước kia gia đình ông H khi xây tường đã sang thương lượng với bố ông, khi hoà giải tại xóm và ở ngoài ông H có nói rằng khi ông H xây tường đã sang thương lượng với bố mẹ ông và bố mẹ ông cho bằng miệng phần đất mà hiện các bên đang tranh chấp cho gia đình ông H nhưng bố mẹ ông chưa bao giờ cho ông H phần đất đó, ông cũng chưa bao giờ chỉ mốc giới cho ông H để xây tường bao. Nay ông đề nghị Toà án nhân dân huyện Xuân Trường giải quyết buộc vợ chồng ông Lê Xuân H trả lại phần đất đã lấn chiếm của bố mẹ ông.

- Người làm chứng, ông Vũ Đức T1 trình bày: Ông là con rể của của ông Lê Văn D. Bố mẹ vợ ông có tài sản là thửa đất số 20, tờ bản đồ số 6, diện tích 867m² tại xóm C, xã X, huyện X, tỉnh Nam Định. Đất được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào năm 2000, nguồn gốc đất là của cụ Lê Văn X và cụ Vũ Thị N2 để lại cho bố mẹ. Năm 2010 bố mẹ vợ ông cho vợ chồng dì chú Lê Thị M và Nguyễn Văn T và năm 2019 cho vợ chồng cháu ngoại là cháu Vũ Đức S và Đặng Thị Cẩm G một phần diện tích đất và cho vợ chồng cháu ruột là Lê Đăng K và Nguyễn Thị Phương M1 một phần diện tích đất để xây kinh doanh nguyên vật liệu xây dựng và thiết bị điện. Ông là con rể nên không nắm rõ được diện tích và hiện trạng cụ thể nên cũng không rõ là diện tích đất giáp với phần ông H đến đâu, ông chỉ nhớ đường ranh giới giữa gia đình ông H và gia đình bố ông là đường thẳng chứ không

chéo như bây giờ. Ông chỉ nhớ khoảng năm 2008-2009 thì giữa hai bên gia đình có xảy ra tranh chấp và cũng đã đưa nhau ra Ủy ban xã để giải quyết, sau thời gian đó bố ông ốm suốt và đi viện điều trị còn việc ông H xây tường bao như thế nào và xây vào thời gian nào thì ông không biết. Đến tháng 4 năm 2024, gia đình ông Lê Văn H2 có đào móng để xây dựng nhà và cho rằng phần móng nhà bà M xây sang đất nhà ông H2. Giữa hai gia đình xảy ra mâu thuẫn nên bố ông có khảo sát đo đạc lại phần diện tích đất nhà mình thì phát hiện ra hiện tại phần diện tích đất hiện còn thiếu và hiện trạng thửa đất của gia đình hiện cũng không đúng như diện tích trên bản đồ năm 1987 và bản đồ năm 1993. Đề nghị Tòa án giải quyết đảm bảo quyền lợi cho bố mẹ ông. Ông không liên quan gì đến việc tranh chấp này, đề nghị Tòa án không triệu tập, không báo gọi ông, ông xin vắng mặt tại tất cả các buổi làm việc và xin vắng mặt tại phiên tòa xét xử.

* Kết quả thu thập tài liệu chứng cứ tại UBND xã X.

- Về nguồn gốc đất đang tranh chấp: Thửa đất vợ chồng ông Lê Văn D đang sử dụng có nguồn gốc là của bố mẹ để lại; ngoài ra có mua thêm phần đất ao của Hợp tác xã. Ngày 01/6/2000 UBND huyện X đã cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ ông Lê Xuân D1 tại thửa đất số 20, tờ bản đồ số 6 diện tích 867m²; trong đó đất ở 269m², đất ao 400m², đất vườn 198m².

Thửa đất vợ chồng ông Lê Xuân H đang sử dụng có nguồn gốc là của bố mẹ để lại cho, ngoài ra ông Lê Xuân H còn đổi đất cho ông Lê Xuân N nhưng hai bên không được nhà nước công nhận. Ngày 14/9/2007 UBND huyện X đã cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ ông Lê Xuân H và bà Tạ Thị B tại thửa đất số 24, tờ bản đồ số 06 diện tích đất 273m², trong đó đất ở 184m², đất vườn 89m².

- Kết quả đo đạc thực tế ngày 05/7/2024: Diện tích đất của ông Lê Văn D là 870,5m² trong đó phần đất thuộc hành lang an toàn giao thông là 125,9m², đất sử dụng là 744,6m² chưa cộng phần đang tranh chấp với nhà ông H là 30,5m².

Diện tích đất của ông Lê Xuân H là 370,5m² trong đó có phần tranh chấp là 30,5m² (370,5 m² – 30,5 m² = 340m²)

- So sánh bản đồ qua các thời kỳ với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất:

  1. Đối với đất của ông Lê Văn D, bà Nguyễn Thị B1:
  • + Bản đồ lập năm 1987 và sổ mục kê của xã X thể hiện D tại thửa đất số 132 tờ bản đồ số 02 diện tích đất là 822m², trong đó đất ở 250m², đất vườn 244m², đất ao 328m²
  • Bản đồ lập năm 1993 và sổ mục kê của xã X tại thửa đất số 20, tờ bản đồ số 6 đứng tên D diện tích đất 924m², trong đó đất ở 269m², đất vườn 255m², đất ao 400m²
  • Bản đồ lập năm 1993 chỉnh lý năm 1999 của xã X tại thửa đất số 20, tờ bản đồ số 6 thể hiện D diện tích 867m² đất, trong đó đất ở 269m², đất vườn 198m², đất ao

400m² (bản đồ này là cơ sở để cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ ông D)

Bản đồ lập năm 2010 nhà ông D với tổng diện tích là 894,1 m² được tách thành 04 thửa đất, cụ thể: Thửa 35 với diện tích 98,9 m² đất vườn; Thửa 36 với diện tích 205,9 m² đất ở; Thửa 40 (sát với thửa 36) với diện tích 141,7 m² đất ở; thửa 39 với diện tích 447.6 m² đất ở

  • + So sánh bản đồ lập năm 1987 với bản đồ lập năm 1993 thì diện tích ở bản đồ lập năm 1993 tăng là 102m² (924 m² - 822 m²), lý do tăng là sai số do đo đạc và có thể đương sự chỉ mốc giới ra đường khi đo đạc;
  • So sánh bản đồ lập năm 1987 với bản đồ lập năm 1993 và chỉnh lý năm 1999 thì diện tích ở bản đồ chỉnh lý năm 1999 tăng là 45m² (867 m² - 822 m²); lý do tăng là sai số do đo đạc và có thể đương sự chỉ mốc giới ra đường khi đo đạc;
  • So sánh bản đồ lập năm 1993 và chỉnh lý năm 1999 thì diện tích ở bản đồ lập năm 1999 giảm là 57 m² (924 m² - 867 m²) lý do giảm do mở rộng đường;
  • So sánh bản đồ lập năm 2010 với bản đồ lập 1993 thì diện tích bản đồ lập năm 2010 giảm đi 29,9 m² (924 m² - 894,1 m²);
  • So sánh bản đồ lập năm 2010 với bản đồ lập 1993 chỉnh lý năm 1999 thì diện tích bản đồ lập năm 2010 tăng 27,1 m² (867m² - 894,1m²)
  • So với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất 867m² thì bản đồ lập năm 1987 thiếu 45m² (867 m² - 822 m²), so với bản đồ lập năm 1993 và chỉnh lý năm 1999 thì bản đồ tăng là 57m² (924 m² - 867 m²); so với bản đồ lập năm 2010 thì diện tích bản đồ giảm 24,1m² (894,1 m² - 867 m²).
  1. Đối với đất của nhà ông Lê Xuân H, bà Tạ Thị B:
  • + Bản đồ lập năm 1987 và sổ mục kê của xã X tại thửa đất số 138, tờ bản đồ số 02, thể hiện là T4, T2, Tá diện tích đất là 925m² (Ba ông này là anh em, ông Lê Đình T3 là bố đẻ của ông Lê Xuân H), ngoài ra ông T3 có một thửa đất liền kề với đất số 138 thể hiện Tá 380m²; tổng diện tích là 1305m²
  • Bản đồ lập năm 1993 và sổ mục kê của xã X thì lúc này được tách làm ba thửa tại thửa đất số 28 tên Thám diện tích 317 m² (ông T2 có lấy một phần đất xuống của nhà ông T3); Thửa đất số 27 tên T5 diện tích là 170 m²; Thửa đất số 24 tên Huyến diện tích là 273 m², trong đó đất ở 184 m², đất vườn 89 m²; ông T4 205 m²; bà O (con gái ông T3 và là em ông H 220m²); tổng diện tích là 1185 m² ( so với bản đồ năm 1987 thì giảm đi 120 m² (1305 m² – 1185 m²); lý do giảm là do mở ngõ đường dong đoạn đường từ nhà ông H3 đến nhà ông T2;
  • Bản đồ lập năm 1993 và chỉnh lý năm 1999 của xã X thửa đất số 24, tờ bản đồ số 6 tên H diện tích là 273 m², trong đó đất ở 184 m², đất vườn 89 m². (ông T4 thửa 30 là 205 m²; Huyên (O) thửa 29 là 220 m²; ông T2 thửa 28 là 243 m², ông T5 thửa 27 là 170 m². Tổng diện tích là 1111 m² (so với bản đồ năm 1987 thì giảm đi 194

m² (1305 m² - 1111 m²); lý do giảm là do mở ngõ đường dong đoạn đường từ nhà ông H3 đến nhà ông T2. So với bản đồ lập năm 1993 giảm đi 74 m² (1185 m² - 1111 m²) lý do giảm là do mở ngõ đoạn nhà ông T5, ông H

Bản đồ lập năm 2010 tại thửa đất số 42, tờ bản đồ số 13 thể hiện Huyến diện tích là 378,3 m² trong đó đất ở 271,8 m², đất vườn 106,5 m²; Ông T5 thửa 41 với diện tích 206,3 m²; Bà T6 (T7) thửa 54 với diện tích 179,5 m² và thửa 53 với diện tích 46,1 m²; Ông T8 thửa 55 với diện tích 213,8 m²; Ông H3 thửa 64 với diện tích 293,9 m². Tổng diện tích 1317,9 m². So với bản đồ năm 1993 thì diện tích tăng 132,9 m² (1317,9 m² - 1185 m²); lý do tăng do sai số do đo đạc và đương sự chỉ nhận mốc giới khi đo đạc; So với bản đồ năm 1993 chỉnh lý năm 1999 thì tăng 206,9 m² (1317,9 m² - 1111 m²); lý do tăng do sai số do đo đạc và đương sự chỉ nhận mốc giới khi đo đạc.

  • + So giấy chứng nhận quyền sử dụng đất với bản đồ: Giấy chứng nhận diện tích là 273m² so với bản đồ lập năm 1993 và bản đồ 1993 chỉnh lý năm 1999 là như nhau (đều có diện tích 273 m²). So bản đồ lập năm 2010 diện tích là 378,3 m² với diện tích trong giấy chứng nhận thì ở giấy chứng nhận giảm 105,3 m² (378,3 m² – 273 m²); lý do tăng do sai số do đo đạc và đương sự chỉ nhận mốc giới khi đo đạc.

Theo như ông H trình bày: Ông H có đổi đất cho ông Lê Xuân N (ông N là con ông T4) để ông N lấy thửa đất ở xóm H, xã X. Còn ông H lấy phần đất của ông N (ông T4 là bố ông N cho giáp với phần đất của ông H tại xóm C). Việc ông H và ông N đổi đất cho nhau thì UBND xã X không lưu giữ giấy tờ gì về việc đổi đất giữa các bên. Căn cứ bản đồ lưu tại địa phương không thể hiện đất của ông N có thể hiện đất của ông T4 tuy nhiên khi tách bản đồ năm 1993 thì đất ông T4 ở phía Tây thửa đất giáp đất ông T2, ông T2 giáp đất ông T5, ông T5 giáp ông H và bản đồ chỉnh lý năm 1999 cũng như vậy.

  • - Căn ke bản đồ tỷ lệ 1/1000:
  • + Lập năm 1987 thể hiện cạnh phía Đông thửa đất Thám, T4, T3 là 17 ly tương đương là 17m. Cạnh phía Đông nhà ông D là 26 ly tương đương 26m.
  • Lập năm 1993 thể hiện cạnh phía Đông thửa đất Thám, T4, T3 là 16 ly tương đương là 16m. Cạnh phía Đông nhà ông D là 26 ly tương đương 26m.
  • Năm 2010 thể hiện cạnh phía Đông của nhà ông H đoạn từ giáp nhà ông D3 đến nhà ông B là 16,62 m. Đoạn từ nhà ông D3 đến thửa đất số 35 (nhà ông D) là 6,13 m. Cạnh phía Đông nhà ông D giáp nhà ông P1 là 20,5 m.
  • + So sánh căn ke bản đồ năm 2010 với bản đồ năm 1993 và đo đạc thực tế thể hiện: Bản đồ năm 1987 và 1993 số liệu căn ke bản đồ giống nhau.
  • Nhà ông D giảm đi với bản đồ năm 1993 là 0,63 m ( 26 m – (6.13 m + 20,5m); so sánh thực tế với năm 1993 bị giảm đi 5,2 m (26 m 20,8 m) chưa cộng phần tranh

chấp là 4,4 m. So sánh năm 2010 với đo đạc thực tế thì nhà ông D giảm 5,83 m (26,63 m - 20,8m)

Nhà ông H: năm 1987 tỷ lệ bản đồ 1/2000 căn ke là 8,5 x 2 = 17 ly tương đương 17 m. So sánh năm 1987 với năm 1993 giảm đi 1m. Năm 1993 so với thực tế giảm đi 60 cm; so với năm 1993 chỉnh lý năm 1999 so với thực tế giảm đi 40 cm.

  • - Căn ke bản đồ năm 1993: Cạnh phía Đông nhà ông H và ông D là 4m. Căn cứ vào kết quả đo đạc và bản đồ ranh giới đất giữa nhà ông H và nhà ông D phía Bắc Nam thì đoạn nhà ông H là 16,4 m còn lại là của nhà ông D 23,05 m. Như vậy nhà ông D còn thiếu 3m chính là phần đất tiến ra phía đường thể hiện ở phần đất đo đạc là 3,75 m trừ đi đất hành lang 0,75m là phù hợp
  • - Theo kết quả đo đạc hiện trạng ngày 05/7/2024 của Văn phòng ĐKĐĐ huyện X so sánh với bản đồ thì:

Đối với đất của ông D đo thực tế có diện tích đất là 870,5m² so với bản đồ lập năm 1987 thì diện tích tăng là 48,3m² ( 870,5m² - 822m²) chưa trừ phần hàng lang và chưa cộng phần tranh chấp; so với bản đồ lập năm 1993 và chỉnh lý năm 1999 thì diện tích giảm 53,5m² (924 m² – 870,5 m²); so với bản đồ lập năm 2010 thì diện tích giảm 23,6 m² (870,5 m² - 894,1 m²).

Đối với đất của nhà ông H đo thực tế 370,5m² chưa trừ phần tranh chấp so với bản đồ lập năm 1993 và bản đồ năm 1993 và chỉnh lý năm 1999 thì diện tích thực tế tăng 97,5 m² (370,5 m² – 273 m²) chưa trừ phần tranh chấp. So với bản đồ lập năm 2010 thì diện tích giảm 7,8 m² (378,3 m² - 370,5 m²).

  • - So sánh kết quả đo đạc thực tế với việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của các hộ:

Đất của ông D được cấp theo giấy chứng nhận là 867m² so với đo thực tế là 870,5 m² thì thực tế tăng là 3,5 m², nếu trừ đất hành lang là 125,9 m² còn lại là 744,6 m² so với giấy chứng nhận giảm 122,4 m² (867 m² -744,6 m²) chưa cộng phần tranh chấp là 30,5 m² nếu cộng là 775,1 m² (744,6 m²+ 30,5 m²) so với giấy chứng nhận thiếu 91,9 m² (867 m² - 775,1 m²).

Đất của nhà ông H được cấp giấy chứng nhận là 273m² so với kết quả đo đạc là 370,5m² thì diện tích đo đạc tăng là 97,5m² chưa trừ phần tranh chấp là 30,5m², nếu trừ diện tích còn lại 340m² so với chứng nhận tăng là 67m² (340 m² -273 m²).

  • - Đối chiếu về ranh giới thực tế đất giữa ông D với đất của ông H so với bản đồ qua các thời kỳ: Căn cứ vào hiện trạng thửa đất mà ông D đang sử dụng thể hiện cạnh phía Nam thửa đất của nhà ông D và là cạnh phía Bắc của nhà ông H thể hiện là một đường vát chéo từ đất của nhà ông H về phía góc Đông Nam của nhà ông D, trong đó phần đất nhà ông D nhận sang phần đất của nhà ông H là 4,4m. Còn ông H nhận góc Đông Bắc hiện trạng là đất của nhà ông mà trước đây ông đã xây tường kè bờ ao.

Bản đồ lập năm 1987 thể hiện đường nét phía Nam nhà ông D và nhà ông T4, ông T2, ông T3 là đường nét thẳng không chếch vát so với hiện tại như bây giờ cũng như phần giáp với phần ranh giới của nhà ông P1 với ông D bị lệch nhau. Đến bản đồ lập năm 1993 cũng như bản đồ lập năm 1993 và chỉnh lý năm 1999 tính từ điểm nhà ông T2 kéo từ T9 sang Đ đến giáp đất phân ranh giới nhà ông P1 với nhà ông D là một đường thẳng trong đó phân ranh giới đất phía Nam nhà ông D với phía Bắc nhà ông H. Bản đồ lập năm 2010 thể hiện ranh giới đất phía Nam nhà ông D với phía Bắc của nhà ông H tính từ điểm ghi phần đất đứng tên M là con gái ông D từ điểm đó kéo về phía Đông thể hiện đường nét vát chéo vào sâu phần đất của nhà ông D không trùng khớp với điểm nối phân ranh giới đất của nhà ông P1, nhà ông D nữa đã sai lệch; lý do sai lệnh là gia đình ông H đã lấn vào phần đất của nhà ông D. Thể hiện là năm 2010 gia đình ông D và gia đình ông H đã xảy ra tranh chấp về ranh giới về đất đai, địa phương đã lập biên bản làm việc trong đó biên bản thể hiện: Đo thực tế diện tích đất thổ cư xác định các cạnh, phía Đông (giáp thổ ông P1, từ đường láng 4 vào hết thổ cư của nhà ông Lê Xuân H).

  • + Đo thực tế: Phần đất của thổ ông Lê Xuân D1 là 20,6 m.
  • + Phần đất của nhà ông Lê Xuân H là 22,6 m.
  • + Xác minh trên bản đồ: Phần đất của hộ ông Lê Văn D là 25 m; Phần đất của nhà ông Lê Xuân H là 16,5 m.
  • + Đối chiếu với bản đồ địa chính: Phần đất của hộ ông Lê Văn D còn thiếu thực tế đo chiều dài cạnh phía Đông (giáp đất của nhà ông P1) là 4,4m. Thổ đất của nhà ông Lê Xuân H thực tế thừa cạnh phía Đông so với bản đồ địa chính là 6,1m.

Từ thực tế trên, UBND xã giao lại cho hai bên giữa ông Lê Văn D và con gái Lê Thị H1, Lê Thị M thương thảo cùng với hộ liền kề là ông Lê Xuân H. Nếu hai bên không thương thảo thoả thuận được thì một trong các bên làm đơn đề nghị Toà án nhân dân huyện giải quyết theo quy định của pháp luật.

Sau khi UBND xã làm việc với các bên và giao trách nhiệm cho các bên nhưng từ đó cho đến ngày gia đình ông H đào móng làm nhà thì hai bên không thoả thuận cũng như không đưa ra Toà án để giải quyết về tranh chấp ranh giới đất đai. Thực tế trước đây giáp ranh thửa đất của nhà ông D và giáp đất của nhà ông H đều là đất ao, quá trình sử dụng do bờ ao lở dẫn đến hai bên khi xây dựng công trình không xác định rõ mốc giới. Trước đây giáp ao của nhà ông D với ao của nhà ông H cũng như ao của nhà ông P1, giáp đất của nhà ông D thể hiện từ nhà góc đất phía T nhà ông T2 kéo từ T9 sang Đông đến giáp đất nhà ông D, ông P1 là đường nét thẳng. Kết quả đo đạc thực tế cạnh phía Đông của nhà ông H hiện tại giáp nhà ông D từ N3 về Bắc đến giáp bức tường góc Đông Nam của nhà ông D có độ dài là 22,4 m so với trích lục bản đồ và căn ke thì cạnh này của nhà ông H là 17 m; như vậy thực tế dài 5,4m. Còn đo thực tế của nhà ông D là 17,05 m căn ke bản đồ cạnh là 26 m;

như vậy thiếu 8,95 m trong đó phần thừa của nhà ông H là 5,4 m. Nếu cộng vào cho nhà ông D là 22,45 m (17,05 m + 5,4 m).

Trên cơ sở số liệu cũng như hình thể thửa đất qua các thời kỳ và thực tế sử dụng giữa gia đình ông D và gia đình ông H thì thể hiện gia đình ông H đã lấn sang ranh giới đất của nhà ông D.

Việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: Việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ ông Lê Xuân D1 (Lê Văn D) cũng như cho vợ chồng ông Lê Xuân H, bà Tạ Thị B là cấp theo đại trà.

  • - Lý do xảy ra tranh chấp: Vào năm 2024, vợ chồng ông H làm nhà khi đào móng có một phần bê tông nhà của vợ chồng chị M nhô sang, ông H yêu cầu gia đình chị M phải tháo dỡ đi nhưng gia đình chị M không dỡ nên đã xảy ra tranh chấp. Ông D đã có đơn gửi UBND xã giải quyết. Khi đang xảy ra tranh chấp địa phương đã yêu cầu gia đình ông H dừng thi công và không được đổ móng nhà nữa để chờ giải quyết nhưng gia đình ông H vẫn cố tình đổ móng, địa phương nhắc nhở và có thông báo số 13 ngày 8/5/2024, ông H đã nhận thông báo và cam kết chấp hành theo thông báo.
  • - Quan điểm của địa phương: Nay ông Lê Văn D khởi kiện đòi đất và xác định ranh giới quyền sử dụng đất đối với vợ chồng ông Lê Xuân H; đề nghị Tòa án tiếp tục hòa giải để các bên đi đến thoả thuận, trường hợp các bên không thống nhất được với nhau thì căn cứ vào quy định của pháp luật giải quyết. Trường hợp Toà án buộc vợ chồng ông H phải tháo dỡ một phần móng nhà để trả lại đất cho ông D đề nghị Toà án căn cứ quy định của pháp luật để giải quyết.

* Bản án dân sự sơ thẩm số 63/2024/DS – ST ngày 26 tháng 8 năm 2024 của TAND huyện Xuân Trường đã quyết định:

  1. Căn cứ vào: Điều 166, Điều 175 của Bộ luật dân sự; Điều 5, Điều 100, Điều 166 của Luật đất đai năm 2013; Điều 147 của Bộ luật Tố tụng Dân sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
  2. Xử chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Lê Văn D đối với ông Lê Xuân H, bà Tạ Thì B2.
  • - Buộc vợ chồng ông Lê Xuân H, bà Tạ Thị B phải trả lại diện tích đất 38m² cho vợ chồng ông Lê Văn D, bà Nguyễn Thị B1; buộc ông Lê Xuân H, bà Tạ Thị B phải tháo dỡ phần công trình xây dựng của mình không nằm trên phần đất mà mình được quyền sử dụng.
  • - Giao cho ông Lê Văn D, bà Nguyễn Thị B1 được quyền sử dụng diện tích đất 782.6 m² cùng công trình xây dựng của mình trừ công trình xây dựng của vợ chồng ông Nguyễn Văn T, Lê Thị M, vợ chồng anh Vũ Đức S, chị Đặng Thị Cẩm G; vợ chồng ông Lê Đăng K, bà Nguyễn Thị P nằm trên diện tích đất này tại thửa

đất số 20, tờ bản đồ số 6 tại xã X, huyện X, tỉnh Nam Định.

  • - Giao cho ông Lê Xuân H, bà Tạ Thị B được quyền sử dụng diện tích đất là 332.5m² cùng các công trình xây dựng trên thửa đất này tại thửa đất số 24, tờ bản đồ số 06 tại xã X, huyện X, tỉnh Nam Định.

Ranh giới thửa đất của vợ chồng Lê Văn D, bà Nguyễn Thị B1 với thửa đất của vợ chồng Lê Xuân H, bà Tạ Thị B được xác định từ điểm số 3, 4, 5 là đường kẻ nét đậm.

(Về diện tích, ranh giới, độ dài các cạnh của thửa đất được mô tả chi tiết trong sơ đồ kèm theo).

Đương sự có trách nhiệm liên hệ đăng ký quyền sử dụng đất với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền về quản lý đất đai để điều chỉnh cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quyết định của bản án.

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn quyết định về án phí và quyền kháng cáo cho các đương sự.

* Ngày 06 tháng 9 năm 2024, ông Lê Xuân H, bà Tạ Thị B có kháng cáo với nội dung: Kháng cáo toàn bộ Bản án dân sự sơ thẩm số 63/2024/DS – ST ngày 26 tháng 8 năm 2024 của TAND huyện Xuân Trường

* Tại phiên toà:

- Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của nguyên đơn đồng thời là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt đều giữ nguyên quan điểm, giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.

- Ông Lê Xuân H, bà Tạ Thị B giữ nguyên nội dung kháng cáo.

- Đại diện VKS trình bày quan điểm: Quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên toà phúc thẩm Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các qui định của pháp luật. Các đương sự đều đã chấp hành đầy đủ các qui định của pháp luật.

Về nội dung: Thửa đất vợ chồng ông Lê Văn D đang sử dụng có nguồn gốc là của bố mẹ để lại ngoài ra có mua thêm phần đất ao của Hợp tác xã. Ngày 01/6/2000 UBND huyện X đã cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ ông Lê Xuân D1 tại thửa đất số 20, tờ bản đồ số 6, diện tích 867m²; trong đó đất ở 269m², đất ao 400m² và đất vườn 198m². Thửa đất vợ chồng ông Lê Xuân H đang sử dụng có nguồn gốc là của bố mẹ để lại ngoài ra ông H còn trình bày là đổi đất cho ông Lê Xuân N nhưng hai bên không được nhà nước công nhận. Ngày 14/9/2007 UBND huyện X đã cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ ông Lê Xuân H và bà Tạ Thị B tại thửa đất số 24, tờ bản đồ số 6, diện tích 273m²; trong đó đất ở 184m², đất vườn 89m². Việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ ông Lê Văn D và hộ ông Lê Xuân H là cấp theo đại trà.

Về ranh giới hai thửa đất qua bản đồ và quá trình sử dụng đất giữa hộ ông D và hộ ông H: Căn ke tỷ lệ bản đồ lập năm 1987 và năm 1993; qua đo đạc thực tế thì cạnh phía Đông nhà ông H đang sử dụng thừa 5,4m so với bản đồ, diện tích là 370,5m² so với Giấy chứng nhận được cấp là 273m² thì diện tích thực tế nhiều hơn 97,5m². Căn cứ vào bản đồ thì không có phần đất nào liền kề với đất của hộ ông H đứng tên ông N. Đến nay UBND xã X không lưu giữ tài liệu, giấy tờ gì liên quan đến việc đổi đất giữa ông H với ông N. Căn ke tỷ lệ bản đồ lập năm 1987 và năm 1993 thể hiện cạnh phía Đông nhà ông D là 26m, đo đạc thực tế thì cạnh phía Đông là 20,8m (trong đó có cả phần đất thuộc hành lang giao thông là 3,75m). Diện tích thực tế hộ ông D đang sử dụng là 744,6m², thiếu 122,4m² so với Giấy chứng nhận được cấp. Bản đồ địa chính qua các thời kỳ đều thể hiện ranh giới tiếp giáp giữa phía Nam nhà ông D và phía Bắc nhà ông H là một đường thẳng, không chếch vát. Hiện trạng thể hiện đường ranh giới này lại là nét vát chéo sâu vào phía đất nhà ông D. Tòa án cấp sơ thẩm xác định hộ ông H đã lấn sang đất của hộ ông D và buộc hộ ông H phải trả cho hộ ông D 38m² là hoàn toàn có cơ sở, phù hợp quy định của pháp luật.

Trên diện tích đất 38m² mà hộ ông H phải trả cho hộ ông D thì vợ chồng ông H đã kiến thiết xây dựng đổ bê tông móng nhà. Khi vợ chồng ông H đào móng làm nhà đã xảy ra tranh chấp, UBND xã X đã có Thông báo, đề nghị ông H tạm dừng thi công công trình vì liên quan đến tranh chấp đất đai nhưng ông H không chấp hành mà cố tình làm nên vợ chồng ông H phải có trách nhiệm tháo dỡ phần công trình không nằm trên phần đất của mình được quyền sử dụng để trả lại đất cho vợ chồng ông D và xác định ranh giới của hai thửa đất. Đề nghị căn cứ: khoản 1 Điều 308 BLTTDS; Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của UBTVQH quy định về án phí, lệ phí; đề nghị giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 63/2024/DS-ST ngày 26-8-2024 của TAND huyện Xuân Trường.

Về án phí: Đương sự phải nộp theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ kết quả tranh luận tại phiên toà, HĐXX nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

1.1. Đơn kháng cáo của ông Lê Xuân H, bà Tạ Thị B làm trong thời hạn luật định, được Hội đồng xét xử xem xét theo trình tự phúc thẩm.

1.2. Nguyên đơn là ông Lê Văn D chết ngày 24-3-2025. Theo Điều 74 Bộ luật tố tụng dân sự thì người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng là bà Nguyễn Thị B1, chị Lê Thị H1, chị Lê Thị M.

1.3. Tòa án đã triệu tập hợp lệ nhưng người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Nguyễn Thị B1, anh Nguyễn

Văn T, anh Vũ Đức S, chị Đặng Thị Cẩm G, ông Lê Đăng K, bà Nguyễn Thị P, chị Lê Thị H1 đều đã có văn bản ủy quyền cho chị Lê Thị M, sinh năm 1976; địa chỉ: Xóm C, xã X, huyện X, tỉnh Nam Định. Căn cứ Điều 296 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử phúc thẩm vụ án.

[2] Xét kháng cáo của ông Lê Xuân H, bà Tạ Thị B, Hội đồng xét xử nhận thấy:

2.1. Về nguồn gốc đất: Căn cứ các tài liệu, chứng cứ do các đương sự cung cấp; qua xác minh tại UBND xã X và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án thì: Thửa đất vợ chồng ông Lê Văn D đang sử dụng có nguồn gốc là của bố mẹ để lại, ngoài ra còn mua thêm phần đất ao của Hợp tác xã.

Thửa đất vợ chồng ông Lê Xuân H đang sử dụng có nguồn gốc là của bố mẹ để lại. Theo ông Lê Xuân H thì ngoài đất của bố mẹ để lại cho thì gia đình ông còn đổi đất cho ông Lê Xuân N để ông N lấy thửa đất ở xóm H, xã X còn ông H lấy phần đất của ông N giáp với phần đất của ông H tại xóm C.

2.2. Theo cung cấp của đại diện UBND xã X: Việc ông H và ông N đổi đất cho nhau thì UBND xã X không lưu giữ giấy tờ gì về việc đổi đất giữa các bên. Căn cứ bản đồ lưu tại địa phương không thể hiện đất của ông N, có thể hiện đất của ông T4 tuy nhiên khi tách bản đồ năm 1993 thì đất ông T4 ở phía Tây thửa đất giáp đất ông T2, ông T2 giáp đất ông T5, ông T5 giáp ông H và bản đồ chỉnh lý năm 1999 cũng như vậy.

2.3. Ngày 14/9/2007 ông Lê Xuân H, bà Tạ Thị B được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 24, tờ bản đồ 06, diện tích đất 273m², trong đó đất ở 184m², đất vườn 89m².

Ngày 01/6/2000 hộ ông Lê Xuân D1 (Lê Văn D) được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 20, tờ bản đồ số 6 với diện tích 867m²; trong đó 400m² đất ao, 269m² đất ở và 198m² đất vườn tạp.

Việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ ông Lê Xuân D1 (Lê Văn D) cũng như cho vợ chồng ông Lê Xuân H, bà Tạ Thị B là cấp theo đại trà.

2.4. Xét quá trình sử dụng đất của các đương sự, HĐXX nhận thấy:

  • - Bản đồ xã X lập năm 1987 thể hiện: Thửa đất số 132, tờ bản đồ số 02, diện tích đất là 822m² đứng tên D; trong đó đất ở 250m², đất vườn 244m², đất ao 328m²
  • Thửa số 138, tờ bản đồ số 02, diện tích đất là 925m² đứng tên Thính, T2, T3. Ngoài ra, đứng tên Tá trên một thửa đất liền kề về phía Nam với thửa số 138 có diện tích 380m² (Không có số thửa, không rõ loại đất)
  • - Bản đồ xã X lập năm 1993 thể hiện: Thửa đất số 20, tờ bản đồ số 6 đứng tên D diện tích đất 924m²; trong đó đất ở 269m², đất vườn 255m², đất ao 400m². Lúc này thửa số 138 được tách làm ba thửa, gồm: Thửa đất số 28 mang tên Thám có diện tích 317m², thửa đất số 27 mang tên T5 diện tích là 170m² và thửa đất số 24 mang tên H diện tích là 273m² (trong đó đất ở 184 m², đất vườn 89m². Ông T4

đứng tên thửa số 30 có diện tích 205 m². Bà O (con gái ông T3 và là em ông H) đứng tên trên thửa đất số 29 có diện tích 220 m²);

  • - Bản đồ xã X lập năm 1993 chỉnh lý năm 1999 thể hiện: Tại thửa đất số 20, tờ bản đồ số 6 đứng tên D diện tích 867m², trong đó đất ở 269m², đất vườn 198m², đất ao 400m². Bản đồ này là cơ sở để cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ ông D.
  • Tại thửa đất số 24, tờ bản đồ số 6 tên H diện tích là 273m², trong đó đất ở 184 m², đất vườn 89m². Ông T4 đứng tên tại thửa 30 diện tích là 205 m². Huyên (O) đứng tên tại thửa số 29 diện tích là 220 m². Thửa số 28 đứng tên Thám có diện tích là 243 m². Ông T5 đứng tên tại thửa 27 có diện tích là 170 m².
  • - Bản đồ xã X lập năm 2010 thể hiện: Nhà ông D với tổng diện tích là 894,1 m² được tách thành 04 thửa đất, cụ thể: Thửa 35 với diện tích 98,9 m² đất vườn; Thửa 36 với diện tích 205,9 m² đất ở; Thửa 40 (sát với thửa 36) với diện tích 141,7 m² đất ở; Thửa 39 với diện tích 447,6 m² đất ở
  • Tại thửa đất số 42, tờ bản đồ số 13 thể hiện tên Huyến diện tích là 378,3 m² trong đó đất ở 271,8m², đất vườn 106,5m². Ông T5 thửa số 41 với diện tích 206,3 m². Bà T6 (T7) thửa số 54 với diện tích 179,5 m² và thửa số 53 với diện tích 46,1 m². Ông T8 thửa số 55 với diện tích 213,8 m². Ông H3 thửa số 64 với diện tích 293,9 m². Tổng diện tích 1317,9 m².

[3] Như vậy, diện tích đất sử dụng qua các thời kỳ là có sự thay đổi.

3.1. Đối với đất của hộ ông Lê Văn D, bà Nguyễn Thị B1: Theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp có diện tích là 867m², theo bản đồ lập năm 1987 thì diện tích là 822 m²; tại bản đồ lập năm 1993 thể hiện diện tích là 924m²; đến bản đồ lập năm 1993 chỉnh lý năm 1999 thì diện tích là 867 m²; so với bản đồ lập năm 2010 thì diện tích 894,1 m² được tách thành 04 thửa.

Đối với đất của hộ ông Lê Xuân H, bà Tạ Thị B: Theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp có diện tích là 273m²; theo bản đồ lập năm 1987 và sổ mục kê của xã X tại thửa đất số 138, tờ bản đồ số 02, thể hiện là T4, T2, Tá diện tích đất là 925m² (ông T3 là bố đẻ của ông Lê Xuân H); tại bản đồ lập năm 1993 và bản đồ lập năm 1993 chỉnh lý năm 1999 thì đều có diện tích là 273m²; so với bản đồ lập năm 2010 thì diện tích là 378,3m².

3.2. Đo đạc hiện trạng thể hiện: Diện tích đất của hộ ông Lê Văn D là 870,5m² (chưa trừ phần đất hành lang giao thông và chưa cộng phần đất tranh chấp). Đối với diện tích đất của hộ ông Lê Xuân H là 370,5m² (chưa trừ phần đất tranh chấp).

3.3. Đối chiếu về ranh giới thực tế đất giữa hộ ông D với hộ ông H so với bản đồ qua các thời kỳ: Hiện trạng thửa đất mà ông D đang sử dụng thể hiện cạnh phía Nam thửa đất của nhà ông D và là cạnh phía Bắc của nhà ông H là một đường vát chéo từ đất của nhà ông H về phía góc Đông Nam của nhà ông D; trong đó phần

đất nhà ông D nhận sang phần đất của nhà ông H là 4,4m còn ông H nhận góc Đông Bắc hiện trạng là đất của nhà ông mà trước đây ông đã xây tường kè bờ ao.

Bản đồ lập năm 1987 thể hiện đường nét phía Nam nhà ông D và nhà ông T4, ông T2, ông T3 là đường nét thẳng không chếch vát cũng như phần giáp với phần ranh giới của nhà ông P1 với ông D bị lệch nhau. Đến bản đồ lập năm 1993 cũng như bản đồ lập năm 1993 và chỉnh lý năm 1999 tính từ điểm nhà ông T2 kéo từ T9 sang Đ đến giáp đất phân ranh giới nhà ông P1 với nhà ông D là một đường thẳng; trong đó phân ranh giới đất phía Nam nhà ông D với phía Bắc nhà ông H. Bản đồ lập năm 2010 thể hiện ranh giới đất phía Nam nhà ông D với phía Bắc của nhà ông H tính từ điểm ghi phần đất đứng tên M là con gái ông D kéo về phía Đông thể hiện đường nét vát chéo vào sâu phần đất của nhà ông D, không trùng khớp với điểm nối phân ranh giới đất của nhà ông P1, nhà ông D.

3.4. Năm 2010 gia đình ông D và gia đình ông H đã xảy ra tranh chấp về ranh giới về đất đai, địa phương đã lập biên bản làm việc; biên bản thể hiện: Đo thực tế diện tích đất thổ cư xác định các cạnh, phía Đông (giáp thổ ông P1, từ đường láng 4 vào hết thổ cư của nhà ông Lê Xuân H).

  • + Đo thực tế: Phần đất của thổ ông Lê Xuân D1 là 20,6 m.
  • + Phần đất của nhà ông Lê Xuân H là 22,6 m.
  • + Xác minh trên bản đồ: Phần đất của hộ ông Lê Văn D là 25 m. Phần đất của nhà ông Lê Xuân H là 16,5 m.
  • + Đối chiếu với bản đồ địa chính: Phần đất của hộ ông Lê Văn D còn thiếu thực tế đo chiều dài cạnh phía Đông (giáp đất của nhà ông P1) là 4,4m. Thổ đất của nhà ông Lê Xuân H thực tế thừa cạnh phía Đông so với bản đồ địa chính là 6,1m.

3.5. Thực tế trước đây giáp ranh thửa đất của nhà ông D và giáp đất của nhà ông H đều là đất ao; quá trình sử dụng do bờ ao lở dẫn đến hai bên khi xây dựng công trình không xác định rõ mốc giới. Trước đây giáp ao của nhà ông D với ao của nhà ông H cũng như ao của nhà ông P1, giáp đất của nhà ông D thể hiện từ góc đất phía T nhà ông T2 kéo từ T9 sang Đông đến giáp đất nhà ông D, ông P1 là đường nét thẳng.

3.6. Kết quả đo đạc thực tế cạnh phía Đông của nhà ông H hiện tại giáp nhà ông D từ N3 về Bắc đến giáp bức tường góc Đông Nam của nhà ông D có độ dài là 22,4 m; so với trích lục bản đồ và căn ke thì cạnh này của nhà ông H là 17 m; như vậy thực tế dài 5,4m. Còn đo thực tế của nhà ông D là 17,05 m căn ke bản đồ cạnh là 26 m; như vậy thiếu 8,95 m trong đó phần thừa của nhà ông H là 5,4 m. Nếu cộng vào cho nhà ông D là 22,45 m (17,05 m + 5,4 m).

3.7. Việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ ông Lê Xuân D1 (Lê Văn D) cũng như cho hộ ông Lê Xuân H, bà Tạ Thị B là cấp theo đại trà.

3.8. Tại phiên tòa, ông Lê Xuân H, bà Tạ Thị B đều cho rằng: Khoảng năm 1989 ông Lê Xuân N được bố là cụ Lê Đình T4 cho 150m², ông có lô đất ở ngoài xóm H xã X diện tích 270m²; để thuận tiện cho việc sử dụng ông và ông Lê Xuân N đã hoán đổi, ông lấy thửa đất của ông N giáp với đất của nhà ông, còn thửa đất ở xóm H của nhà ông thì ông N sử dụng (đổi ngang nhau), phía Đông thửa đất giáp ông, phía Nam giáp ông B, phía Tây giáp ông T5, phía Bắc giáp ông D. Giữa ông H và ông Lê Xuân N đổi đất cho nhau không có văn bản mà chỉ nói miệng với nhau.

3.9. Theo cung cấp của đại diện UBND xã X: Việc ông H và ông N đổi đất cho nhau thì UBND xã X không lưu giữ giấy tờ gì về việc đổi đất giữa các bên. Căn cứ bản đồ lưu tại địa phương không thể hiện đất tên ông N có thể hiện đất của ông T4; tuy nhiên, khi tách bản đồ năm 1993 thì đất ông T4 ở phía Tây thửa đất giáp đất ông T2, ông T2 giáp đất ông T5, ông T5 giáp ông H và bản đồ chỉnh lý năm 1999 cũng như vậy.

3.9. Tại phiên tòa, ông Lê Xuân H, bà Tạ Thị B đều cho rằng: Khoảng năm 1989 ông Lê Xuân N được bố là cụ Lê Đình T4 cho 150m², ông có lô đất ở ngoài xóm H xã X diện tích 270m²; để thuận tiện cho việc sử dụng ông và ông Lê Xuân N đã hoán đổi, ông lấy thửa đất của ông N giáp với đất của nhà ông, còn thửa đất ở xóm H của nhà ông thì ông N sử dụng (đổi ngang nhau), phía Đông thửa đất giáp ông, phía Nam giáp ông B, phía Tây giáp ông T5, phía Bắc giáp ông D. Giữa ông H và ông Lê Xuân N đổi đất cho nhau không có văn bản mà chỉ nói miệng với nhau.

3.10. Thực tế, hiện nay phần đất phía Tây nhà ông H là giáp đất ông T5.

[4] Từ những căn cứ nêu trên, trên cơ sở số liệu cũng như hình thể thửa đất qua các thời kỳ và thực tế sử dụng giữa gia đình ông Lê Văn D (Lê Xuân D1) và gia đình ông Lê Xuân H thì thể hiện gia đình ông H đã lấn sang ranh giới đất của nhà ông D1. Tòa án cấp sơ thẩm đã xử chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; buộc vợ chồng ông Lê Xuân H, bà Tạ Thị B phải trả lại diện tích đất 38m² cho vợ chồng ông Lê Văn D, bà Nguyễn Thị B1 và xác định ranh giới thửa đất giữa hộ ông Lê Văn D, bà Nguyễn Thị B1 với hộ ông Lê Xuân H, bà Tạ Thị B là có căn cứ pháp lý, được chấp nhận.

[5] Đối với diện tích đất 38m² mà vợ chồng ông H phải trả lại cho vợ chồng ông D thì trên phần đất này vợ chồng ông H đã kiến thiết xây dựng đổ bê tông móng nhà. Khi vợ chồng ông H đào móng làm nhà thì xảy ra tranh chấp, UBND xã X đã có thông báo số 13 ngày 08/5/2024 của UBND xã X; đề nghị ông Lê Xuân H công dân xóm C, xã X, huyện X, tỉnh Nam Định tạm dừng việc thi công công trình nhà ở của ông H vì liên quan đến tranh chấp đất đai cho đến khi có thông báo mới. Tuy nhiên, gia đình ông H không chấp hành mà vẫn tiếp tục xây dựng đổ bê tông móng nhà.

5.1. Ông Lê Văn D khởi kiện, yêu cầu vợ chồng ông H phải trả lại cho gia đình ông diện tích là 38m² và yêu cầu vợ chồng ông H phải tháo dỡ phần công trình nằm trên phần đất lấn chiếm.

5.2. Tại phiên tòa sơ thẩm, ông Lê Xuân H có quan điểm nhất trí trả lại diện tích 38m² cho vợ chồng ông D và tự tháo dỡ phần công trình xây dựng (móng nhà) nằm trên đất không thuộc quyền mình được sử dụng. Bà Tạ Thị B cũng nhất trí với lời trình bày của ông H; vợ chồng bà cũng không muốn tranh chấp nữa, nhất trí trả lại cho vợ chồng ông D diện tích 38m² và tự tháo dỡ phần móng nhà không nằm trên phần đất mình được quyền sử dụng.

5.3. Tại phiên tòa phúc thẩm: Ông Lê Xuân H, bà Tạ Thị B có quan điểm: Ông bà không nhất trí trả lại đất cho ông D và cũng không nhất trí lấy bằng tiền, không nhất trí trả bằng tiền, không đồng ý thanh toán bằng giá trị nếu như phải trả đất cho ông nguyên đơn. Đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.

[6] Từ những căn cứ nêu trên, xét thấy: Tòa án cấp sơ thẩm đã xử chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Lê Văn D đối với ông Lê Xuân H, bà Tạ Thì B2. Buộc vợ chồng ông Lê Xuân H, bà Tạ Thị B phải trả lại diện tích đất 38m² cho vợ chồng ông Lê Văn D, bà Nguyễn Thị B1; buộc ông Lê Xuân H, bà Tạ Thị B phải tháo dỡ phần công trình xây dựng của mình không nằm trên phần đất mà mình được quyền sử dụng là có căn cứ chấp nhận. Tại cấp phúc thẩm, các đương sự cũng không cung cấp được tài liệu, chứng cứ nào mới khác; người kháng cáo cũng không cung cấp được tài liệu, chứng cứ nào mới khác để chứng minh cho yêu cầu kháng cáo của mình nên không có cơ sở xem xét chấp nhận.

[7] Do kháng cáo không được chấp nhận nên đương sự có kháng cáo phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, ông Lê Xuân H, bà Tạ Thị B là người cao tuổi và có đề nghị Tòa án xem xét miễn án phí phúc thẩm. Do vậy, Hội đồng xét xử miễn án phí dân sự phúc thẩm cho ông Lê Xuân H, bà Tạ Thị B.

[8] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã phát sinh hiệu lực pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ: khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự. Giữ nguyên các quyết định của bản án sơ thẩm.

Bản án dân sự sơ thẩm số: 63/2024/DS-ST ngày 26 tháng 8 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Xuân Trường có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án phúc thẩm.

2. Án phí dân sự phúc thẩm: Miễn án phí dân sự phúc thẩm cho ông Lê Xuân H, bà Tạ Thị B.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực thi hành kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Nam Định;
  • - TAND, VKSND huyện Xuân Trường;
  • - Chi cục THADS huyện Xuân Trường;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án;

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Mai Thị Minh Hồng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 47/2025/DS – PT ngày 26/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NAM ĐỊNH về quyền sử dụng đất và ranh giới quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 47/2025/DS – PT
  • Quan hệ pháp luật: Quyền sử dụng đất và Ranh giới quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 26/05/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NAM ĐỊNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: 1. Căn cứ: khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự. Giữ nguyên các quyết định của bản án sơ thẩm. Bản án dân sự sơ thẩm số: 63/2024/DS-ST ngày 26 tháng 8 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Xuân Trường có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án phúc thẩm. 2. Án phí dân sự phúc thẩm: Miễn án phí dân sự phúc thẩm cho ông Lê Xuân H, bà Tạ Thị B. Bản án phúc thẩm có hiệu lực thi hành kể từ ngày tuyên án.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger