Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ LONG XUYÊN

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 47/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 14-4-2025

V/v tranh chấp “Ly hôn, nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN,TỈNH AN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Mỹ Linh.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Sơn; bà Trần Thanh Vân

Thư ký phiên tòa: Ông Trần Ngọc Ký – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên tham gia phiên tòa:

Không tham gia phiên toà.

Ngày 14 tháng 4 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 75/2025/TLST-HNGĐ, ngày 11 tháng 02 năm 2025 về tranh chấp “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 101/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 10 tháng 3 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 135A/2025/QĐST-HNGĐ ngày 01 tháng 4 năm 2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Trần Thảo T, sinh năm 1985 (có mặt)

Địa chỉ: C đường T, khóm Đ, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang; số điện thoại: 0789.539.xxx.

- Bị đơn: Anh Huỳnh Nhân T1, sinh năm 1976 (vắng mặt)

Địa chỉ: 6, khóm Đ, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang; số điện thoại: 09.1234.678.

NỘI DUNG VỤ ÁN

- Nguyên đơn chị Trần Thảo T có ý kiến trình bày trong quá trình giải quyết vụ án như sau: Chị và anh T1 tự tìm hiểu và tự nguyện tiến đến hôn nhân năm 2019, có đăng ký kết hôn tại UBND phường M. Sau khi kết hôn, vợ chồng chỉ hạnh phúc được một thời gian thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn do tính tình không hợp, không có tiếng nói chung, mâu thuẫn càng lúc càng nghiêm trọng mà không có biện pháp gì hàn gắn, vợ chồng đã không còn chung sống và không liên lạc với nhau khoảng 2 năm. Nay nhận thấy không thể tiếp tục chung sống, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị yêu cầu ly hôn với anh T1.

Về con chung: Có một con chung tên Huỳnh Nhân K, sinh ngày 01/10/2017, hiện cháu K đang sống chung với chị T nên khi ly hôn chị yêu cầu tiếp tục nuôi con, không yêu cầu anh Trung cấp D.

  • - Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
  • - Về nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Bị đơn là anh Huỳnh Nhân T1 vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án nên Toà án không thể ghi nhận ý kiến của anh T1 đối với yêu cầu khởi kiện của chị T.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

- Về thủ tục tố tụng: Chị Trần Thảo T yêu cầu ly hôn với anh Huỳnh Nhân T1. Anh T1 có nơi cư trú tại phường M, thành phố L, tỉnh An Giang nên Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền được quy định tại các Điều 28, 35 và Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về nội dung:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chị T và anh T1 xác lập quan hệ vợ chồng và chung sống với nhau, có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật nên hôn nhân của anh, chị được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Khi vợ chồng chung sống thì phát sinh mâu thuẫn nghiêm trọng do bất đồng quan điểm sống mà không có biện pháp hàn gắn. Chị T xác định không còn tình cảm với anh T1, hôn nhân không hạnh phúc nên chị vẫn cương quyết yêu cầu ly hôn.
  2. Hội đồng xét xử nhận thấy, hôn nhân phải trên cơ sở tự nguyện, giữa vợ và chồng phải có nghĩa vụ yêu thương, quan tâm, tôn trọng và cùng nhau chăm lo cho cuộc sống gia đình. Tuy nhiên, giữa chị T và anh T1 đã phát sinh mâu thuẫn nghiêm trọng và không còn chung sống với nhau từ khoảng năm 2022 đến nay, chị T xác định không thể tiếp tục duy trì cuộc sống hôn nhân, mâu thuẫn không giải quyết được, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị T là phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
  3. Về con chung: Trong thời gian chung sống chị T và anh T1 có 01 (một) con chung tên Huỳnh Nhân K, sinh ngày 01/10/2017, con hiện đang sống với chị T nên chị yêu cầu được tiếp tục nuôi con. Quá trình giải quyết vụ án, anh T1 đều vắng mặt và không có ý kiến gì đối với yêu cầu này. Do đó, để không làm xáo trộn cuộc sống của cháu, đảm bảo cháu được chăm sóc tốt nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu nuôi con của chị T, giao cháu K cho chị T tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng.
  4. Về cấp dưỡng: Do chị T không yêu cầu anh Trung cấp D nuôi con nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
  5. Về tài sản chung, nợ chung: Ghi nhận ý kiến của chị T trình bày không có nên không đề cập giải quyết.

[5] Về án phí: Chị T phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ:

  • - Khoản 1 Điều 28, điểm a Khoản 1 Điều 35, điểm a Khoản 1 Điều 39, Điều 144, Khoản 4 Điều 147, điểm a, b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Khoản 1 Điều 235, Điều 238, Điều 271, Khoản 1 Điều 273, Điều 278 và Điều 280 Bộ luật tố tụng dân sự.
  • - Khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 58 của Luật hôn nhân và gia đình 2014.
  • - Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  • - Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thảo T.
  • - Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thảo T được ly hôn anh Huỳnh Nhân T1.
  • - Về con chung: Chị Trần Thảo T được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung tên Huỳnh Nhân K, sinh ngày 01/10/2017. Anh Huỳnh Nhân T1 không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Anh Huỳnh Nhân T1 cùng các thành viên gia đình (nếu có) không được cản trở chị Trần Thảo T trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.

Anh Huỳnh Nhân T1 không trực tiếp nuôi dưỡng con chung nhưng có quyền tới lui thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung, không ai được ngăn cản anh thực hiện quyền này.

Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.

  • - Về tài sản chung, nợ chung: Không xem xét, giải quyết.
  • - Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Trần Thảo T phải chịu 300.000đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền số 0002198 ngày 10/02/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang. Chị T đã nộp xong.

Nguyên đơn chị Trần Thảo T được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị đơn anh Huỳnh Nhân T1 được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - VKSND TPLX;
  • - TAND tỉnh An Giang;
  • - Chi cục THADS TPLX;
  • - UBND P. Mỹ Xuyên;
  • - Lưu hồ sơ;
  • - Lưu VP (4).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Trần Thị Mỹ Linh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 47/2025/HNGĐ-ST ngày 14/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG về ly hôn, nuôi con

  • Số bản án: 47/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 14/04/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trần Thị Thảo T yêu cầu ly hôn Huỳnh Nhân T1
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger