|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA TỈNH ĐỒNG NAI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 47/2025/DSST
Ngày: 27/3/2025
V/v: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA - TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phú
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Công Danh
Bà Nguyễn Thị Ngọc Hoa
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Anh Thư - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân TP. Biên Hòa tham gia phiên tòa: Ông Mai Văn Thông – Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 3 năm 2025 tại Hội trường 6 - Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 743/2024/TLST-DS ngày 15/7/2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 36/2025/QĐXXST-DS ngày 19/02/2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 727/2025/QĐST-DS ngày 10/3/2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần S.
Địa chỉ: 2 N, phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Đức Thạch D - Tổng giám đốc.
Người đại diện theo ủy quyền ký đơn khởi kiện: Ông Trần Trung P - Trưởng phòng giao dịch.
Địa chỉ: 7 P, khu phố E, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai (Theo Giấy ủy quyền số 3525/2023/QĐ-PC ngày 25/12/2023).
Người đại diện theo ủy quyền tham gia tố tụng: Ông Lê Hồng T, sinh năm: 1994.
Địa chỉ: 9 đường Đ, khu phố H, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Ngọc H, sinh năm 1985.
Địa chỉ: D, Tổ B, khu phố D, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
(Ông T có mặt; bà H vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
- Theo đơn khởi kiện, các bản tự khai và tại phiên tòa đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Lê Hồng T trình bày:
Ngày 10/08/2022, bà H ký kết với Ngân hàng TMCP S (gọi tắt là Ngân hàng) 01 (một) Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng số 22081523 ngày 15/8/2022 và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng - các tài liệu này được gọi chung là Hợp đồng). Căn cứ thu nhập của bà H, Ngân hàng đã đồng ý cấp thẻ tín dụng với hạn mức sử dụng là 50.000.000 đồng với mục đích tiêu dùng cá nhân. Sau khi được cấp Thẻ tín dụng, bà H đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 704.681.449 đồng.
Trong quá trình sử dụng thẻ, từ ngày kích hoạt thẻ đến ngày 05/12/2023 Bà H đã thanh toán cho Ngân hàng tổng số tiền 657.656.067 đồng (Thứ tự thanh toán căn cứ theo khoản 5.5 điều 5 của Bản Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ cá nhân của Ngân hàng, tại trang W). Kể từ tháng 01/2024 đến nay bà H đã không thanh toán cho Ngân hàng. Qua nhiều lần làm việc, nhắc nhở nhưng bà H vẫn không có thiện chí trả nợ. Do bà H vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên Ngân hàng đã tạm khóa thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn nhóm 3 (Căn cứ theo khoản 5.7 điều 5 của Bản Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ cá nhân của Ngân hàng).
Tính đến hết ngày 26/3/2025, bà H còn nợ các khoản sau:
- + Nợ gốc: 50.000.000 đồng
- + Lãi quá hạn: 33.822.669 đồng (Bao gồm phí thường niên, sổ tiền lãi phạt, lãi quá hạn phát sinh)
- + Tổng cộng: 83.822.669 đồng
Mặc dù Ngân hàng đã yêu cầu bà H có trách nhiệm thanh toán, tuy nhiên bà H vẫn chưa thanh toán cho Ngân hàng
Nay Ngân hàng yêu cầu Tòa án giải quyết:
- Buộc bà Nguyễn Thị Ngọc H phải trả ngay cho Ngân hàng tổng số tiền tạm tính đến ngày 26/3/2025 là 83.822.669 đồng trong đó:
- - Nợ gốc: 50.000.000 đồng
- - Nợ lãi quá hạn: 33.822.669 đồng
- Bà Nguyễn Thị Ngọc H có trách nhiệm thanh toán khoản lãi phát sinh từ ngày 28/3/2025 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại hợp đồng.
Ngoài yêu cầu trên, nguyên đơn không còn yêu cầu nào khác.
- Đối với bị đơn bà Nguyễn Thị Ngọc H: Quá trình tố tụng, bị đơn bà Nguyễn Thị Ngọc H đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án; triệu tập hợp lệ để làm việc, lấy lời khai; tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; tham gia phiên tòa nhưng bị đơn vắng mặt không có lý do. Đồng thời, bị đơn cũng không có ý kiến, yêu cầu gì đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
- Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa:
1. Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán
- Về thẩm quyền giải quyết: Tranh chấp giữa Ngân hàng Thương mại Cổ phần S với bà Nguyễn Thị Ngọc H là tranh chấp dân sự; đồng thời bị đơn có địa chỉ tại thành phố B, Đồng Nai. Do đó căn cứ vào khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 BLTTDS thì đây là vụ kiện thuộc thẩm quyền thụ lý giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, Thẩm phán đã xác định thẩm quyền thụ lý vụ án đúng với quy định của pháp luật.
- Về quan hệ pháp luật: Thẩm phán xác định đây là vụ kiện “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” giữa Ngân hàng Thương mại Cổ phần S với bà Nguyễn Thị Ngọc H là hoàn toàn phù hợp đúng với khoản 3 Điều 26 BLTTDS.
- Về xác định tư cách pháp lý của những người tham gia tố tụng: Thẩm phán đã xác định nguyên đơn, bị đơn theo đúng theo quy định tại khoản 2, 3 Điều 68 BLTTDS.
- Về thụ lý vụ án và thời hạn chuẩn bị xét xử:
- + Về thụ lý vụ án: Thẩm phán đã thực hiện đúng quy định tại Điều 195, 196 BLTTDS.
- + Về thời hạn chuẩn bị xét xử: xét thấy Thẩm phán đảm bảo về thời hạn chuẩn bị xét xử được quy định tại Điều 203 BLTTDS.
- Về thủ tục hòa giải, tiếp cận công khai chứng cứ: Thẩm phán thực hiện đúng theo quy định tại Điều 205, 208, 209, 210, 211 BLTTDS.
- Về việc chuyển giao hồ sơ cho VKS: Thẩm phán thực hiện đúng quy định tại khoản 2 Điều 220 BLTTDS.
- Việc cấp, tống đạt các văn bản tố tụng: Thẩm phán đều thực hiện đúng quy định tại các Điều 171, 173, 17, 179 BLTTDS.
2. Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa.
Hội đồng xét xử đảm bảo đúng thành phần, đảm bảo sự vô tư, khách quan khi giải quyết vụ án và tuân theo đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án.
Thư ký phiên tòa đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
3. Về việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng:
- Đối với nguyên đơn, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn đã thực hiện đúng các quy định về người có yêu cầu khởi kiện, cung cấp chứng cứ cho toà án để chứng minh những yêu cầu hợp pháp của mình, tham gia phiên họp công khai chứng cứ theo đúng thông báo của toà án là thực hiện đúng các quy định tại Điều 70, 71, 85, 86, 91, 96 BLTTDS.
- Đối với bị đơn trong quá trình giải quyết vụ án được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không lý do tại phiên họp kiểm tra công khai chứng cứ và hòa giải là chưa thực hiện đúng quy định tại Điều 70, 72 BLTTDS.
4. Về đường lối giải quyết vụ án:
Qua nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, thấy rằng:
Ngân hàng Thương mại Cổ phần S và bà Nguyễn Thị Ngọc H thoả thuận ký kết Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng số 22081523 ngày 15/8/2022 để cấp cho bà H thẻ tín dụng với hạn mức sử dụng là 50.000.000 đồng, với mục đích tiêu dùng cá nhân. Sau khi được cấp Thẻ tín dụng, bà H đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 704.681.449 đồng.
Xét thấy: Trong quá trình thực hiện nghĩa vụ trả nợ, từ ngày kích hoạt thẻ đến ngày 05/12/2023 Bà H đã thanh toán cho Ngân hàng tổng số tiền 657.656.067 đồng. Kể từ tháng 01/2024 đến nay bà H đã không thanh toán cho Ngân hàng. Qua nhiều lần làm việc, nhắc nhở nhưng bà H vẫn không có thiện chí trả nợ nên khoản vay đã quá hạn thanh toán dẫn đến phát sinh nợ quá hạn. Do bà Nguyễn Thị Ngọc H đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ, nên việc Ngân hàng TMCP S yêu cầu bà Nguyễn Thị Ngọc H phải thanh toán khoản nợ cho Ngân hàng số tiền tạm tính đến ngày 26/3/2025 là 83.822.669 đồng, trong đó nợ gốc: 50.000.000 đồng; nợ lãi quá hạn: 33.822.669 đồng theo Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng số 22081523 ngày 15/8/2022 là có cơ sở chấp nhận.
Nguyên đơn khởi kiện và cung cấp địa chỉ của bà H theo Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng số 22081523 ngày 15/8/2022 mà bà H đã ký kết với Ngân hàng. Việc thay đổi địa chỉ bà H không thông báo cho nguyên đơn biết, theo Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thuộc trường hợp cố tình giấu địa chỉ. Vì vậy, khi giải quyết vụ án Toà án căn cứ vào địa chỉ trong các hợp đồng mà bà H đã ký kết với Ngân hàng để làm căn cứ để giải quyết vụ án là phù hợp với quy định của pháp luật.
Do đó, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa đề nghị Hội đồng xét xử sơ thẩm:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần S:
- - Buộc bà Nguyễn Thị Ngọc H thanh toán cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S số tiền vay tạm tính đến hết ngày 26/3/2025 là 83.822.669 đồng, trong đó nợ gốc: 50.000.000 đồng; nợ lãi quá hạn: 33.822.669 đồng.
- Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành xong số tiền trên, bị đơn bà Nguyễn Thị Ngọc H còn phải tiếp tục trả lãi phát sinh theo lãi suất thỏa thuận tại Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng số 22081523 ngày 15/8/2022 đã được ký kết giữa các bên.
- Về án phí dân sơ thẩm: bà Nguyễn Thị Ngọc H chịu theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ pháp luật, tư cách đương sự:
Ngân hàng Thương mại Cổ phần S yêu cầu bà Nguyễn Thị Ngọc H trả số tiền nợ chưa thanh toán theo Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng số 22081523 ngày 15/8/2022 các bên đã ký kết. Căn cứ vào Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự xác định quan hệ pháp luật tranh chấp của vụ án là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”; Ngân hàng Thương mại Cổ phần S là nguyên đơn, bà Nguyễn Thị Ngọc H là bị đơn.
[2] Về thẩm quyền giải quyết vụ án:
Ngân hàng Thương mại Cổ phần S nộp đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng với bà Nguyễn Thị Ngọc H có nơi cư trú tại thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Căn cứ khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, thẩm quyền giải quyết thuộc Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.
[3] Về thủ tục tố tụng:
- Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng số 22081523 ngày 15/8/2022 có ghi cụ thể địa chỉ và căn cước công dân của bà H. Khi thay đổi địa chỉ bà H không thông báo cho nguyên đơn biết, theo Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao xem như bà H cố tình giấu địa chỉ. Vì vậy, khi giải quyết vụ án Toà án căn cứ vào địa chỉ trong các hợp đồng mà bà H đã ký kết với Ngân hàng để làm căn cứ để giải quyết vụ án là phù hợp với quy định của pháp luật.
- Đại diện nguyên đơn ông Lê Hồng T có mặt. Bị đơn bà Nguyễn Thị Ngọc H đã được tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa không rõ lý do. Do đó, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bà H theo quy định tại Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[4] Về việc giải quyết vụ án:
Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc yêu cầu bà Nguyễn Thị Ngọc H trả cho Ngân hàng TMCP S số tiền nợ tín dụng tạm tính đến hết ngày 26/3/2025 là: 83.822.669 đồng, trong đó nợ gốc: 50.000.000 đồng, nợ lãi quá hạn: 33.822.669 đồng. Ngoài ra, nguyên đơn yêu cầu bà Nguyễn Thị Ngọc H phải thanh toán cho Ngân hàng TMCP S số tiền lãi quá hạn phát sinh theo quy định tại Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng số 22081523 ngày 15/8/2022 kể từ ngày 28/3/2025 cho đến khi thanh toán xong toàn bộ nợ vay. Hội đồng xét xử xét thấy:
- Theo tài liệu chứng cứ nguyên đơn cung cấp thể hiện: Ngày 15/8/2022, Ngân hàng Thương mại Cổ phần S và bà Nguyễn Thị Ngọc H ký kết Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng số 22081523 (Bút lục 63-69).
Về số tiền vay, mục đích vay và lãi suất của hợp đồng nêu trên như đại diện nguyên đơn trình bày.
Theo đơn khởi kiện Ngân hàng TMCP S trình bày: quá trình thực hiện hợp đồng, Ngân hàng xác định bà H thanh toán được cho Ngân hàng số tiền 657.656.067 đồng.
Tại biên bản xác minh ngày 22/8/2024 của Công an phường T, thành phố B xác nhận: Bà Nguyễn Thị Ngọc H, sinh năm 1985 có đăng ký hộ khẩu thường trú tại địa chỉ D, tổ B, khu phố D, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Tuy nhiên, bà H đã bán nhà đi khỏi địa phương 01 năm, không còn sinh sống tại địa chỉ trên, hiện không xác định được bà H sinh sống ở đâu, làm gì (bút lục 97).
Bà H đã được Tòa án đã được Tòa án tống đạt (niêm yết) các văn bản tố tụng hợp lệ nhưng không đến Tòa án trình bày ý kiến để bảo vệ quyền lợi cho mình cũng như có văn bản phản hồi lại yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần S. Vì vậy xem như bà H đã từ chối cung cấp tài liệu, chứng cứ để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình và mặc nhiên thừa nhận nợ. Từ đó có đủ cơ sở xác định việc bà H ký kết với Ngân hàng Thương mại Cổ phần S Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng số 22081523 ngày 15/8/2022 để xin cấp thẻ tín dụng với hạn mức sử dụng là 50.000.000 đồng, thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 704.681.449 đồng, đã trả được số tiền 657.656.067 đồng. Bà H còn nợ 83.822.669 đồng tính đến hết ngày 26/3/2025, trong đó trong đó nợ gốc: 50.000.000 đồng, nợ lãi quá hạn: 33.822.669 đồng là có thật.
Từ đó, có căn cứ chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Buộc bà Nguyễn Thị Ngọc H phải trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S số tiền tính đến ngày 26/3/2025 là 83.822.669 đồng, trong đó trong đó nợ gốc: 50.000.000 đồng; nợ lãi quá hạn: 33.822.669 đồng.
Kể từ ngày 28/3/2025 cho đến khi thi hành xong số tiền trên, bà Nguyễn Thị Ngọc H còn phải tiếp tục trả lãi phát sinh theo lãi suất các bên đã thỏa thuận trong Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng số 22081523 ngày 15/8/2022 các bên đã ký kết.
[5] Nhận định của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
[6] Về án phí: bà Nguyễn Thị Ngọc H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định. Hoàn trả cho nguyên đơn số tiền tạm ứng án phí đã nộp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
- Căn cứ Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 220, các Điều 227, 228, 266 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015;
- Căn cứ Điều 463, Điều 466 Bộ luật Dân sự năm 2015;
- Căn cứ Luật các tổ chức tín dụng;
- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Nghị Quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/05/2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
Tuyên xử:
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần S.
Buộc bà Nguyễn Thị Ngọc H trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S số tiền tính đến hết ngày 26/3/2025 là 83.822.669 đồng (Tám mươi ba triệu tám trăm hai mươi hai nghìn sáu trăm sáu mươi chin đồng), trong đó: nợ gốc: 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng), nợ lãi quá hạn: 33.822.669 đồng (Ba mươi ba triệu tám trăm hai mươi hai nghìn sáu trăm sáu mươi chin đồng).
Kể từ ngày 28/3/2025, bà Nguyễn Thị Ngọc H phải thanh toán cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S tiền lãi phát sinh trên số nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất các bên đã thỏa thuận tại Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng số 22081523 ngày 15/8/2022 cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ.
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
Bà Nguyễn Thị Ngọc H phải chịu 4.191.133 đồng (Bốn triệu một trăm chín mươi mốt nghìn một trăm ba mươi ba đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
Hoàn trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S số tiền 1.599.719 đồng (Một triệu năm trăm chín mươi chín nghìn bảy trăm mười chín đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0004565 ngày 04/7/2024 của Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.
- Quyền kháng cáo: Nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần S được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị đơn bà Nguyễn Thị Ngọc H được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
Trường hợp Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Phú |
Bản án số 47/2025/DSST ngày 27/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA TỈNH ĐỒNG NAI về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 47/2025/DSST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/03/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngân Hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín tranh chấp hợp đồng tín dụng với Nguyễn Thị Ngọc Hà
