|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Bản án số: 47/2025/HS-ST Ngày: 02/4/2025 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Thu Trang
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Nguyễn Thị Hồng Sen;
- Ông Nguyễn Đình Rành.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Thanh - Thư ký Toà án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: bà Nguyễn Thị Mộng Tuyền - Kiểm sát viên.
Ngày 02 tháng 4 năm 2025, tại phòng Xử án Tòa án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 33/2025/TLST-HS ngày 21 tháng 02 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 38/2025/QĐXXST-HS ngày 07/3/2025, đối với bị cáo:
Họ và tên: Trần Quốc T (tên gọi khác: không); giới tính: N; sinh năm 2005 tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: 180/35 B, phường C, Thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; nơi cư trú: B13.21 Chung cư S, số C N, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 12/12; nghề nghiệp: Sinh viên; con ông Trần Văn H, sinh năm: 1961 và bà Đặng Như T1, sinh năm: 1969; tiền án: Không; Tiền sự: Không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 15/10/2024. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Người bị hại:
Ông Trần Đình H1, sinh năm 2006; Địa chỉ: Số B E, Đường A, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh. Có đơn vắng mặt
Người bào chữa cho bị cáo Trần Quốc T: Ông Nguyễn Quang T2, sinh năm 1983 (có mặt), bà Hồ Thị Cẩm V, sinh năm 1998 - Luật sư thuộc Văn phòng L - Chi nhánh H2; Địa chỉ: Số C đường số D, Phường G, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh (có đơn vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 13 giờ 45 phút ngày 12/8/2024, Trần Quốc T điều khiển xe máy biển số: 72C2 - 636.42 đến câu lạc bộ bida WOP7 địa chỉ số F H, phường T, Quận G, Tp . để chơi bida. Trong lúc ngồi chờ có bàn để chơi bida, T nhìn thấy trên bàn bida có để 01 điện thoại Iphone XS của ông Trần Đình H1 nên T đã lấy trộm. Khi T lấy điện thoại bị ông H1 phát hiện và ông H1 cùng với bạn là ông Vũ Thế B đuổi theo, T hoảng sợ bỏ chạy làm rớt điện thoại xuống sàn và chạy ra ngoài. Cùng lúc đó, tổ tuần tra Công an phường T, Quận G đi tuần tra đến đưa T về trụ sở Công an phường T làm việc. Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an Q, Trần Quốc T khai nhận hành vi phạm tội của mình.
Kết luận định giá tài sản số 252/KL-HĐĐGTTGS ngày 11/9/2024 của Hội đồng định giá tài sản tố tụng hình sự Ủy ban nhân dân Quận G, kết luận: “01 Điện thoại di động hiệu Iphone xs max màu vàng 64GB, trị giá 2.583.000 đồng”.
Vật chứng thu giữ:
Điện thoại di động hiệu Iphone xs max màu vàng 64GB. Cơ quan cảnh sát điều tra đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại cho bị hại.
01 áo thun màu đen có dòng chữ CEMMERY Signature 2.0, 01 quần jeans dài màu xám, 01 đôi dép kẹp màu đen, 01 balo màu đen, 01 mũ vải màu đen. Đây là trang phục T mặc khi thực hiện hành vị trộm cắp tài sản.
Về dân sự: Anh Trần Đình H1 đã nhận lại tài sản không yêu cầu.
Bản Cáo trạng số 37/CT-VKSQ7 ngày 20/2/2025 Viện kiểm sát nhân dân Quận 7 đã truy tố bị cáo Trần Quốc T đã phạm tội Trộm cắp tài sản. Tội phạm và hình phạt được quy định tại Khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Trong phần tranh luận đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 7 vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng Khoản 1 Điều 173, điểm i, s Khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt các bị cáo Trần Quốc T từ 06 tháng đến 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng về tội “Trộm cắp tài sản” và đề nghị xử lý vật chứng theo quy định pháp luật;
Luật sư tranh luận: Đồng ý với tội danh và hình phạt mà Viện kiểm sát nhân dân Quận 7 đã nêu. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét thêm các tình tiết giảm nhẹ là bị cáo T phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại vì thực tế người bị hại đã nhận lại tài sản, bản thân bị cáo luôn có thành tích tốt trong quá trình học tập, bị cáo có nhân thân tốt, gia đình bị cáo tại địa phương là gia đình văn hóa, bị cáo có nơi cư trú ổn định để áp dụng thêm điểm h Khoản 1 Điều 51, Khoản 3 Điều 51 để xét cho bị cáo được hưởng mức án thấp hơn khung hình phạt và nếu có thể đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo mức án cải tạo không giam giữ hoặc mức thấp nhất của án treo.
Bị cáo khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với nội dung bản Cáo trạng đã được tóm tắt như trên, không tự bào chữa, không tranh luận, và xin được giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Q, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 7, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo, các đương sự không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Căn cứ tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa xét có đủ cơ sở để kết luận:
[2.1] Vào khoảng 13 giờ 45 phút, ngày 12/8/2024, tại câu lạc bộ bida W, F H, phường T, Quận G, bị cáo Trần Quốc T đã lén lút chiếm đoạt 01 chiếc điện thoại di động hiệu Iphone XS của ông Trần Đình H1, tội phạm đã hoàn thành. Căn cứ Kết luận định giá tài sản số 252/KL-HĐĐGTS ngày 11/9/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự - Ủy ban nhân dân Quận G, kết luận: “01 Điện thoại di động hiệu Iphone xs max màu vàng 64GB, trị giá 2.583.000 đồng”. Do đó, hành vi của bị cáo Trần Quốc T đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản”. Tội phạm và hình phạt quy định tại Khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
[2.2] Hành vi phạm tội của bị cáo là cố ý, táo bạo và liều lĩnh, xuất phát từ động cơ tham lam tư lợi để có tiền tiêu xài. Hành vi này của bị cáo là nguy hiểm vì đã xâm phạm trực tiếp đến tài sản hợp pháp của công dân; ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự, trị an xã hội. Do đó, phải xử lý nghiêm minh nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Xét thấy tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Tài sản bị cáo trộm cắp cũng đã được thu hồi và trả lại cho người bị hại, bị hại cũng đã có đơn bãi nại cho bị cáo. Bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng và hiện đang là sinh viên trường Đại học H3. Do vậy, khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử có xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s, i Khoản 1, Điều 51; Khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
Từ những phân tích và nhận định nêu trên, xét thấy bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, nên Hội đồng xét xử xét thấy không cần bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù mà áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015 cho bị cáo được hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách như lời đề nghị của Viện kiểm sát cũng đủ tác dụng răn đe, giáo dục đối với bị cáo, thể hiện tính nhân đạo và sự khoan hồng của pháp luật Nhà nước ta để bị cáo có cơ hội sửa chữa trở thành công dân tốt cho gia đình và xã hội.
[4] Về trách nhiệm dân sự:
Người bị hại đã nhận lại tài sản không có yêu cầu gì với bị cáo nên Hội đồng xét xử không xét.
[5] Xử lý vật chứng:
01 áo thun màu đen có dòng chữ CEMMERY Signature 2.0, 01 quần jeans màu xám, 01 đôi dép kẹp màu đen, 01 balo màu đen, 01 mũ vải màu đen. Đây là trang phục T mặc khi thực hiện hành vị trộm cắp tài sản, tại phiên tòa bị cáo yêu cầu được nhận lại nên Hội đồng xét xử xét trả lại cho bị cáo.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Trần Quốc T phạm tội “Trộm cắp tài sản”
- Áp dụng Khoản 1 Điều 173; điểm s, i Khoản 1 Điều 51, Khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017:
Xử phạt bị cáo Trần Quốc T 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách 01 (một) năm kể từ ngày tuyên án.
Giao bị cáo cho UBND phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí minh nơi bị cáo cư trú giám sát giáo dục. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát giáo dục bị cáo trong thời gian thi hành án treo và thử thách. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 luật Thi hành án Hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo theo quy định tại khoản 5 Điều 65 Bộ luật hình sự.
Tiếp tục áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú đối với bị cáo Trần Quốc T tại địa chỉ B Chung cư S, số C N, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh cho đến khi có Quyết định Thi hành án theo quy định của pháp luật.
- Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 tuyên:
Trả lại cho bị cáo Trần Quốc T 01 áo thun màu đen có dòng chữ CEMMERY Signature 2.0, 01 quần jeans màu xám, 01 đôi dép kẹp màu đen, 01 balo màu đen, 01 mũ vải màu đen.
(Theo biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản số 054 ngày 14/02/2025)
- Căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Luật phí và lệ phí Tòa án năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: bị cáo Trần Quốc T phải nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng (hai trăm ngàn) tại Chi cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
- Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015: Trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm đến Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
Người tham gia tố tụng vắng mặt tại phiên tòa thì được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
Đã giải thích chế định án treo cho các bị cáo tại phiên tòa.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Trần Thị Thu Trang |
Bản án số 47/2025/HS-ST ngày 02/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 47/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 02/04/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: 06 THÁNG TÙ TREO
