Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN THOẠI SƠN

TỈNH AN GIANG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 47/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 19/3/2025

V/v không công nhận quan hệ vợ chồng,

tranh chấp về nuôi con.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Cẩm Xuyên.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Nguyễn Thị Ngọc Hà;
  2. Ông Huỳnh Văn Tý.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Huỳnh Hoa Lý – Thư ký Toà án nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang: Không tham gia phiên tòa.

Trong ngày 19 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 85/2025/TLST-HNGĐ ngày 05/3/2025 về việc: “Xin ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 40/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 07/3/2025 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Anh Trần Văn T, sinh năm 1989 (vắng mặt – có đơn xin vắng mặt)
  2. Địa chỉ: Ấp M, xã M, huyện C, tỉnh An Giang. Số điện thoại: 0931.320.xxx

  3. Bị đơn: Chị Nguyễn Ngọc B, sinh năm 1987 (có mặt)
  4. Địa chỉ: Ấp V, xã V, huyện T, tỉnh An Giang. Số điện thoại: 0392.781.xxx

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án

nguyên đơn anh Trần Văn T trình bày: Tôi với chị B do mai mối nên đã tiến tới tổ chức lễ cưới và chung sống như vợ chồng từ năm 2008 nhưng không đăng ký kết hôn do không am hiểu pháp luật. Thời gian đầu, vợ chồng chung sống hạnh phúc và có 01 con chung tên Trần Thị Như Ý, sinh ngày 09/3/2009. Đến năm 2012, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân tính tình không hợp, vợ chồng thường hay cự cãi. Vợ chồng ly thân từ đó cho đến nay, trong thời gian ly thân vợ chồng không còn quan tâm nhau nữa. Nhận thấy, cuộc sống hôn nhân không thể hàn gắn và kéo dài nên tôi yêu cầu Tòa án giải quyết cho tôi được ly hôn với chị B. Về quan hệ con chung: Có 01 con chung tên Trần Thị Như Ý, sinh ngày 09/3/2009, hiện đang sống với mẹ, tôi đồng ý giao cháu Ý cho chị B được tiếp tục nuôi dưỡng, tôi sẽ không cấp dưỡng nuôi con. Về quan hệ tài sản: Về tài sản chung: Không có; Về nợ chung: Không có.

Théo ý kiến tại tờ tự khai và lời khai trong suốt quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa bị đơn chị Nguyễn Ngọc B trình bày: Tôi với anh T do mai mối nên đã tiến tới tổ chức lễ cưới và chung sống như vợ chồng từ năm 2008 nhưng không đăng ký kết hôn do không am hiểu pháp luật. Thời gian đầu, vợ chồng chung sống hạnh phúc và có 01 con chung tên Trần Thị Như Ý, sinh ngày 09/3/2009. Đến năm 2012, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân tính tình không hợp, vợ chồng thường hay cự cãi. Vợ chồng ly thân từ đó cho đến nay, trong thời gian ly thân vợ chồng không còn quan tâm nhau nữa. Nhận thấy, cuộc sống hôn nhân không thể hàn gắn và kéo dài nên tôi đồng ý ly hôn với anh T. Về quan hệ con chung: Có 01 con chung tên Trần Thị Như Ý, sinh ngày 09/3/2009 hiện đang sống với mẹ, tôi yêu cầu được tiếp tục cháu Ý không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con. Về quan hệ tài sản: Về tài sản chung: Không có; Về nợ chung: Không có.

Nguyện vọng của con chung: Tại tờ tự khai ngày 05/3/2025 cháu Trần Thị Như Ý, sinh ngày 09/3/2009 có nguyện vọng được tiếp tục sống với mẹ.

Tại phiên tòa: Nguyên đơn anh Trần Văn T vắng mặt – có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn chị Nguyễn Ngọc B có mặt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Anh Trần Văn T khởi kiện ly hôn đối với chị Nguyễn Ngọc B, tuy nhiên anh T trình bày vợ chồng chung sống không có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật nên đây là tranh chấp Hôn nhân và gia đình về việc không công nhận quan hệ vợ chồng theo quy định tại khoản 7 Điều 28 của Bộ Luật tố tụng dân sự. Bị đơn chị Nguyễn Ngọc B có đăng ký hộ khẩu thường trú tại huyện T, tỉnh An Giang. Theo quy định tại Điều 28, Điều 35, khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn. Tại phiên tòa nguyên đơn anh T vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt. Do vậy, HĐXX căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt nguyên đơn.

[2] Về nội dung:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Qua các tài liệu, chứng cứ nguyên đơn cung cấp cũng như lời trình bày của bị đơn có căn cứ xác định anh T và chị B chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 2008 có tổ chức lễ cưới nhưng không đăng ký kết hôn. Quá trình chung sống như vợ chồng, anh chị thường xuyên cự cãi nguyên nhân do tính tình không hợp, vợ chồng đã cho nhau nhiều cơ hội sửa đổi nhưng không được, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc thể hiện bằng việc anh chị đã sống ly thân từ năm 2012 cho đến nay. Xét thấy, anh T và chị B là những người có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của pháp luật đã chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn, nên không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng, quan hệ của anh T và chị B không được pháp luật công nhận là vợ chồng. Căn cứ theo quy định tại Điều 9, khoản 1 Điều 14, khoản 2 Điều 53 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu ly hôn của anh T mà giải quyết không công nhận anh T và chị B là vợ chồng.

[2.2] Về con chung: Qua chứng cứ anh T cung cấp cũng như lời khai của bị đơn thì anh T, chị B có 01 con chung tên Trần Thị Như Ý, sinh ngày 09/3/2009, hiện con chung đang sống cùng với mẹ và cũng có nguyện vọng được tiếp tục sống với mẹ là chị Nguyễn Ngọc B. Nhận thấy, bị đơn chị Nguyễn Ngọc B có đủ điều kiện kinh tế và cũng có nguyện vọng được tiếp tục nuôi con chung. Bên cạnh đó, trong quá trình giải quyết vụ án anh T cũng cho rằng chị B đang chăm sóc con rất tốt nên anh có nguyện vọng giao con chung cho chị B tiếp tục nuôi dưỡng. Do vậy, HĐXX áp dụng các Điều 15, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật hôn nhân gia đình giao con chung tên Trần Thị Như Ý, sinh ngày 09/3/2009 cho chị Nguyễn Ngọc B được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi cháu Như Ý thành niên (đủ 18 tuổi), tự lao động được là phù hợp và đảm bảo được các điều kiện tốt nhất cho sự phát triển về thể chất, tinh thần, việc học tập, môi trường sống của cháu; Chị B phải tạo điều kiện cho anh T được quyền đến thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được cản trở; Khi cần thiết anh T có quyền yêu cầu thay đổi người nuôi con theo quy định pháp luật.

[2.3] Về cấp dưỡng nuôi con: Anh T, chị B không yêu cầu nên HĐXX không xem xét.

[2.4] Về tài sản chung và nợ chung: Anh T, chị B trình bày không có, không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[3] Về án phí dân sự sơ thẩm: Anh T là nguyên đơn nên phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định.

[4] Các đương sự được kháng cáo bản án theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 7 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 228, Điều 266, Điều 271, khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 9, khoản 1 Điều 14, Điều 15, khoản 2 Điều 53, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 1 và khoản 2 Điều 24, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Tuyên bố không công nhận anh Trần Văn T và chị Nguyễn Ngọc B là vợ chồng.
  2. Về quan hệ con chung: Chị Nguyễn Ngọc B được tiếp tục nuôi con chung tên Trần Thị Như Ý, sinh ngày 09/3/2009. Sau khi ly hôn người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được quyền ngăn cản. Người không trực tiếp nuôi con chung nếu lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng con chung thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Vì lợi ích của con, khi cần thiết các đương sự có thể yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con chung.
  3. Về cấp dưỡng nuôi con: Anh Trần Văn T không phải cấp dưỡng nuôi con chung do chị Nguyễn Ngọc B không yêu cầu. Vì lợi ích của con, khi cần thiết các đương sự có thể yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung hoặc thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con chung.
  4. Về tài sản chung và nợ chung: Anh Trần Văn T và chị Nguyễn Ngọc B trình bày không có, không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
  5. Về án phí sơ thẩm: Anh Trần Văn T phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng đã nộp theo biên lai thu số 0021734 ngày 05/3/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang. Như vậy, anh T đã thực hiện xong nghĩa vụ chịu án phí sơ thẩm. Chị Nguyễn Ngọc B không phải chịu án phí.

Bị đơn được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, nguyên đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án theo quy định của pháp luật để yêu cầu xét xử phúc thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7,7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh An Giang;
  • - VKSND huyện Thoại Sơn;
  • - Chi cục THADS huyện Thoại Sơn;
  • - UBND xã Vĩnh Khánh, h.Thoại Sơn;
  • - UBND xã Mỹ Phú, h.Châu Phú, tỉnh An Giang;
  • - Các đương sự (để thi hành);
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thị Cẩm Xuyên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 47/2025/HNGĐ-ST ngày 19/03/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN, TỈNH AN GIANG về không công nhận quan hệ vợ chồng, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 47/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: không công nhận quan hệ vợ chồng, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: không công nhận quan hệ vc
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger