Hệ thống pháp luật

TAND HUYỆN TÂN UYÊN

TỈNH LAI CHÂU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 47/2025/HS-ST

Ngày 03-4-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN UYÊN TỈNH LAI CHÂU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Oanh;

Các hội thẩm nhân dân: 1. Ông Vương Huy Vượng.

2. Bà Hà Thị Thơm.

- Thư ký phiên tòa: Ông Giang Tiến Hiệp – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu - Kiểm sát viên.

Ngày 03 tháng 4 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 46/2025/TLST-HS ngày 28 tháng 02 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 48/2025/QĐXXST-HS ngày 21 tháng 3 năm 2025 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Thào A Q, sinh ngày 01/02/2001 tại huyện B, tỉnh Lào Cai. Nơi cư trú: Thôn N, xã S, huyện B, tỉnh Lào Cai; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: Mông; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Thào A T, sinh năm 1977 và con bà: Phàng Thị T1, sinh năm 1981; vợ: Hàng Thị D, sinh năm 2003 và có 02 con, con lớn sinh năm 2019, con nhỏ sinh năm 2021; tiền án, tiền sự: không.

Bị cáo bị bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, tạm giữ từ ngày 04/11/2024, ngày 13/11/2024 bị tạm giam đến nay, bị cáo có mặt tại phiên tòa.

2. Họ và tên: Hảng Seo G, sinh ngày 29/01/1981, tại huyện S, tỉnh Lào Cai. Nơi cư trú: Bản K, xã B, huyện M, tỉnh Điện Biên; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: Không biết chữ; dân tộc: Mông; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Hảng S, sinh năm 1959 và con bà: Giàng Thị M, sinh năm 1961; vợ thứ nhất: Giàng Thị S, sinh năm 1982 (đã ly hôn); vợ thứ hai: Giàng Thị H, sinh năm 1997; Con: Bị cáo có 04 con, con lớn nhất sinh năm 2002, con nhỏ nhất sinh năm 2018; tiền án, tiền sự: không.

Nhân thân: Bị cáo có 01 tiền án đã được xóa án tích, cụ thể: Tại bản án hình sự sơ thẩm số 05/2006/HSST ngày 28/12/2006 của Tòa án nhân dân huyện Xín Mần, tỉnh Hà Giang áp dụng khoản 1 Điều 138, điểm h, p khoản 1 Điều 46, Điều

60 Bộ luật Hình sự xử phạt Hảng Seo Giả 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội Trộm cắp tài sản.

Bị cáo bị bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, tạm giữ từ ngày 04/11/2024, ngày 13/11/2024 bị tạm giam đến nay, bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại:

  1. Anh Nguyễn Thế T2, sinh năm 1971, trú tại Tổ dân phố B, thị trấn T, huyện T, tỉnh Lai Châu (vắng mặt).
  2. Bà Nguyễn Thị C, sinh ngày 01/01/1950, trú tại Tổ dân phố B, thị trấn T, huyện T, tỉnh Lai Châu (vắng mặt).
  3. Ông Hảng A P, sinh năm 1965, trú tại bản Thèn Pả, xã T, huyện T, tỉnh Lai Châu (vắng mặt).
  4. Anh Lại Văn T3, sinh năm 1978, trú tại bản Chom Chăng, xã T, huyện T, tỉnh Lai Châu (vắng mặt).

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Chị Hàng Thị D, sinh năm 2003, trú tại Thôn N, xã S, huyện B, tỉnh Lào Cai (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

* Đối với hành vi phạm tội của Hảng Seo G:

Trong thời gian từ khoảng tháng 12/2021 đến năm 2023, Hảng Seo G đi sang nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào chơi thì gặp một người đàn ông dân tộc Mông không rõ nhân thân lai lịch giới thiệu tên là S1. Qua trao đổi nói chuyện, G biết S1 bán túi mật động vật sấy khô nhưng S1 không biết là mật của loài động vật gì và cũng nói cho G biết đó không phải mật gấu. Bản thân G cũng biết đó không phải là mật gấu nhưng G vẫn hỏi mua của S1 để nhằm mục đích đưa ra thông tin gian dối nói đó là mật gấu để bán cho người khác kiếm lời. Trong khoảng thời gian này, G đã 03 lần mua của S1 tổng cộng 12 túi mật sấy khô không rõ chủng loại, với giá 500.000 đồng/01 túi, tổng số tiền mua là 6.000.000 đồng, ngoài ra G còn mua của S1 04 chi (chân) gấu với số tiền 3.000.000 đồng nhằm mục đích sử dụng. Sau khi mua xong Giả mang toàn bộ số túi mật trên về cất tại tủ quần áo riêng của G, 04 chi gấu thì G cất ở ngăn đông tủ lạnh của gia đình nhưng không nói cho ai biết. Thời gian sau đó, G đã nhiều lần đưa ra thông tin gian dối nói những túi mật sấy khô trên là mật gấu để bán cho người khác nhằm mục đích kiếm lời. Cụ thể: Khoảng tháng 02 năm 2022, G đi đến xã T, huyện T, tỉnh Lai Châu chơi. Tại đây, G đã bán cho ông H1 A P 01 túi mật với số tiền 5.000.000 đồng. Quá trình trao đổi mua bán G đã đưa ra thông tin gian dối nói đó là mật gấu để bán cho ông P, do là người quen nên ông P tin túi mật Giả bán là mật gấu thật và đồng ý mua, sau đó ông P đã cắt một phần túi mật mua được để ngâm rượu, phần còn lại ông cất giữ, đến ngày 04/11/2024 ông P đã giao nộp lại cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T.

Khoảng cuối năm 2023, Hảng S2 Giả gặp Thào A Q tại tỉnh Lào Cai, qua trao đổi Giả nói có mật gấu muốn bán. Lúc này G đã đưa ra thông tin gian dối nói G có mật gấu thật để bán cho Q, bản thân Q biết túi mật đó không phải là mật gấu nhưng vì muốn có nguồn hàng để lừa bán cho người khác nên Q vẫn đồng ý mua túi mật của G. Từ năm 2023 đến năm 2024, G đã nhiều lần lừa bán tổng số 07 túi mật cho Q, tuy nhiên những lần mua bán này số tiền mỗi lần Giả chiếm đoạt đều chưa đủ yếu tố cấu thành tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản, ngoài lời khai của G và Q thì không thu được các túi mật để xác định túi mật của loài gì, do vậy Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Hảng S2 Giả về những hành vi này.

Đối với Hảng Seo G, sau khi bán cho ông H1 A Páo 01 túi mật và bán cho Q 07 túi mật thì còn lại 04 túi mật. Trong số còn lại này, G đã lấy 01 túi mật rồi cắt lấy một nửa để ngâm rượu và đã sử dụng hết; 01 túi mật thì G đã cất giấu trong tủ quần áo riêng của G và không nói cho ai biết; đối với 04 chi gấu thì G đựng chung trong 01 túi nilon xanh và cất trong ngăn đông tủ lạnh của gia đình với mục đích sử dụng và không nói cho ai biết. Ngày 07/11/2024, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T tiến hành khám xét và thu giữ 01 túi mật và 04 chi gấu nói trên. Còn 02 túi mật và một nửa túi mật khác còn lại thì G mang đi bán kiếm lời vào ngày 04/11/2024. Khi G đi đến khu vực huyện T, tỉnh Lai Châu thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T triệu tập lên làm việc, quá trình làm việc Giả đã tự nguyện giao nộp, đồng thời khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân.

* Đối với hành vi phạm tội của Thào A Q:

Vào khoảng giữa năm 2023, Thào A Q gặp và quen Phá A D1, sinh năm 1980, trú tại bản Huổi Bắc, xã P, huyện T, tỉnh Lai Châu. Qua trao đổi nói chuyện, D1 nói với Q là D1 bán mật và móng chân của loài G1 (sau đây gọi tắt là mật gấu và móng gấu) nên Q hỏi xin số điện thoại và kết bạn Facebook của D1 để liên lạc phục vụ cho việc mua bán sản phẩm động vật nói trên. Từ thời điểm đó đến tháng 10/2024, Q đã gặp và mua của D1 nhiều lần sản phẩm động vật, trong quá trình trao đổi mua bán D1 đều nói với Q đó là mật gấu. Thời gian đầu Quả tin những sản phẩm động vật này là thật, tuy nhiên về sau bố của Q nhìn thấy các túi mật này và nói cho Q biết những túi mật này là mật giả, nhưng vì muốn mua lại các túi mật từ Dềnh để lừa là mật gấu bán kiếm lời nên Q vẫn tiếp tục mua các túi mật của Dềnh để lừa bán cho người khác. Cũng trong năm 2023, Thào A Q gặp Hảng S, dù biết những túi mật Hảng Seo Giả bán là túi mật gấu giả nhưng Q vẫn mua túi mật của Giả về lừa bán cho người khác kiếm lời. Cụ thể các lần phạm tội của Q như sau:

+ Lần thứ 1: Trong năm 2023 (không nhớ rõ thời cụ thể), G đã bán cho Q 01 túi mật với số tiền 1.000.000 đồng. Giả nói dối Quả đó là mật gấu, bản thân Q biết túi mật đó không phải là mật gấu nhưng không nói gì và đồng ý mua để về bán kiếm lời. Sau đó Q rủ Sùng A T4 (không rõ năm sinh cụ thể) trú tại xã T, huyện B, tỉnh Lai Cai đi sang tỉnh Lai Châu gặp bà Nguyễn Thị C. Khi gặp bà C, Q đưa ra thông tin gian dối nói với bà C là Q có túi mật gấu muốn bán, bà C tin là

thật và đã mua của Q 01 túi mật với số tiền 6.700.000 đồng. Ngày 10/11/2024, bà C đã giao nộp 01 túi mật trên cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T.

+ Lần thứ 2: Tiếp tục khoảng thời gian sau đó trong năm 2024 (không nhớ thời gian cụ thể), tại Thị xã S, tỉnh Lào Cai, Q đã mua của G 01 túi mật với giá 1.000.000 đồng. Khi bán túi mật, G đưa thông tin gian dối bảo đó là mật gấu, bản thân Quả biết túi mật này là giả nhưng vẫn mua để mang về lừa bán kiếm lời. Sau đó Q đã bán cho anh Lại Văn T3, sinh năm 1978, trú tại bản Chom Chăng, xã T, huyện T, tỉnh Lai Châu 01 túi mật và đưa ra thông tin gian dối đó là mật gấu, anh T3 tin đó là túi mật gấu thật nên đồng ý mua với số tiền 5.000.000 đồng. Sau khi mua túi mật anh T3 đã cắt một phần để ngâm rượu nhưng khoảng một tuần sau anh thấy có mùi tanh hôi nên đã đổ bỏ, phần túi mật còn lại anh cất giữ đến ngày 04/11/2024 anh đã giao nộp cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T.

+ Lần thứ 3: Ngày 23/10/2024, Quả đã gửi hình ảnh 01 con gấu bị mổ bụng mà trước đó Q tải trên mạng xã hội về và lưu trong điện thoại qua Z cho anh Nguyễn Thế T2 và nói mới săn bắt được một con gấu và có mật muốn bán nhằm mục đích làm cho anh T2 tin là thật và đồng ý mua. Đến sáng ngày 24/10/2024, do đã hẹn với anh T2 nên Q gọi điện thoại cho D1 và hẹn gặp nhau tại huyện T, tỉnh Lai Châu để trao đổi mua bán 01 túi mật sấy khô. Sau đó Q rủ Phàng A S3, sinh năm 1983, trú tại thôn N, xã S, huyện B đi cùng sang huyện T. Khi đi đến địa phận huyện T, tỉnh Lai Châu, Q nói S3 ngồi ở quán nước đợi, còn Q điều khiển xe đi gặp D1. Khi gặp nhau, Q và D1 trao đổi mua bán 01 túi mật sấy khô với số tiền 2.000.000 đồng. Như các lần trước, D1 nói đó là mật gấu, mặc dù lần này biết D1 đưa ra thông tin gian dối nhưng Q không nói gì và đồng ý mua nhằm mục đích mang đi bán cho anh T2 để kiếm lời. Sau khi mua bán xong, Q điều khiển xe quay lại đón S3 rồi đi đến nhà anh T2. Tại đây, Q và anh T2 trao đổi mua bán 01 túi mật sấy khô mà Q vừa mua trước đó của D1 với số tiền 5.000.000 đồng. Quá trình trao đổi mua bán, Q nói với anh T2 đó là mật gấu thật nên anh T2 tin là mật gấu thật và đồng ý mua. Việc mua bán giữa Q và anh T2 thì S3 không biết, sau đó Q và S3 đi về. Đối với anh T2, sau khi mua túi mật nói trên anh đã cất vào trong góc tủ, đến ngày 27/10/2024 anh thấy túi mật bị mốc, có mùi hôi tanh nên đã cắt bỏ phần bị mốc, phần còn lại không bị mốc anh cất vào tủ lạnh, đến ngày 04/11/2024 anh đã giao nộp lại cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T.

Khoảng đầu tháng 10/2024, tại Thị xã S, tỉnh Lào Cai, G bán cho Q 01 túi mật với số tiền 1.000.000 đồng và nói đó là mật gấu, Q biết là mật gấu giả nhưng vẫn mua mang về nhà cất. Đến ngày 03/11/2024, Q một mình điều khiển xe mô tô, biển kiểm soát 24X1-109.27 đến thị trấn T tìm người mua. Khi Q đang rao bán tại khu vực tổ dân phố B, thị trấn T thì bị Cơ quan Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T phát hiện. Vật chứng thu giữ của Thào A Q: 01 túi mật sấy khô không xác định hình dạng, màu đen, có chiều dài 20 cm, bề ngang vị trí rộng nhất là 07cm, vị trí hẹp nhất là 0,3cm (ký hiệu là M1); 01 vật thể không xác định hình dạng, màu trắng, có lông màu đen, kích thước 6,7x1,9cm (ký hiệu là M2), đồng thời đưa Q về trụ sở làm việc. Quá trình làm việc Q khai nhận 01 túi mật sấy khô

nói trên là mật động vật do Q mua của G (Quả không rõ của loài động vật nào) và 01 vật thể không xác định hình dạng, màu trắng, có lông màu đen, kích thước 6,7x1,9cm (Q khai mua của Thào A P1, sinh năm 1986, trú tại thôn N, xã S, huyện B, tỉnh Lào Cai với số tiền 260.000 đồng. Khi trao đổi mua bán P1 nói đó là miếng da gấu nên Q mua nhằm mục đích đem theo cùng với túi mật sấy khô để đưa ra thông tin gian dối nói đó là sản phẩm của loài gấu để người mua tin là thật).

Quá trình điều tra, căn cứ lời khai của Thào A Q, ngày 07/11/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã tiến hành khám xét chỗ ở đối với Phá A, kết quả phát hiện thu giữ: 04 chi động vật, có kích thước khác nhau được đựng chung trong một túi nilon màu xanh do Dềnh cất giữ nhằm mục đích sử dụng. Đồng thời tiến hành lấy lời khai, đối chất giữa Thào A Q và Phá A D1 nhưng D1 chỉ thừa nhận 01 lần bán 01 túi mật sấy khô vào ngày 24/10/2024 cho Thào A Q với số tiền 2.000.000 đồng, khi bán D1 nói cho Q biết đó là mật bò đen và D1 không biết Q sử dụng mật bò đen này để làm gì; đồng thời phát hiện thu giữ 01 (một) vật thể là sản phẩm thịt/da/lông của động vật được đựng trong 01 túi nilon màu hồng và 05 (năm) túi mật sấy khô có kích thước khác nhau do Hờ Thị P2 (vợ của D1) cất giữ.

* Vật chứng của vụ án gồm:

- Thu giữ của Thào A Q: 01 (một) túi mật sấy khô của loài Lợn, không xác định hình dạng, màu đen, có kích thước: chiều dài 20cm, chiều rộng vị trí lớn nhất 70cm, chiều rộng vị trí nhỏ nhất 0,3cm; 01 (một) vật thể màu trắng có lông màu đen, không xác định hình dạng, có kích thước: 6,7cm x 1,9cm (không thu được trình tự AND nên không có cơ sở để xác định loài).

- Thu giữ của Hảng Seo G: 01 (một) túi mật sấy khô của loài Lợn, không xác định hình dạng, màu đen, có kích thước: dài 21,5cm, dày 0,8cm, bề ngang nơi rộng nhất 8,7cm, bề ngang nơi hẹp nhất 0,4cm; 01 (một) túi mật sấy khô của loài Lợn, không xác định hình dạng, màu đen, có kích thước: dài 23,2cm, dày 0,8cm, bề ngang nơi rộng nhất 8,7cm, bề ngang nơi hẹp nhất 0,4cm; 01 (một) túi mật sấy khô của loài Lợn, không xác định hình dạng, màu đen, có kích thước: dài 18cm, dày 0,7cm, bề ngang nơi rộng nhất 8,7cm, bề ngang nơi hẹp nhất 0,4cm; 01 (một) túi mật sấy khô của loài Lợn, không xác định hình dạng, màu đen, có kích thước dài 07cm, bề ngang vị trí lớn nhất 05cm, vị trí nhỏ nhất 0,4cm; 04 (bốn) chi của loài Gấu ngựa, màu đen, có màu lông đen, không xác định hình dạng, có kích thước lần lượt: 30 x 7cm; 36 x 6cm; 31 x 6cm; 35 x 6,5cm và được đựng chung trong 01 túi nilon màu xanh.

- Thu giữ của Hảng A P: 01 (một) vật thể màu đen, không xác định hình dạng, có kích thước: chiều dài nhất 7,5cm, bề ngang lớn nhất 05cm; vị trí dày nhất 0,4cm (không thu được trình tự AND nên không có cơ sở để xác định loài).

- Thu giữ của Lại Văn T3: 01 (một) túi mật sấy khô của loài Lợn, không xác định hình dạng, màu đen, kích thước 4,7 x 1,7 x 1cm.

- Thu giữ của Nguyễn Thế T2: 01 (một) vật thể màu đen, không xác định hình dạng, có kích thước: chiều dài 9,7cm, bề ngang vị trí lớn nhất 3,5cm, vị trí nhỏ nhất 0,3cm (không thu được trình tự AND nên không có cơ sở để xác định).

- Thu giữ của Nguyễn Thị C: 01 (một) túi mật sấy khô của loài Lợn, không xác định hình dạng, màu đen, kích thước chiều dài 16 cm, bề ngang vị trí lớn nhất 8cm, vị trí nhỏ nhất 0,3cm.

- Thu giữ của Phá A D1: 04 (bốn) chi của loài Mang (H), không xác định hình dạng, bên ngoài mỗi chi dính lông màu nâu vàng, mỗi chi có kích thước khác nhau, cụ thể: chi thứ nhất: chiều dài 29cm, bề ngang nơi rộng nhất 03cm, nơi dày nhất 01cm; chi thứ hai: chiều dài 26cm, bề ngang nơi rộng nhất 03cm, nơi dày nhất 0,8cm; chi thứ ba: chiều dài 20,1cm, bề ngang nơi rộng nhất 2,3cm, nơi dày nhất 01cm; chi thứ tư: chiều dài 21cm, bề ngang 2,4cm, nơi dày nhất 0,7cm và được đựng chung trong 01 túi nilon màu xanh.

- Thu giữ của Hờ Thị P2: 01 (một) vật thể màu đen trắng, có dính lông màu đen, không xác định hình dạng, có kích thước dài 8,4cm, bề ngang 8,4cm, dày 3,8cm là sản phẩm thịt/da/lông của loài Gấu ngựa được đựng trong 01 túi nilon màu hồng; 05 (năm) túi mật sấy khô của loài Lợn, màu đen, không xác định hình dạng, mỗi túi mật có kích thước khác nhau, cụ thể: túi thứ nhất: dài 24cm, rộng 11,5cm, dày 0,8cm; túi thứ hai dài 23,5cm, rộng 11,2cm, dày 0,8cm; túi thứ ba dài 22cm, rộng 11,5cm, dày 0,6cm; túi thứ tư dài 19,5cm, rộng 9,6cm, dày 0,7cm; túi thứ năm dài 21cm, rộng 11cm, dày 0,6cm.

Đối với các vật chứng nêu trên thuộc loại mau hỏng, khó bảo quản. Vì vậy, ngày 14/01/2025 sau khi kết luận giám định và giao nhận lại vật chứng, căn cứ quy định tại điểm b khoản 1 điều 7 Nghị quyết số: 05/2018/NQ-HĐTP ngày 05/11/2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao quy định Hướng dẫn áp dụng Điều 234 về tội vi phạm quy định về bảo vệ động vật hoang dã và Điều 244 về tội vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm của Bộ luật hình sự, Cơ quan CSĐT Công an huyện T đã xử lý bằng hình thức tiêu hủy toàn bộ vật chứng nói trên là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

- Thu giữ của Thào A Q 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu ESPERO, số loại: 130W3, màu sơn đen, biển kiểm soát 24X1-109.27, số khung: RPEXCJDPENA852167, số máy: VDEJQ154FMJ1852167, xe cũ đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong; 01 chiếc điện thoại di động màn hình cảm ứng, nhãn hiệu Vivo Y17s, vỏ màu đen, số IMEL 1: 860517063342366, số IMEL 2: 860517063342374, điện thoại đã qua sử dụng, trong điện thoại lắp 01 phôi sim Viettel với số thuê bao 0982202490, trên phôi sim có chữ T7 được viết bằng mực viết tay làm che đi các dòng chữ số được in máy.

- Thu giữ của Hảng S2 Giả 01 chiếc điện thoại di động màn hình cảm ứng, nhãn hiệu OPPO A77s, vỏ màu xanh, số IMEL 1: 866451060290572, số IMEL 2: 866451060290564, điện thoại đã qua sử dụng, trong điện thoại lắp 01 phôi simViettel 4G với số thuê bao 0373492575, trên phôi sim có in dòng số 8984048000932589936.

* Tại kết luận giám định động vật số 1964/STTNSV ngày 13/11/2024 của V1 thuộc V2, kết luận: 03 (ba) vật thể (thu giữ của Hảng Seo G khi bị bắt giữ) được niêm phong trong túi có mã số NS1 2107638 là của loài Lợn, có tên khoa học S4 scrofa.

Tại kết luận giám định động vật số 1965/STTNSV ngày 13/11/2024 của V1 thuộc V2, kết luận: 02 (hai) vật thể (thu giữ của Thào A Q khi bị bắt giữ) được niêm phong trong túi có mã số NS3 2115215 gồm: vật thể ký hiệu M1 là của loài Lợn, có tên K; và vật thể ký hiệu M2 không thu được trình tự ADN nên không có cơ sở để xác định loài.

Tại kết luận giám định động vật số 1957/STTNSV ngày 13/11/2024 của V1 thuộc V2, kết luận: 01 (một) vật thể (thu giữ của Hảng A) được niêm phong trong túi có mã số NS3 2115222 không thu được trình tự ADN nên không có cơ sở để xác định loài.

Tại kết luận giám định động vật số 1966/STTNSV ngày 13/11/2024 của V1 thuộc V2, kết luận: 01 (một) vật thể màu đen (thu giữ của Lại Văn T3) được niêm phong trong túi có mã số NS3 2115217 là của loài Lợn, có tên khoa học S4 scrofa.

Tại kết luận giám định động vật số 1967/STTNSV ngày 13/11/2024 của V1 thuộc V2, kết luận: 01 (một) vật thể màu đen (thu giữ của Nguyễn Thế T2) được niêm phong trong túi có mã số NS3 2115216 không thu được trình tự ADN nên không có cơ sở để xác định loài.

Tại kết luận giám định động vật số 2070/STTNSV ngày 02/12/2024 của V1 thuộc V2, kết luận: 04 (bốn) vật thể có lông màu đen (thu giữ của Hảng Seo Giả khi khám xét) được niêm phong trong túi có mã số NS1 2107648 là 04 (bốn) chi của loài Gấu ngựa, có tên khoa học U thibetanus. Không đủ cơ sở để xác định 04 (bốn) chi Gấu ngựa trên thuộc một hay bao nhiêu cá thể động vật.

Tại kết luận giám định động vật số 2066/STTNSV ngày 02/12/2024 của V1 và Tài nguyên: 01 (một) vật thể màu đen (thu giữ của Hảng S khi khám xét) được niêm phong trong túi có mã số NS3 2115219 là của loài Lợn, có tên khoa học S4 scrofa.

Tại kết luận giám định động vật số 2069/STTNSV ngày 02/12/2024 của V1 và Tài nguyên: 04 (bốn) vật thể có lông màu nâu vàng (thu giữ của Phá A) được niêm phong trong túi có mã số NS1 2107641 là 04 (bốn) chi của loài Mang (Hoẵng), có tên khoa học Muntiacus muntjak. Không đủ cơ sở để xác định 04 (bốn) chi trên thuộc một hay bao nhiêu cá thể động vật.

Tại kết luận giám định động vật số 2068/STTNSV ngày 02/12/2024 của V1 và Tài nguyên: 05 (năm) vật thể màu đen (thu giữ của Hờ Thị P2) được niêm phong trong túi có mã số NS1 2107640 là của loài Lợn, có tên khoa học S4 scrofa.

Tại kết luận giám định động vật số 2071/STTNSV ngày 02/12/2024 của V1 và Tài nguyên: 01 (một) vật thể màu đen trắng có dính lông màu đen (thu giữ của

Hờ Thị P2) được niêm phong trong túi có mã số NS1 2107639 là sản phẩm thịt/da/lông của loài Gấu ngựa, có tên khoa học U thibetanus.

Tại kết luận giám định động vật số 2067/STTNSV ngày 02/12/2024 của V1 và Tài nguyên: 01 (một) vật thể màu đen (thu giữ của Nguyễn Thị C) được niêm phong trong túi có mã số NS3 2115218 là của loài Lợn, có tên khoa học S4 scrofa.

- Loài Lợn (K) không có tên trong Phụ lục I, Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ, ban hành kèm theo Nghị định 64/2019/NĐ-CP ngày 16/7/2019 của Chính phủ, đồng thời không có tên trong nhóm IB, Danh mục thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm, ban hành kèm theo Nghị định 84/2021/NĐ-CP ngày 22/09/2021 của Chính phủ.

- Loài M1 (Hoẵng) (Muntiacus muntjak) không có tên trong Phụ lục I, Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ, ban hành kèm theo Nghị định 64/2019/NĐ-CP ngày 16/7/2019 của Chính phủ, đồng thời không có tên trong nhóm IB, Danh mục thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm, ban hành kèm theo Nghị định 84/2021/NĐ-CP ngày 22/09/2021 của Chính phủ.

- Loài Gấu ngựa (Ursus thibetanus) có tên trong Phụ lục I, Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ, ban hành kèm theo Nghị định 64/2019/NĐ-CP ngày 16/7/2019 của Chính phủ, đồng thời có tên trong Nhóm IB, Danh mục thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm, ban hành kèm theo Nghị định 84/2021/NĐ-CP ngày 22/9/2021 của Chính phủ; Chi Gấu ngựa và Thịt/da/lông Gấu ngựa là sản phẩm của động vật.

Bản Cáo trạng số 15/CT -VKS - TU, ngày 28/2/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện Tân Uyên để xét xử Thào A Q về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự, Hảng Seo Giả về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự và tội “Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý hiếm” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 244 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa vị đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên Cáo trạng truy tố về tội danh đối với các bị cáo. Áp dụng khoản 1 Điều 174; điểm s, b khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điểm g, i khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Đề nghị xử phạt bị cáo Thào A Q mức án từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù, đề nghị miễn hình phạt bổ sung và miễn án phí cho bị cáo. Áp dụng khoản 1 Điều 174; điểm s, b khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Hảng S2 Giả mức án từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Đề nghị áp dụng điểm b khoản 1 Điều 244; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Hảng Seo G từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù về tội “Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý hiếm”, áp dụng Điều 55 Bộ luật Hình sự tổng hợp hình phạt chung buộc bị cáo Hảng Seo G phải chịu từ 02 năm đến 03 năm tù, đề nghị miễn hình phạt bổ sung và miễn án phí cho bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ Luật Tố tụng Hình sự. Tịch thu sung quỹ Nhà nước: 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu ESPERO, số loại: 130W3, màu sơn đen, biển kiểm soát 24X1-109.27; 01 chiếc điện thoại di động màn hình cảm ứng, nhãn hiệu Vivo Y17s, vỏ màu đen thu giữ của Thào A Q; 01 chiếc điện thoại di động màn hình cảm ứng, nhãn hiệu OPPO A77s, vỏ màu xanh thu giữ của Hảng Seo G. Tịch thu tiêu hủy 01 phôi sim V3 với số thuê bao 0982202490 thu giữ của Thào A Q và 01 phôi simViettel 4G với số thuê bao 0373492575 thu giữ của Hảng Seo G.

Về trách nhiệm dân sự: Do các bị cáo và các bị hại đã thỏa thuận thống nhất về phần bồi thường, các bị hại không có yêu cầu gì thêm nên không đề nghị Hội đồng xét xử xem xét.

Tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các bị cáo đồng ý với bản Cáo trạng và luận tội của đại diện Viện kiểm sát và không có tranh luận gì.

Các bị cáo nói lời nói sau cùng: Xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo để các bị cáo sớm trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện T, tỉnh Lai Châu, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Uyên tỉnh Lai Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự; Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi của các bị cáo: Tại phiên tòa, các bị cáo Thào A Q, Hảng Seo G đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của các bị cáo phù hợp với các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử đủ cơ sở để kết luận:

Trong khoảng thời gian từ năm 2023 đến năm 2024, tại khu vực huyện T, tỉnh Lai Châu, Thào A Q đã 03 lần có hành vi đưa ra thông tin gian dối về các túi mật sấy khô không rõ chủng loại là túi mật của loài gấu để làm cho anh Nguyễn Thế T2, anh Lại Văn T3 và bà Nguyễn Thị C tin tưởng đó là mật gấu thật và mua để chiếm đoạt tiền của những người này. Cụ thể: 01 lần Qủa đưa ra thông tin gian dối chiếm đoạt của anh Nguyễn Thế T2 số tiền 5.000.000 đồng; 01 lần đưa ra thông tin gian dối chiếm đoạt của anh Lại Văn T3 số tiền 5.000.000 đồng; 01 lần đưa ra thông tin gian dối chiếm đoạt của bà Nguyễn Thị C số tiền 6.700.000 đồng. Tổng số tiền Thào A Q chiếm đoạt là 16.700.000 đồng.

Cũng trong năm 2022, tại bản T, xã T, huyện T, tỉnh Lai Châu, Hảng Seo G đã 01 lần có hành vi đưa ra thông tin gian dối về túi mật sấy khô không rõ chủng loại và làm cho ông H1 A P tin tưởng đó là mật gấu thật và mua. G đã chiếm đoạt của ông P số tiền 5.000.000 đồng.

Ngoài ra trong khoảng thời gian từ năm 2021 đến năm 2024, Hảng S đã có hành vi tàng trữ 04 chi của loài Gấu ngựa (chi Gấu ngựa là sản phẩm của động vật), có tên khoa học Ursus thibetanus, mục đích để sử dụng. (Loài Gấu ngựa (Ursus thibetanus) có tên trong Phụ lục I, Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ, ban hành kèm theo Nghị định 64/2019/NĐ-CP ngày 16/7/2019 của Chính phủ, đồng thời có tên trong Nhóm IB, Danh mục thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm, ban hành kèm theo Nghị định 84/2021/NĐ-CP ngày 22/9/2021 của Chính phủ).

Các bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vì lười lao động, muốn có tiền để tiêu xài nên đã cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” được quy định tại khoản 1 Điều 174 của Bộ luật Hình sự; riêng hành vi tàng trữ sản phẩm động vật có tên trong Phụ lục I, Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ của bị cáo Hảng Seo G đã phạm vào tội “Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 244 Bộ luật hình sự. Cáo trạng truy tố các bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

[3] Xét tính chất vụ án, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo: Hành vi của các bị cáo Thào A Q, Hảng S là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, làm mất trật tự an toàn xã hội trên địa bàn. Hành vi của bị cáo Hảng Seo G còn xâm phạm đến các chế độ quản lý của Nhà nước về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm, xâm phạm nghiêm trọng đến bảo vệ cân bằng môi trường sinh thái, đa dạng sinh học của các loài động vật nguy cấp, quý, hiếm và gây ra những hậu quả nghiêm trọng khác cho đời sống xã hội.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Thào A Q phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “phạm tội 02 lần trở lên” và “phạm tội với người đủ 70 tuổi trở lên” theo quy định tại điểm g, i khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Bị cáo Hảng Seo G không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, tuy nhiên bị cáo có nhân thân xấu. Năm 2006, Tòa án nhân dân huyện Xín Mần, tỉnh Hà Giang xử phạt Hảng Seo Giả 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội Trộm cắp tài sản, tuy bị cáo đã được xóa án tích nhưng không lấy đó làm bài học để tu dưỡng, rèn luyện bản thân lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội. Do đó quá trình lượng hình, Hội đồng xét xử cần áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc, tương xứng với nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa các bị cáo đều thừa nhận hành vi phạm tội của mình, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; sau khi phạm tội các bị cáo đã tác động gia đình

bồi thường thiệt hại theo yêu cầu của các bị hại và những người bị hại đều có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo theo quy định tại điểm s, b khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Đối với bị cáo H2 Seo Giả có ông nội Hảng Seo S5 là người có công với với Cách mạng, được Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng ba nên Hảng Seo Giả được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Trên cơ sở tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo, xét thấy cần cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định đủ để răn đe, giáo dục các bị cáo và đấu tranh phòng ngừa chung.

[4] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy hoàn cảnh gia đình các bị cáo khó khăn, các bị cáo là lao động tự do, không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định, nên miễn hình phạt bổ sung cho các bị cáo.

[5] Về trách nhiệm dân sự: Ngày 11/12/2024, gia đình bị cáo Thào A Q và những người bị hại đã thỏa thuận bồi thường dân sự, cụ thể: Bồi thường cho bà Nguyễn Thị C số tiền 10.000.000 đồng; bồi thường cho anh Nguyễn Thế T2 số tiền 5.000.000 đồng; bồi thường cho anh Lại Văn T3 số tiền 2.500.000 đồng. Ngày 14/01/2025 gia đình bị cáo Hảng Seo G và người bị hại Hảng A P đã thỏa thuận bồi thường dân sự với số tiền 4.000.000 đồng. Những người bị hại trên đều đã đồng ý mức bồi thường dân sự và không yêu cầu đề nghị bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[6] Về xử lý vật chứng:

- Đối với 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu ESPERO, số loại: 130W3, màu sơn đen, biển kiểm soát 24X1-109.27, quá trình điều tra xác định là tài sản hợp pháp của bị cáo Q và vợ là chị Hàng Thị D, việc bị cáo Q dùng chiếc xe mô tô trên để thực hiện hành vi phạm tội thì chị D không biết, tuy nhiên chiếc xe mô tô trên là phương tiện bị cáo Q dùng vào việc phạm tội nên xét thấy cần tịch thu toàn bộ chiếc xe mô tô trên để hóa giá sung quỹ Nhà nước, không chấp nhận yêu cầu của chị D về việc trả lại chiếc xe nêu trên cho gia đình chị D.

- 01 (một) chiếc điện thoại di động màn hình cảm ứng, nhãn hiệu Vivo Y17s, vỏ màu đen thu giữ của Thào A Q và 01 (một) chiếc điện thoại di động màn hình cảm ứng, nhãn hiệu OPPO A77s, vỏ màu xanh thu giữ của Hảng Seo Giả được các bị cáo sử dụng để liên lạc thực hiện hành vi phạm tội nên cần tịch thu hóa giá sung quỹ Nhà nước.

+ 01 (một) phôi sim V3 với số thuê bao 0982202490 thu giữ của Thào A Q và 01 (một) phôi sim V3 4G với số thuê bao 0373492575 thu giữ của Hảng S2 Giả xét thấy cần tịch thu tiêu hủy.

+ Đối với các vật chứng là các túi mật, da lông và các chi động vật được thu giữ, giao nộp trong quá trình giải quyết vụ án là những vật chứng thuộc loại mau hỏng, khó bảo quản. Vì vậy, ngày 14/01/2025 sau khi kết luận giám định và giao nhận lại vật chứng, căn cứ quy định tại điểm b khoản 1 điều 7 Nghị quyết số:

05/2018/NQ-HĐTP ngày 05/11/2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao quy định Hướng dẫn áp dụng Điều 234 về tội vi phạm quy định về bảo vệ động vật hoang dã và Điều 244 về tội vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm của Bộ luật hình sự, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã xử lý bằng hình thức tiêu hủy toàn bộ vật chứng nói trên là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

[6] Về án phí: Các bị cáo là người dân tộc thiểu số, sinh sống ở vùng có điều kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, các bị cáo đều xin được miễn án phí nên Hội đồng xét xử xem xét miễn án phí hình sự sơ thẩm cho các bị cáo.

[8] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định các Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.

[9] Các đối tượng, hành vi liên quan đến vụ án:

- Thào A Q khai đã nhiều lần mua sản phẩm động vật của Phá A D1 và D1 đều nói đó là mật gấu và móng gấu. Quá trình đối chất và lấy lời khai D1 không thừa nhận, D1 khai chỉ bán cho Q 01 túi mật bò đen vào ngày 24/10/2024 lấy số tiền 2.000.000 đồng, sau đó Q sử dụng túi mật bò đen này mục đích để làm gì thì D1 không biết. Ngoài lời khai duy nhất của Thào A Q ra thì không có tài liệu, chứng cứ khác chứng minh hành vi phạm tội của Phá A D1. Vì vậy Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T không đề cập xử lý đối với Phá A D1 là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

- Trong vụ án này, Thào A Q khai trong quá trình thực hiện hành vi phạm tội thì Q có đi cùng Hạng A, Phàng A, Thào A V và Sùng A T4, tuy nhiên chỉ rủ những người này đi chơi. Quá trình điều tra, L không thừa nhận; S3 thừa nhận việc đi chơi cùng nhưng không biết và không liên quan đến việc thực hiện hành vi phạm tội của Q; không xác định được nhân thân lai lịch của Thào A V và Sùng A T4, vì vậy không có cứ để điều tra xử lý đối với những người này.

- Thào A Q khai lần đầu tiên Q và Hảng S2 Giả trao đổi mua bán 01 túi mật sấy khô tại nhà của Phàn A D2. Quá trình điều tra không xác định được người đàn ông này nên không có căn cứ để điều tra làm rõ.

- Thào A Q khai nhận 01 vật thể màu trắng có lông màu đen, không xác định hình dạng, có kích thước: 6,7cm x 1,9cm bị thu giữ vào ngày 03/11/2024 là do Q mua của Thào A P1 với số tiền 260.000 đồng. Khi trao đổi mua bán P1 nói đó là da, lông gấu. Quá trình đối chất, lấy lời khai P1 không thừa nhận. Bên cạnh đó kết luận giám định xác định đối với vật thể này không thu được trình tự ADN nên không có cơ sở để xác định loài. Vì vậy không có căn cứ để xử lý đối với Thào A P1.

- Hảng Seo G khai số túi mật sấy khô đã bán cho ông Hảng A P, Thào A Q, và số túi mật sấy khô, 04 chi gấu ngựa bị thu giữ đều do G mua của một người đàn ông dân tộc Mông không rõ lai lịch tên là S1 tại Nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào thời điểm từ năm 2021 đến năm 2023. Quá trình điều tra không xác định được người đàn ông này nên không có căn cứ để xử lý.

- Quá trình điều tra xác định việc Hảng Seo G cất giữ 04 chi gấu ngựa trong ngăn đông tủ lạnh của gia đình thì vợ của bị cáo là chị Giàng Thị H không biết. Vì vậy Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T không đề cập xử lý đối với chị H là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

- Quá trình điều tra xác định Hảng Seo G, Thào A Q đã có nhiều lần thực hiện hành vi đưa ra thông tin gian dối để lừa các túi mật sấy khô là mật gấu và bán cho người khác. Tuy nhiên những lần này số tiền chiếm đoạt không đủ để truy cứu trách nhiệm hình sự và Cơ quan điều tra cũng không thu giữ được các túi mật để xác định túi mật của loài gì. Do vậy, Công an huyện T đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với các hành vi này là đúng quy định của pháp luật.

- Quá trình điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T tiến hành khám xét chỗ ở đối với Phá A, kết quả phát hiện thu giữ 04 chi của loài Mang (Hoẵng) do D1 cất giữ; 05 túi mật sấy khô của loài Lợn và 01 vật thể màu đen trắng có dính lông màu đen là sản phẩm thịt/da/lông của loài Gấu ngựa do Hờ Thị P2 (vợ của D1) cất giữ, với mục đích sử dụng. Xét thấy loài M1 (Hoẵng) và loài L1 không có tên trong danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ, vì vậy Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T không đề cập xử lý đối với D1 và P2 là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật; Đối với hành vi tàng trữ sản phẩm thịt/da/lông của loài Gấu ngựa, có tên trong danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ của Hờ Thị P2, ngày 26/12/2024 Cơ quan CSĐT Công an huyện T đã khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Hờ Thị P2 về tội Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm và chuyển vụ án đến Cơ quan CSĐT Công an huyện T, tỉnh Lai Châu để điều tra giải quyết theo thẩm quyền là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

- Đối với Nguyễn Thế T2, Hảng A, Lại Văn T3, Nguyễn Thị C là những người đã mua mật sấy khô của các bị cáo Thào A Q và Hảng Seo G. Tại thời điểm mua bán những người này đều tin đó là mật gấu và mua nhằm mục đích sử dụng. Tuy nhiên, kết luận giám định xác định những túi mật này không phải là sản phẩm của động vật có tên trong danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ. Vì vậy Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T không đề cập xử lý là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

- Quá trình điều tra xác định chiếc xe mô tô, biển kiểm soát 24X1-109.27 mà Thào A Q sử dụng trong quá trình thực hiện hành vi phạm tội là tài sản chung của bị cáo và vợ là chị Hàng Thị D. Việc bị cáo sử dụng chiếc xe để thực hiện hành vi phạm tội thì chị D không biết. Vì vậy Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T không đề cập xử lý đối với chị D là có căn cứ.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về điều luật áp dụng và tội danh:

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 174; điểm s, b khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g, i khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Tuyên bố bị cáo Thào A Q phạm

tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Xử phạt bị cáo Thào A Q 01 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 04/11/2024.

+ Căn cứ vào khoản 1 Điều 174; điểm s, b khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Tuyên bố bị cáo Hảng Seo G phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Xử phạt bị cáo Hảng Seo G 01 năm tù.

+ Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 244; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Tuyên bố bị cáo Hảng Seo G phạm tội “Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm”. Xử phạt bị cáo Hảng Seo G 01 năm 02 tháng tù.

Áp dụng Điều 55 Bộ luật Hình sự tổng hợp hình phạt buộc bị cáo Hảng Seo G phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai tội là 02 năm 02 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 04/11/2024.

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu sung quỹ Nhà nước: 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu ESPERO, số loại: 130W3, màu sơn đen, biển kiểm soát 24X1-109.27, số khung: RPEXCJDPENA852167, số máy: VDEJQ154FMJ1852167, xe cũ đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong; 01 (một) chiếc điện thoại di động màn hình cảm ứng, nhãn hiệu Vivo Y17s, vỏ màu đen, số IMEL 1: 860517063342366, số IMEL 2: 860517063342374, điện thoại đã qua sử dụng; 01 (một) chiếc điện thoại di động màn hình cảm ứng, nhãn hiệu OPPO A77s, vỏ màu xanh, số IMEL 1: 866451060290572, số IMEL 2: 866451060290564, điện thoại đã qua sử dụng thu giữ của Hảng Seo G.

Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phôi sim V3 với số thuê bao 0982202490, trên phôi sim có chữ T7 được viết bằng mực viết tay làm che đi các dòng chữ số được in máy; 01 (một) phôi sim V3 4G với số thuê bao 0373492575, trên phôi sim có in dòng số 8984048000932589936.

(Đặc điểm, tình trạng vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng hồi 15 giờ 00 phút, ngày 28/2/2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu).

3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho các bị cáo Thào A Q, Hảng Seo G.

4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo đến Tòa án nhân dân tỉnh Lai Châu trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo đến Tòa án nhân dân tỉnh Lai Châu trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Lai Châu;
  • - VKSND tỉnh Lai Châu;
  • - VKSND huyện Tân Uyên;
  • - Chi Cục THADS huyện Tân Uyên;
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh Lai Châu;
  • - CQCSĐT Công an tỉnh Lai Châu;
  • - Phòng Hồ sơ Công an tỉnh Lai Châu;
  • - Bị cáo; Bị hại; Người CQLNVLQ;
  • - Lưu HSVA./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA




Nguyễn Thị Oanh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 47/2025/HS-ST ngày 03/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN UYÊN TỈNH LAI CHÂU về hình sự (lừa đảo chiếm đoạt tài sản và vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm)

  • Số bản án: 47/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Lừa đảo chiếm đoạt tài sản và Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 03/04/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN UYÊN TỈNH LAI CHÂU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Các bị cáo phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo k1 Điều 174 BLHS
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger