Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 47/2025/DS-PT

Ngày 17-3-2025

V/v: “Tranh chấp đòi lại tài sản”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị Thương

Các Thẩm phán: Ông Cao Minh Vỹ

Ông Trịnh Hoàng Anh

- Thư ký phiên tòa: Ông Võ Công Trứ – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu tham gia phiên tòa: Ông Thái Quốc Bảo - Kiểm sát viên

Trong các ngày 11 và 17 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 263/2024/TLPT-DS ngày 22 tháng 11 năm 2024 về việc “Tranh chấp đòi lại tài sản”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 96 /2024/DS-ST ngày 20 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 14/2024/QĐ-PT ngày 16 tháng 01 năm 2025; Quyết định hoãn phiên tòa số 22/2025/QĐ-PT ngày 18 tháng 02 năm 2025, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Phạm Thị T, sinh năm 1957 (có mặt);

Địa chỉ: Tổ D, Ấp P, xã H, huyện X, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

Người đại diện theo ủy quyền: Bà Nguyễn Thị Bạch T1, sinh năm 1999 (có mặt);

Địa chỉ: Ấp T, xã P, huyện X, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn: Ông Huỳnh Nhật Q– Luật sư Công ty L, chi nhánh D1, Đoàn Luật sư tỉnh B (có mặt).

Địa chỉ: A H, khu phố D, thị trấn D, huyện D, tỉnh Bình Dương.

2. Bị đơn: Bà Lê Thị Hoài T2, sinh năm 1974 (vắng mặt);

Địa chỉ: Tổ F, Ấp P, xã H, huyện X, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

Người đại diện theo ủy quyền của bà T2: Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1966 (có mặt);

Địa chỉ: Tổ A H, Quận L, thành phố Đà Nẵng.

3. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

3.1. Bà Lê Thúy Ngọc Kiều Vân A, sinh năm 1973 (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt);

Địa chỉ: Tổ A, ấp P, xã H, huyện X, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu.

3.2. Ông Lê Gia T3, sinh năm 1979 (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt);

Địa chỉ: Tổ D, ấp P, xã H, huyện X, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

3.3. Bà Lê Thùy Kim O, sinh năm 1982 (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt);

Địa chỉ: Tổ A, ấp P, xã H, huyện X, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu.

3.4. Ông Lê Lưỡng Q1, sinh năm 1984 (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt);

Địa chỉ: Tổ E, ấp P, xã H, huyện X, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu.

3.5. Ông Lê Chính T4, sinh năm 1986 (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt);

Địa chỉ: Tổ A, ấp P, xã H, huyện X, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu.

3.6. Ông Lê Quốc T5, sinh năm 1988 (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt);

Địa chỉ: Tổ A, ấp P, xã H, huyện X, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu.

3.7. Ông Lê Công D, sinh năm 1990 (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt);

Địa chỉ: Tổ A, ấp P, xã H, huyện X, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu.

3.8. Ông Đào Văn T6, sinh năm 1964 (vắng mặt);

Địa chỉ: Tổ G, ấp P, xã H, huyện X, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu.

4. Người làm chứng: Bà Nguyễn Thị S, sinh năm 1985 (có mặt);

Địa chỉ: Tổ E, ấp P, xã H, huyện X, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu

-Người kháng cáo: Bị đơn bà Lê Thị Hoài T2

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn bà Phạm Thị T trình bày và xác định yêu cầu khởi kiện:

Bà Phạm Thị T có chồng là ông Lê Văn V (đã chết năm 2022). Vợ chồng bà T có các con gồm bà Lê Thúy Ngọc Kiều Vân A, ông Lê Gia T3, bà Lê Thùy Kim O, ông Lê Lưỡng Q1, ông Lê Chính T4, ông Lê Quốc T5, ông Lê Công D.

1. Ngày 29-6-2016, vợ chồng bà T có cho bà Lê Thị Hoài T2 vay số tiền là 450.000.000 đồng, lãi suất 2%/tháng, không có thỏa thuận thời hạn vay, các bên có làm giấy tờ viết tay. Bà T2 trả lãi đến tháng 9/2018 (hàng tháng bà T2 trả đúng cam kết 2%/tháng, cụ thể 9.000.000 đồng/tháng), đến tháng 9/2018 bà T2 không trả nữa. Khi trả lãi các bên không làm giấy tờ gì cả. Từ khi bà T2 không trả lãi, bà T liên tục đòi bà T2 cho đến nay; mỗi lần đòi bà T gặp bà T2 tại nhà bà T2 chứ không có chứng cứ gì. Lần đòi gần nhất là đầu năm 2023 và bà T2 thừa nhận số tiền gốc và lãi tại Công an huyện X, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Trong quá trình bà T đòi nợ, bà T2 có trả cho bà T số tiền là 54.000.000 đồng (trong đó 50.000.000 đồng trả thông qua bà Nguyễn Thị T7, có làm giấy tờ; còn 4.000.000 đồng bà T2 trực tiếp đưa cho bà T cách đây khoảng năm 2020).

2. Ngày 09-02-2017, bà T cho bà T2 vay số tiền là 1.200.000.000 đồng, lãi suất 2%/tháng, không có thỏa thời hạn vay, các bên có làm giấy tờ tay. Số tiền này bà T2 không trả lãi đồng nào. Bà T đòi lại số tiền này từ cuối năm 2018 đến nay, thường xuyên đến nhà gặp bà T2 để nói chuyện, lần gần nhất đòi là tháng 01/2023.

Bà T2 nói số tiền ghi khống là không đúng, vì nếu bà T buộc bà T2 ghi khống thì tại sao không ghi là 1.050.000.000 đồng mà ghi là 1.200.000.000 đồng. Thời điểm bà T gửi đơn bà T2 tại Công an huyện X, bà T chưa tìm được giấy vay số tiền là 1.200.000.000 đồng nên tạm thời không đề cập trong đơn tại Công an. Khoảng tháng 5-2023, bà T tìm và đốt những vật dụng, thuốc men của chồng bà T thì bà T mới thấy giấy vay tiền này. Số tiền này là tiền riêng của bà T cho bà T2 vay, giấy tờ vay bà T giữ nhưng đưa cho ông V xem. Khi thấy bà T2 không trả tiền, bà T đã nói sự việc này cho ông V nên vợ chồng xảy ra mâu thuẫn và ông V giữ luôn giấy này.

Nay, bà T yêu cầu bà T2 trả lại số tiền là 450.000.000 đồng và 1.200.000.000 đồng, tổng cộng là 1.650.000.000 đồng và số tiền lãi suất được tính theo hợp đồng vay ngày 29-6-2016 và hợp đồng vay ngày 09-02-2017 cho đến khi mở phiên tòa xét xử sơ thẩm.

Tại phiên tòa sơ thẩm, bà T xin rút một phần yêu cầu số tiền là 50.000.000 đồng đối với số tiền là 450.000.000 đồng và rút yêu cầu số tiền lãi suất được tính theo hợp đồng vay ngày 29-6-2016 và hợp đồng vay ngày 09-02-2017 cho đến khi mở phiên tòa xét xử sơ thẩm. Bà T chỉ yêu cầu bà T2 trả lại số tiền là 400.000.000 đồng và số tiền là 1.200.000.000 đồng.

Quá trình tham gia tố tụng, bị đơn bà Lê Thị Hoài T2 trình bày:

1. Đối với yêu cầu của bà T trả lại số tiền 450.000.000 đồng:

Bà T2 đã trả lãi cho bà T đến tháng 9-2019 (chứ không phải là tháng 9/2018). Tại Công an huyện X, bà T2 có cam kết trả lại số tiền là 450.000.000 đồng, còn tiền lãi bà T2 có xin bà T. Nay bà T2 đồng ý trả lại số tiền là 450.000.000 đồng nhưng trừ đi số tiền là 50.000.000 đồng đã trả trước đây (Bà T7 trả mà bà T đã thừa nhận), phần lãi thì bà T2 yêu cầu không tính vì tại Công an huyện X bà T không lấy lãi.

Trong biên bản làm việc tại Công an huyện X ngày 30-3-2023, bà T có nêu số tiền là 1.050.000.000 đồng (trong đó, nợ bà T 450.000.000 đồng, nợ con bà T là ông Q1 là 400.000.000 đồng hiện nay ông Q1 cũng đã khởi kiện các bên đã hòa giải thành; nợ con bà T là ông T3 là 200.000.000 đồng hiện nay ông T3 cũng đã khởi kiện các bên đã hòa giải thành). Tại Công an huyện X, bà T2 có nhắc lại cho bà T số tiền là 50.000.000 đồng mà bà T2 đã trả, bà T công nhận nên Công an huyện X có chốt nợ là 1.000.000.000 đồng (tức 1.050.000.000 đồng – 50.000.000 đồng). Khi đó, bà T công nhận là 1.000.000.000 đồng tiền gốc và yêu cầu tính tiền lãi, bà T mới tính lên hơn là 1.000.000.000 đồng tiền lãi, Công an huyện X nhập vào và tính tổng cộng ra là 2.205.000.000 đồng, bà T2 không chấp nhận số tiền lãi đó. Bên Công an nói bà T2 phải trả 500.000.000/tháng, trả hết là 1.000.000.000 đồng tiền gốc mới xin tiền lãi cho bà T2, còn nếu trong một tháng mà không trả thì Công an sẽ xử lý hình sự.

Nay, tại phiên tòa bà T yêu cầu trả lại số tiền là 400.000.000 đồng thì bà T2 đồng ý.

2. Đối với yêu cầu của bà T trả lại số tiền là 1.200.000.000 đồng:

Số tiền này là không có thật và bà T không đề cập trong quá trình làm việc tại Công an huyện X. Chữ ký và chữ viết Lê Thị Hoài T2 là của bà T2 ký và viết, khi bà T2 bị các chủ nợ khởi kiện ra Tòa án nhân dân huyện Xuyên Mộc thì vợ chồng bà T có đến nhà bà T2 nói: “Bác V nói bây giờ đầu óc không biết gì đâu, mình phải bày cho nó, phải viết một tờ giấy khống nợ 1.200.000.000 đồng, nếu phải thi hành án cho các vụ án chủ nợ khác đang kiện bà T2 ở Tòa án, thì phần đó mình cũng được nhiều để bù vào chỗ 1.050.000.000 đồng (Nợ bà T, ông T3, ông Q1) đã thiếu trước đó”. Bà T có nói tại nhà bà T2 là nếu viết tờ giấy nợ 1.200.000.000 đồng thì bà T và ông V sẽ không khởi kiện bà T2 ra Tòa án. Việc bà T khai bà T cho bà T2 mượn 1.200.000.000 là do tiền riêng của bà T, chỉ có bà T biết là không đúng vì trong giấy mượn tiền có ghi rõ mượn của bác V và bác T.

Nay, tại phiên tòa bà T yêu cầu trả lại số tiền là 1.200.000.000 đồng thì bà T2 không đồng ý.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là các ông bà Lê Thúy Ngọc Kiều Vân A, Lê Gia T3, Lê Thùy Kim O,Lê Lưỡng Q1,Lê Chính T4, Lê Quốc T5,Lê Công Dcùng thống nhất trình bày:

Các ông bà là con ruột của bà T và ông V. Bà T có cho bà T2 vay số tiền là 450.000.000 đồng và 1.200.000.000 đồng. Trong đó, số tiền là 450.000.000 đồng là số tiền chung của vợ chồng bà T, còn số tiền là 1.200.000.000 đồng là tiền riêng của bà T.

Năm 2022, ông V chết nhưng không để lại di chúc nên ½ quyền sở hữu của ông V trong khối tài sản chung của vợ chồng là số tiền 450.000.000 đồng đã cho bà T2 vay, tương ứng số tiền là 225.000.000 đồng sẽ được thừa kế lại cho bà T và 07 người con là các ông bà được hưởng. Nay, các ông bà thống nhất để cho mẹ là bà T được hưởng toàn bộ phần di sản mà ông bà được hưởng trong số tiền 450.000.000 đồng cho bà T2 vay, bà T được quyền sở hữu toàn bộ số tiền là 450.000.000 đồng.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Đào Văn T6 trình bày:

Ông T6 là chồng bà T2, số tiền mà các bên tranh chấp trong vụ án không liên quan gì đến ông T6.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số 96/2024/DS-ST ngày 20 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, đã tuyên xử:

1. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị T đối với số tiền là 50.000.000 đồng và số tiền lãi suất (Lãi suất được tính theo hợp đồng vay ngày 29-6-2016 và hợp đồng vay ngày 09-02-2017 cho đến khi mở phiên tòa xét xử sơ thẩm).

2. Công nhận sự thỏa thuận giữa bà Phạm Thị T và bà Lê Thị Hoài T2 về việc bà Lê Thị Hoài T2 đồng ý trả lại cho bà Phạm Thị T số tiền là 400.000.000 (Bốn trăm triệu) đồng.

3. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị T đối với bà Lê Thị Hoài T2.

Buộc bà Lê Thị Hoài T2 có nghĩa vụ trả lại cho bà Phạm Thị T số tiền là 1.200.000.000 (Một tỷ, hai trăm triệu) đồng.

Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về án phí, nghĩa vụ do chậm thi hành án và quyền kháng cáo theo luật định.

Ngày 27-8-2024, Bà Lê Thị Hoài T2 nộp đơn kháng cáo bản án sơ thẩm, yêu cầu cấp phúc thẩm sửa án theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với số tiền 1.200.000.000₫.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.

Bị đơn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo

Các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.

-Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu về việc giải quyết vụ án:

Về tố tụng: Đơn kháng cáo của bị đơn nộp trong thời hạn luật định. Những người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng và đầy đủ trình tự, thủ tục tố tụng theo quy định. Những người tham gia tố tụng một số thực hiện đúng, một số chưa thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị đơn, sửa một phần bản án sơ thẩm, buộc bà T2 trả cho bà T 1.100.000.000 đồng đối với khoản vay ngày 09-02-2017.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, trên cơ sở kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Đơn kháng cáo của bà Lê Thị Hoài T2 nộp trong thời hạn luật định nên được chấp nhận xem xét theo thủ tục phúc thẩm.

[1.2] Những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là các ông bà Lê Thúy Ngọc Kiều Vân A, Lê Gia T3, Lê Thùy Kim O, Lê Lưỡng Q1, Lê Chính T4, Lê Quốc T5, Lê Công D có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan khác là ông Đào Văn T6 vắng mặt lần thứ hai không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Do vậy, Hội đồng xét xử căn cứ Khoản 2, Khoản 3 Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự, xử vắng mặt các ông bà có tên nêu trên.

[2] Xét yêu cầu kháng cáo của bà Lê Thị Hoài T2:

[2.1] Bà Lê Thị Hoài T2 đồng ý với bản án sơ thẩm về việc tuyên bà T2 đồng ý trả cho bà Phạm Thị T số tiền 400.000.000 đồng (khoản nợ theo giấy vay tiền ngày 29-6-2016), bà chỉ kháng cáo đối với việc tuyên buộc bà có nghĩa vụ trả cho bà T số tiền 1.200.000.000 đồng (khoản nợ theo giấy vay tiền ngày 09-02-2017). Căn cứ Điều 293 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án cấp phúc thẩm xem xét giải quyết trong phạm vi kháng cáo của bà T2 đối với số tiền 1.200.000.000 đồng.

[2.2] Quá trình tố tụng và tại phiên tòa phúc thẩm bà T2 cùng người đại diện theo ủy quyền xác định chính bà T2 là người viết nội dung, ký và ghi rõ họ tên vào giấy vay tiền ngày 09-02-2017, trong đó có nội dung “....cháu T2 đã nhận số tiền của bác T đủ...”.

Bà T2 cho rằng bà không hề nhận khoản tiền 1.200.000.000 đồng từ bà T mà là do bà T2 còn nhiều khoản nợ đối với những chủ nợ khác, nên bà T yêu cầu bà T2 lập giấy xác nhận khoản nợ này và lùi ngày để nhằm mục đích nếu cơ quan nhà nước có thẩm quyền phát mãi tài sản để thi hành các bản án, quyết định của Tòa án đối với các khoản nợ của chủ nợ khác thì bà T và các con bà T sẽ được xem xét thanh toán ưu tiên hơn. Nếu bà T2 không làm theo yêu cầu thì bà T sẽ nói vợ chồng các con bà là ông Q1 và ông T3 khởi kiện bà T2 đòi các khoản nợ mà bà T2 vay của họ. Tuy nhiên lời trình bày này của bà T2 không được bà T thừa nhận và bà T2 cũng không đưa ra được chứng cứ chứng minh cho lời trình bày của mình. Do vậy Tòa án cấp sơ thẩm buộc bà T2 phải trả cho bà T số tiền 1.200.000.000 đồng là có cơ sở.

Tuy nhiên, tại phiên tòa phúc thẩm, bà T tự nguyện giảm cho bà T2 số tiền 100.000.000 đồng, bà T đồng ý chỉ nhận lại từ bà T2 số tiền 1.100.000.000 đồng. Xét đây là sự tự nguyện của bà T nên Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện này.

[2.3] Trong vụ án này án phí dân sự sơ thẩm được tính là án phí có giá ngạch trên số tiền mà bà T2 có nghĩa vụ trả cho bà T. Tòa án cấp sơ thẩm tính án phí không có giá ngạch là chưa chính xác, nên cấp phúc thẩm sửa lại cho phù hợp.

Từ phân tích, nhận định trên, cần không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà T2, sửa một phần bản án sơ thẩm.

[3] Về án phí:

- Án phí dân sự sơ thẩm: Bà T2 phải nộp án phí có giá ngạch trên số tiền có nghĩa vụ thanh toán cho bà T. Bà T2 có đơn xin giảm án phí do kinh tế khó khăn nên cần giảm ½ án phí cho bà T2.

-Án phí dân sự phúc thẩm: Kháng cáo của bị đơn bà T2 không được chấp nhận nên bà T2 phải chịu.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Khoản 2 Điều 308 và Điều 309 Bộ luật Tố tụng dân sự, không chấp nhận kháng cáo của bà Lê Thị Hoài T2; sửa một phần bản án sơ thẩm số 96/2024/DS-ST ngày 20-8-2024 của Tòa án nhân dân huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, như sau:

Căn cứ vào Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 227, Điều 228, Điều 244, Điều 296 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Các Điều 155, 158, 166 Bộ luật Dân sự; Điều 26, Điều 29 Nghị quyết số 326/2026/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;

Tuyên xử:

1. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị T đối với số tiền 50.000.000 đồng trong giấy vay ngày 29-6-2016 và số tiền lãi suất của giấy vay ngày 29-6-2016 và ngày 09-02-2017.

2. Ghi nhận sự tự nguyện của bà Lê Thị Hoài T2 về việc đồng ý trả lại cho bà Phạm Thị T số tiền 400.000.000 (Bốn trăm triệu) đồng.

3. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị T đối với bà Lê Thị Hoài T2.

Buộc bà Lê Thị Hoài T2 có nghĩa vụ trả lại cho bà Phạm Thị T số tiền 1.100.000.000 (một tỷ một trăm triệu) đồng.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải trả cho bên được thi hành án khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất theo quy định tại Khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự tương ứng với thời gian chưa thi hành án.

4. Về án phí dân sự sơ thẩm:

Bà Lê Thị Hoài T2 phải nộp 20.000.000 (hai mươi triệu) đồng án phí tính trên số tiền 400.000.000 đồng có nghĩa vụ trả cho bà Phạm Thị T và phải nộp 45.000.000 (bốn mươi lăm triệu) đồng án phí tính trên số tiền 1.100.000.000 đồng có nghĩa vụ trả cho bà Phạm Thị Tuyết . Tổng số tiền án phí bà T2 phải nộp là 65.000.000 (sáu mươi lăm triệu) đồng, tuy nhiên bà T2 được giảm ½ án phí nên số tiền án phí bà T2 phải nộp là 32.500.000 (ba mươi hai triệu năm trăm nghìn) đồng.

5. Về án phí dân sự phúc thẩm:

Bà T2 phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 (ba trăm nghìn) đồng đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0000981 ngày 27-8-2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Bà T2 đã nộp xong án phí dân sự phúc thẩm.

6. Bản án có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (ngày 17-3-2025).

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh BR-VT;
  • - TAND huyện Xuyên Mộc;
  • - Chi cục THADS huyện Xuyên Mộc;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Bùi Thị Thương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 47/2025/DS-PT ngày 17/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU về tranh chấp đòi lại tài sản

  • Số bản án: 47/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp đòi lại tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 17/03/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Sửa một phần bản án sơ thẩm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger