Hệ thống pháp luật

TAND HUYỆN PHONG THỎ

TỈNH LAI CHÂU

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 47/2025/HS-ST

Ngày 01-4-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG THỎ, TỈNH LAI CHÂU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lương Văn Đoàn.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Giàng A Vư và ông Tẩn Cao Sơn.

Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Tuyên - Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Xuân - Kiểm sát viên.

Ngày 01 tháng 4 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phong Thổ xét xử sơ thẩm, công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 45/2025/TLST-HS ngày 20 tháng 02 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 48/2025/QĐXXST-HS ngày 20/3/2025 đối với bị cáo:

Họ và tên: Phùng Chin X; giới tính: Nam; sinh ngày 05/6/1992; Nơi cư trú trước khi bị bắt: Bản Nhóm 3, xã V, huyện P, tỉnh Lai Châu; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Dao; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ học vấn: 02/12; Con ông Phùng Vần K, đã chết và con bà Lý U M, đã chết; Gia đình có 06 chị em, bị cáo là con thứ sáu trong gia đình; Bị cáo chung sống như vợ chồng với Phàn Tả M1, sinh năm 1995; Con: Có 03 con, con lớn nhất sinh năm 2013, con nhỏ nhất sinh năm 2019.

Tiền án: Bị cáo có 01 tiền án, tại bản án hình sự sơ thẩm số 85/2024/HSST ngày 27/6/2024 của Tòa án nhân dân huyện Phong Thổ, áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm s, khoản 1, 2 Điều 51, các Điều 17, 36, 58 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo 15 tháng cải tạo không giam giữ về tội “Đánh bạc”, bị cáo chưa chấp hành xong hình phạt, chưa được xóa án tích; Tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 12/9/2024, chuyển tạm giam từ ngày 15/9/2024 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ, Công an huyện P (Nay là phân trại thuộc Trại tạm giam, Công an tỉnh L. Có mặt.

* Người bào chữa cho bị cáo: Ông Nguyễn Công H – Trợ giúp viên pháp lý, Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh L, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 16 giờ ngày 11/9/2024, bị cáo Phùng Chin X đi xe ô tô khách từ xã V đến xã P để tìm mua Heroine để sử dụng. Khi đến bản N, xã P, X xuống xe đi bộ vào trung tâm bản thì gặp Vàng A G, sinh năm 2001, trú tại bản Ngài Thầu. X đã mua của G 01 gói Heroine với giá 600.000 đồng, mua được H1, X cất giấu ở túi quần bên trái đang mặc rồi đi nhờ xe mô tô của một người không rõ nhân thân, lai lịch để về nhà tại bản Nhóm 3, xã V. Đến 18 giờ cùng ngày khi X về đến nhà thì có gặp Chẻo T, sinh năm 1992, trú tại bản Tả Phùng, xã V đến chơi. T có hỏi xin Xoang Heroine để sử dụng, X đồng ý, X cấu lấy một ít Heroine đưa cho T, T nhận số Heroine rồi dùng mảnh giấy bạc và bật lửa ga màu xanh ra tự sử dụng bằng hình thức hít ngay trong nhà X. Xoang cũng lấy 02 bơm kim tiêm trong túi áo đang mặc đặt trên chiếc ghế màu xanh và lấy một ít Heroine trong gói H1 mua được cho vào một bơm kim tiêm để chuẩn bị sử dụng. Hồi 18 giờ 30 phút cùng ngày, khi X chưa kịp sử dụng số Heroine thì bị Công an xã V đến nhà kiểm tra, bắt quả tang. Đối với Chẻo T vừa sử dụng xong Heroine, nhìn thấy lực lượng Công an nên đã bỏ chạy thoát. Lực lượng chức năng thu giữ 01 gói Heroine, 02 bơm kim tiêm, 01 mảnh giấy bạc bị đốt cháy, 01 bật lửa ga màu xanh. Sau đó Cơ quan điều tra đã tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của X nhưng không thu giữ thêm gì.

Tại bản kết luận giám định số 1080/KL-KTHS ngày 14/9/2024 của Phòng K1, Công an tỉnh L đã kết luận: 02 mẫu chất bột, màu trắng gửi giám định là ma túy; loại Heroine; Tại bản kết luận giám định số 60/KL-GĐVV ngày 12/9/2024 của người giám định tư pháp theo vụ việc kết luận: Số chất bột, màu trắng thu giữ của Phùng Chin X có khối lượng là 0,63 gam.

Bản cáo trạng số 11/CT-VKSPT ngày 20/02/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ đã truy tố bị cáo Phùng Chin X về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về nội dung bản kết luận điều tra và nội dung bản cáo trạng nêu trên.

Tại phiên tòa, vị đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1, khoản 5 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo từ 01 năm 07 tháng đến 01 năm 10 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; áp dụng Điều 56 Bộ luật Hình sự để tổng hợp hình phạt của bản án hình sự số 85/2024/HSST ngày 27/6/2024 của Tòa án nhân dân huyện Phong Thổ đối với bị cáo, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo và căn cứ các điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và các điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự để tịch thu tiêu hủy 0,547 gam Heroine còn lại sau giám định, 01 mảnh nilon màu trắng, 01 phong bì niêm phong đã mở, 02 bơm kim tiêm, 01 chiếc bật lửa ga màu xanh, 01 mảnh giấy bạc đã bị đốt cháy. Về án phí đề nghị miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Tại phiên tòa người bào chữa đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự để xem xét giảm một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Về xử lý vật chứng theo quy định và đề nghị miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo. Tranh luận với quan điểm bào chữa của người bào chữa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố.

Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng, không có ý kiến tranh luận đối với quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ và xin được miễn án phí hình sự sơ thẩm.

Tại lời nói sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện P, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Người bào chữa đã thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội:

Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với nội dung vụ án, phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thu thập hợp pháp. Như vậy, có đủ cơ sở để xác định: Vào hồi 18 giờ 30 phút, ngày 11/9/2024, tại bản Nhóm 3, xã V, huyện P, P đang có hành vi tàng trữ trái phép 0,63 gam Heroine mục đích đều sử dụng thì bị Công an xã V phát hiện bắt quả tang. Bị cáo Phùng Chin X là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Bị cáo nhận thức được việc tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, có tính chất nghiêm trọng, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý các chất ma tuý của Nhà nước, gây mất trật tự trị an trên địa bàn nên cần được xử lý nghiêm minh. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Vì vậy, quan điểm về tội danh, mức hình phạt đối với bị cáo của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là hoàn toàn có cơ sở, đúng pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Đối với đề nghị của người bào chữa, Hội đồng xét xử sẽ căn cứ các tình tiết giảm nhẹ, tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo để xem xét, quyết định.

[3] Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:

Về nhân thân: Bị cáo là người dân tộc thiểu số, bị cáo không có công việc ổn định, có mối quan hệ thường xuyên với các đối tượng nghiện chất ma túy trên địa bàn. Bị cáo là đối tượng bị áp dụng biện pháp quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy của Ủy ban nhân dân xã V, huyện P.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị cáo là người đồng bào dân tộc thiểu số, sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn. Do vậy, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Bị cáo có 01 tiền án, bị Tòa án nhân dân huyện Phong Thổ xử phạt 15 tháng cải tạo không giam giữ về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự, bị cáo chưa chấp hành xong hình phạt, chưa được xóa án tích lại tiếp tục phạm tội do vậy bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng “Tái phạm” theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Trên cơ sở tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo. Xét thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để răn đe, giáo dục, cải tạo bị cáo thành công dân có ích cho xã hội.

[4] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung nhưng nghề nghiệp của bị cáo là làm ruộng, mức thu nhập không ổn định. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[5] Về vật chứng của vụ án:

Đối với 0,63 gam Heroine thu giữ của bị cáo, Cơ quan điều tra đã trích 0,083 gam đi gửi giám định chất ma túy, không hoàn lại mẫu vật nên không đề cập xử lý.

Vật chứng còn lại gồm: 0,547 gam Heroine; 01 mảnh nilon màu trắng, 01 phong bì niêm phong đã mở, 02 bơm kim tiêm, 01 chiếc bật lửa ga màu xanh, 01 mảnh giấy bạc đã bị đốt cháy là các vật Nhà nước cấm lưu hành, công cụ phạm tội và là vật không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy theo điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

[6] Những vấn đề liên quan:

Về nguồn gốc số ma túy, bị cáo khai mua của Vàng A G, sinh năm 2001, trú tại bản Ngài Thầu, xã P, Cơ quan điều tra đã triệu tập lấy lời khai, tiến hành đối chất giữa X và G nhưng G không thừa nhận đã bán Heroine cho X. Ngoài lời khai của Xoang thì không có tài liệu, chứng cứ gì khác nên không có căn cứ để xử lý Gieo theo quy định.

Đối với việc Phùng Chin X khai đã cung cấp ma túy cho Chẻo T sử dụng tại nhà của X. Tuy nhiên Cơ quan điều tra đã nhiều lần triệu tập T nhưng T không có mặt tại địa phương do đó Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, làm rõ.

[7] Về án phí: Bị cáo là người đồng bào dân tộc thiểu số, sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, tại phiên tòa bị cáo xin được miễn án phí hình sự sơ thẩm nên căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 và khoản 6 Điều 15 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 1, khoản 5 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38; các điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự;

Căn cứ các điểm a, c khoản 2 Điều 106; Các Điều 135, 136; 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự;

Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 6 Điều 15 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phùng Chin X phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".

2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Phùng Chin X 19 (Mười chín) tháng tù. Áp dụng Điều 56 Bộ luật Hình sự, tổng hợp hình phạt của bản án hình sự số 85/2024/HSST ngày 27/6/2024 của Tòa án nhân dân huyện Phong Thổ xử phạt bị cáo 15 tháng cải tạo không giam giữ, khấu trừ 106 ngày tạm giữ, tạm giam, quy đổi thành 10 tháng 18 ngày cải tạo không giam giữ, bị cáo còn phải chấp hành 04 tháng 12 ngày cải tạo không giam giữ, bị cáo đã chấp hành được 01 tháng 11 ngày cải tạo không giam giữ (Từ ngày 31/7/2024 đến ngày 11/9/2024), còn lại 03 tháng 01 ngày cải tạo không giam giữ, quy đổi thành 01 tháng tù. Bị cáo phải chịu hình phạt chung cho cả hai bản án là 20 (Hai mươi) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 12/9/2024. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

3. Về vật chứng:

Tịch thu tiêu hủy 0,547 gam Heroine còn lại sau giám định; 01 mảnh nilon màu trắng, 01 phong bì niêm phong đã mở, 02 bơm kim tiêm, 01 chiếc bật lửa ga màu xanh, 01 mảnh giấy bạc đã bị đốt cháy

(Tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng vào hồi 08 giờ 00 phút ngày 21/02/2025 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện P với Chi Cục thi hành án dân sự huyện Phong Thổ).

4. Về án phí: Bị cáo được miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án lên Tòa án nhân dân cấp trên.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Lai Châu;
  • - VKSND tỉnh Lai Châu;
  • - Sở tư pháp tỉnh Lai Châu;
  • - VKSND huyện Phong Thổ;
  • - Chi Cục THADS huyện Phong Thổ;
  • - Cơ quan THAHS Công an tỉnh (PC10);
  • - Trại tạm giam – Công an tỉnh (PC11);
  • - Phòng PC04 – Công an tỉnh:
  • - Phòng PV06 – Công an tỉnh;
  • - Bị cáo;
  • - Người bào chữa;
  • - Lưu HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lương Văn Đoàn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 47/2025/HS-ST ngày 01/04/2025 của Tòa án nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu về hình sự về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 47/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 01/04/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phùng Chin X
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger