TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI DƯƠNG TỈNH HẢI DƯƠNG Bản án số: 47/2025/HS-ST Ngày: 04/4/2025 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI DƯƠNG, TỈNH HẢI DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Thị Nhung.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Phạm Thị Lan.
- Ông Vũ An Quản.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đoàn Thị Vân Anh - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hải Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Hải Yến - Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở TAND thành phố Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 20/2025/TLST-HS ngày 20/2/2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 37/2025/QĐXXST-HS ngày 21 tháng 3 năm 2025, đối với bị cáo:
Lương Cao K, sinh năm 1997; nơi sinh, nơi cư trú: Thôn G, xã T, huyện V, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lương Cao N và bà Nguyễn Thị T; tiền án, tiền sự: không; bị tạm giam từ ngày 7/11/2024 đến nay tại Trạm tạm giam Công an tỉnh H; có mặt tại phiên toà.
* Bị hại:
- + Anh Nguyễn Duy Q, sinh năm 1986; ĐKTT: T, phường Đ, TP C, tỉnh Hải Dương; địa chỉ hiện ở: Số 25 Phan Đăng Lưu, phường Tân Bình, thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương.
- + Anh Đào Đắc An, sinh năm 1983; địa chỉ: B B, phường T, thành phố H, tỉnh Hải Dương.
- + Anh Đào Đắc T1, sinh năm 1990; địa chỉ: Thôn P, xã C, huyện C, tỉnh Hải Dương.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Vũ Thị M, sinh năm 1988; ĐKTT: T, phường Đ, TP C, tỉnh Hải Dương; địa chỉ hiện ở: Số B P, phường T, thành phố H, tỉnh Hải Dương.
* Người làm chứng:
- + Chị Nguyễn Thị H.
- + Anh Nguyễn Gia V.
- + Chị Đoàn Thu P.
(Tại phiên tòa bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt
nhưng trước đó đã có đơn xin xử vắng mặt; những người làm chứng đều vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do không có công việc, thu nhập ổn định nên Lương Cao K nảy sinh ý định lừa đảo chiếm đoạt tiền của người khác bằng cách đăng bài quảng cáo lên mạng xã hội Zalo nói dối là bên cung ứng lao động cho những người cần thuê lao động phổ thông rồi chiếm đoạt tiền đặt cọc môi giới lao động và tiền thuê xe đưa lao động đến làm việc. Khi có người liên hệ thuê cung ứng lao động thì K yêu cầu họ chuyển tiền đặt cọc qua tài khoản ngân hàng rồi chiếm đoạt. Để thực hiện hành vi lừa đảo, K đã sử dụng: 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 6s màu hồng lắp sim số 0868268997 dùng để đăng nhập tài khoản zalo “Cao Kiên Cung Ứng Ld” và đăng nhập ứng dụng internet banking ngân hàng V1 số tài khoản 1017066073 của K; 01 điện thoại nhãn hiệu Samsung A51 màu xanh, lắp sim số 0369124390 dùng để đăng nhập tài khoản Zalo “Anh Tú”.
Với phương thức thủ đoạn như trên, K đã thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của 03 bị hại, cụ thể như sau:
Vụ thứ nhất: Ngày 13/5/2024, vợ chồng anh Nguyễn Duy Q và chị Vũ Thị M là chủ cửa hàng B ở số B P, phường T, thành phố H có nhu cầu tuyển dụng 03 người lao động nam giới nên anh Q dùng tài khoản Zalo “Quang Hải S” gọi cho K qua tài khoản Zalo “Cao Kiên Cung Ứng L”. K yêu cầu anh Q trả trước phí môi giới là 4.500.000 đồng (1.500.000đ/01 người lao động nam) và 600.000 đồng tiền xe chở lao động, anh Q đồng ý. Ngày 14/5/2024, anh Q nhờ bạn là chị Nguyễn Thị H chuyển 3.600.000 đồng từ tài khoản của chị H vào tài khoản ngân hàng V1 số 1017066073 của K, đồng thời anh Q còn sử dụng tài khoản ngân hàng của vợ là chị Vũ Thị M chuyển 1.500.000 đồng vào tài khoản ngân hàng V1 số 1017066073 của K. Sau khi chuyển tiền cho K, anh Q không thấy người lao động đến làm việc nên gọi điện giục K thì K né tránh, lấy lý do người lao động bỏ việc không đến làm tại cửa hàng của anh Q. Anh Q nhiều lần liên lạc nhưng K không đưa người đến làm việc và không trả tiền cho anh Q. Số tiền chiếm đoạt được kể trên K đã tiêu xài cá nhân hết.
Vụ thứ hai: Ngày 05/09/2024, anh Đào Đắc A làm quản lý tại nhà hàng S1, địa chỉ số B H, phường N, thành phố H có nhu cầu tuyển dụng 08 người lao động nên liên hệ với K qua tài khoản Zalo “Cao Kiên Cung Ứng L”. K yêu cầu phí môi giới 1.500.000đ/01 người lao động nam, 1.800.000đ/01 người lao động nữ. Tổng số tiền môi giới là 12.800.000₫ (04 nam, 04 nữ), anh A đồng ý và chuyển tiền trước 5.000.000 đồng đến tài khoản của K. Ngày 06/09/2024 anh A chuyển thêm 7.800.000 đồng đến tài khoản của K. Sau khi nhận 12.800.000đ, K nói dối anh A là người lao động không đi làm nữa để không đưa người lao động đến làm và hạn chế liên lạc với anh A. Ngày 19/09/2024, K sử dụng tài khoản Zalo “Anh Tú” nhắn tin cho anh A giới thiệu là bên môi giới cung cấp lao động khác. Anh An tưởng thật nên nhắn tin cho K thuê môi giới 04 người lao động. K yêu cầu anh A phải trả phí môi giới 1.500.000đ/01 người lao động, tổng là 6.000.000 đồng. Anh A đồng ý và thống nhất với K, anh A sẽ thuê ô tô đến đón người lao động. K đồng ý và hẹn đón tại khu vực Y, T, T, Hà Nội. Sau đó, anh A thuê anh Nguyễn Gia V (làm nghề lái xe dịch vụ) đi đón người. Khi anh V đến nơi gặp K thì K nói mình là người lao động và bảo anh V chở đến cổng bệnh viện K1, T, Hà Nội để đón thêm 03 người nữa. Trên đường đi, K nhờ anh V gọi điện nói hộ trước với anh A đã nhận đủ người, mục đích để anh A chuyển tiền cho K. Anh V tin tưởng nên gọi cho anh A, anh A tin tưởng đã nhận được người lao động nên chuyển cho K 6.000.000 đồng từ tài khoản của anh A vào tài khoản ngân hàng T2 số 19071504405015 của chị Đoàn Thu P (chị P là bạn của K, cho K mượn số tài khoản). Sau khi nhận được tiền và đến cổng bệnh viện K1 thì K xuống xe, nói dối đi đón 3 người còn lại rồi bỏ đi. Anh V gọi điện cho K thì K nói dối đang lấy đồ dùng cá nhân và nói có 01 lao động nữ không đi nữa để K tự đưa đến sau. Anh A liên hệ nhiều lần cho K nhưng K lấy lý do người lao động không đi nữa để không đưa người lao động đến cho anh A. Anh A đòi tiền nhiều lần nhưng K không trả. Số tiền chiếm đoạt được K đã tiêu sài cá nhân hết.
Vụ thứ ba: Ngày 15/10/2024, anh Đào Đắc T1 làm quản lý nhà hàng P1, số C T, phường T, thành phố H có nhu cầu tuyển dụng 05 người lao động nên sử dụng tài khoản Zalo “Lighthouse” liên hệ với K qua tài khoản Zalo “Cao Kiên Cung Ứng L”. K nói dối giới thiệu đang làm cho công ty M1 tại TP . và yêu cầu anh T1 phải trả phí môi giới 1.500.000đ/01 người lao động, tổng tiền phí môi giới là 7.500.000 đồng, đặt cọc trước một phần phí môi giới, khi nhận đủ người sẽ trả nốt tiền và ký hợp đồng lao động. Ngày 24/10/2024, anh T1 chuyển số tiền 2.500.000đ từ tài khoản của mình vào tài khoản ngân hàng V1 số 1017066073 của K để đặt cọc theo yêu cầu. Sau khi nhận tiền, K hẹn anh T1 trong ngày 24/10/2024 sẽ đưa 05 người lao động đến làm việc nhưng K không đưa đến. Sáng ngày 25/10/2024, anh T1 gọi hỏi thì K nói dối đang đưa người lao động đến thành phố H và yêu cầu anh T1 trả nốt 5.000.000 đồng tiền đặt cọc, nhưng anh T1 không đồng ý và yêu cầu K hoàn trả tiền đặt cọc hoặc tiếp tục đưa người lao động đến. Sau đó K không chuyển người lao động như đã thỏa thuận và không trả lại tiền cho anh T1. Số tiền chiếm đoạt được K tiêu xài cá nhân hết.
Tại Cáo trạng số 21/CT-VKSTPHD ngày 20/2/2025, VKSND thành phố Hải Dương truy tố bị cáo Lương Cao K về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa: Bị cáo khai nhận hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản như cáo trạng đã mô tả.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Dương giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử (viết tắt là HĐXX) tuyên bố bị cáo Lương Cao K phạm tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Về hình phạt chính: Áp dụng khoản 1 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; khoản 1 Điều 38 Bộ luật hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Lương Cao K từ 09 tháng đến 12 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 07/11/2024. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Về vật chứng, áp dụng điểm a khoản 1 Điều 46, điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, điểm đ khoản 2 Điều 53 Luật Viễn thông: Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại Iphone 6s màu hồng và 01 điện thoại Samsung A51 màu xanh; tịch thu tiêu hủy sim số 0868268997, 0369124390; yêu cầu nhà mạng Viettel thu hồi các số thuê bao trên; tịch thu sung quỹ nhà nước số tiền trong thuê bao (nếu có). Về án phí: Căn cứ điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Luật phí, lệ phí, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố H, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Dương, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận: Trong khoảng thời gian từ ngày 13/5/2024 đến ngày 24/10/2024, mặc dù không có khả năng cung cấp lao động nhưng Lương Cao K đã sử dụng các tài khoản mạng xã hội Zalo đăng thông tin gian dối về việc giả là bên cung ứng lao động cho những người cần thuê lao động phổ thông để thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của 03 người bị hại với tổng số tiền 26.400.000 đồng, trong đó: chiếm đoạt của anh Nguyễn Duy Q số tiền 5.100.000 đồng, chiếm đoạt của anh Đ Đắc An số tiền 18.800.000 đồng và chiếm đoạt của anh Đ Đắc Tài số tiền 2.500.000 đồng. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản" theo khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự. Vì vậy Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của nhiều người nên cần phải xử nghiêm, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung trong xã hội.
[4]Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Trong vụ án này bị cáo đã thực hiện nhiều hành vi chiếm đoạt tài sản, mỗi hành vi đều đã cấu thành tội phạm nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo đều thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình; đến nay bị cáo đã bồi thường toàn bộ cho người bị hại; bị hại A và T1 có đơn đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[5] Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định, không có tài sản riêng nên HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[6] Về trách nhiệm dân sự: Đến nay anh Đào Đắc A, anh Đ Đắc tài, vợ chồng anh Nguyễn Duy Q đều xác định đã nhận lại đủ số tiền bị chiếm đoạt nên họ không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm. Do đó không đặt ra vấn đề xem xét giải quyết về trách nhiệm dân sự trong vụ án này.
[7] Về xử lý vật chứng, biện pháp tư pháp:
Đối với 01 điện thoại Iphone 6s màu hồng và 01 điện thoại Samsung A51 màu xanh đã thu giữ của K. Do K đã sử dụng các điện thoại này để thực hiện hành vi phạm tội, quá trình điều tra xác định điện thoại là tài sản của K nên cần tịch thu cho phát mại sung quỹ nhà nước.
Đối với sim điện thoại số 0868.268.xxx và sim điện thoại số 0369.124.xxx, do bị cáo đã sử dụng các sim điện thoại này phục vụ việc phạm tội nên cần tịch thu cho tiêu hủy các sim điện thoại đó. Ngoài ra đề nghị Tập đoàn C thu hồi số thuê bao di động 0868268997 và 0369124390. Tịch thu nộp vào Ngân sách nhà nước số tiền trong tài khoản thuê bao di động số 0868268997 và 0369124390 (nếu có).
[8] Các vấn đề khác:
Đối với chị Đoàn Thu P cho K mượn số tài khoản Ngân hàng của mình để nhận tiền từ anh Đào Đắc A chuyển đến cho K. Do chị P không biết số tiền nhận được là do K phạm tội mà có nên không có căn cứ xử lý.
Đối với thuê bao 0369124390 K sử dụng để đăng nhập tài khoản Zalo “Anh Tú” và liên lạc với những người bị hại, quá trình điều tra xác định chủ thuê bao đứng tên anh Nguyễn Văn H1. Tuy nhiên anh H1 xác định chưa bao giờ đăng ký, sử dụng số điện thoại này, anh cũng không cho ai thuê, mượn thông tin cá nhân để đăng ký chủ thuê bao này nên không có căn cứ xử lý.
Sao kê tài khoản của K còn thể hiện nhiều giao dịch chuyển tiền khác. Tuy nhiên quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã làm việc với một số người có giao dịch chuyển tiền vào tài khoản ngân hàng V1 số 1017066073 của K, những người đó xác định không bị K chiếm đoạt tiền nên không có căn cứ xử lý. Các giao dịch chuyển tiền còn lại hoặc chưa có thông tin số tài khoản; hoặc có thông tin tên tuổi, địa chỉ của chủ tài khoản ngân hàng nhưng họ vắng mặt tại địa phương hay chưa làm việc được, chưa có kết quả cung cấp thông tin, chưa có kết quả ủy thác điều tra nên chưa đủ căn cứ xác định là giao dịch liên quan đến hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của K. Cơ quan điều tra đã ra Quyết định tách hành vi và tài liệu liên quan trong vụ án hình sự số 234 ngày 27/01/2025 để tiếp tục xác minh làm rõ là phù hợp.
[9] Về án phí: Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 174, điểm g khoản 1 Điều 52, điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38, điểm a khoản 1 Điều 46, điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự. Điểm a, c khoản 2 Điều 106, Điều 136, Điều 292, Điều 293, Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự. Điểm đ khoản 2 Điều 53 Luật Viễn thông. Luật phí, lệ phí; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Tuyên bố: Bị cáo Lương Cao K phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
- Xử phạt bị cáo Lương Cao K 07 (bảy) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 7/11/2024.
- Về xử lý vật chứng, biện pháp tư pháp.
- - Tịch thu cho phát mại sung quỹ nhà nước đối với 01 điện thoại Iphone 6s màu hồng, 01 điện thoại Samsung A51 màu xanh.
- - Tịch thu tiêu hủy sim điện thoại số 0868.268.xxx và sim điện thoại số 0369.124.xxx.
- - Yêu cầu Tập đoàn C thu hồi số thuê bao di động 0868268997 và số 0369124390.
- - Tịch thu nộp vào Ngân sách nhà nước số tiền trong tài khoản thuê bao di động số 0868268997 và 0369124390 (nếu có).
- Về án phí: Bị cáo K phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại có quyền kháng cáo bản án; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ.
Nơi nhận:
| T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Thị Nhung |
Bản án số 47/2025/HS-ST ngày 04/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI DƯƠNG, TỈNH HẢI DƯƠNG về hình sự (lừa đảo chiếm đoạt tài sản)
- Số bản án: 47/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Lừa đảo chiếm đoạt tài sản)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 04/04/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI DƯƠNG, TỈNH HẢI DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lương Cao K lừa đảo chiếm đoạt tài sản
