Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN THAN UYÊN

TỈNH LAI CHÂU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 47/2025/HS-ST

Ngày 19-3-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THAN UYÊN, TỈNH LAI CHÂU

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Quàng Thị Phương

Các Hội thẩm nhân dân: Bà La Thị Thành

Ông Nguyễn Trung Kiên

Thư ký phiên toà: Ông Lò Văn Sơm - Thư ký Toà án nhân dân huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu tham gia phiên toà: Ông Trương Văn Thuỷ - Kiểm sát viên.

Trong ngày 19 tháng 3 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 45/2025/TLST- HS ngày 27 tháng 02 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 47/2025/QĐXXST- HS ngày 15 tháng 3 năm 2025 đối với bị cáo:

Họ và tên: Tráng Thị D; Sinh ngày 01/01/1991 tại huyện T, tỉnh Lai Châu.

Nơi cư trú: Bản T, xã H, huyện T, tỉnh Lai Châu; Nghề nghiệp: Nông dân; Trình độ học vấn: Không biết chữ; Dân tộc: Mông; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Tráng A S (không xác định được năm sinh (đã chết) và bà Lù Thị M, sinh năm 1950; Bị cáo có chồng là Thào A P, sinh năm 1991 và có 02 con; tiền sự: Không.

Tiền án: Bị cáo có 01 tiền án: Ngày 07/4/2022, Tráng Thị D bị Tòa án nhân dân huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Tráng Thị D đã chấp hành xong hình phạt tù ngày 06/02/2024, tính đến thời điểm phạm tội bị cáo chưa được xóa án tích.

Nhân thân: Ngày 19/10/2021, Tráng Thị D bị Công an huyện T, tỉnh Lai Châu xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền với số tiền 1.500.000 đồng về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tráng Thị D đã chấp hành xong quyết định và được xoá tiền sự.

Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 15/12/2024, tạm giam từ ngày 24/12/2024, hiện đang bị tạm giam tại Phân trại Tạm giam khu vực T, tỉnh Lai Châu. (Có mặt).

Người bào chữa cho bị cáo Tráng Thị D: Bà Nguyễn Thị N - Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh L. (Có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 07 giờ 30 phút, ngày 15/12/2024, Tráng Thị D đi bộ từ nhà tại bản T, xã H, huyện T, tỉnh Lai Châu xuống bản Noong Thăng, xã P, huyện T, tỉnh Lai Châu mục đích tìm mua Heroine để sử dụng. Tại bản Noong Thăng, xã P, Tráng Thị D vào nhà Vừ A S1 gặp S1 hỏi mua Heroine với số tiền 200.000 đồng. Vừ A S1 đồng ý rồi bảo Tráng Thị D đi ra đợi ở kênh thủy lợi sau nhà Vừ A S1. Tráng Thị D đi đến chỗ hẹn ngồi đợi được khoảng 02 phút sau thì Vừ A S1 đi xe mô tô tới, đưa cho Tráng Thị D một gói Heroine (được gói bằng mảnh nilon màu xanh). Nhận Heroine từ Vừ A S1, Tráng Thị D đưa cho Vừ A S1 số tiền 200.000 đồng. Mua được H, Tráng Thị D đi vào bụi cây gần đó, cấu lấy một ít sử dụng bằng hình thức hít. Số Heroine còn lại, Tráng Thị D cầm trong lòng bàn tay trái đi bộ Q về nhà. Đến hồi 10 giờ 30 phút cùng ngày, tại bản Noong Thăng, xã P, huyện T, Tráng Thị D gặp tổ công tác Công an xã P, huyện T đang làm nhiệm vụ. Do sợ hành vi phạm tội của mình bị phát hiện, Tráng Thị D đã cho gói Heroine vào miệng nhai nhằm tiêu hủy chứng cứ thì bị lực lượng Công an khống chế và yêu cầu Tráng Thị D nhả gói Heroine trong miệng ra. Tổ công tác Công an xã P đã mời người chứng kiến và lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Tráng Thị D, vật chứng thu giữ là 01 gói Heroine được gói bằng mảnh nilon màu xanh.

Tại bản Kết luận giám định số 85 ngày 15/12/2024 của người giám định tư pháp theo vụ việc và bản Kết luận giám định số 06 ngày 19/12/2024 của phòng K Công an tỉnh L kết luận: số chất bột màu trắng thu giữ của Tráng Thị D có tổng khối lượng là 0,30 gam; là ma túy, loại: Heroine (Heroin) có tên khoa học là D1, được quy định tại Bộ luật Hình sự 2017 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định 57/2022/NDD-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất.

Vật chứng của vụ án gồm: 0,30 gam Heroine, Cơ quan điều tra đã gửi giám định hết (không hoàn lại mẫu vật). Vật chứng còn lại là 02 mảnh nilon màu xanh, 01 vỏ bì niêm phong ban đầu hiện đang được lưu giữ tại Kho vật chứng Chi cục Thi hành án dân sự huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu.

Bản cáo trạng số 14/CT-VKSTU ngày 26/02/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Than Uyên tỉnh Lai Châu truy tố bị cáo Tráng Thị D về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo về tội danh và điều khoản áp dụng, đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Tráng Thị D từ 01 năm 09 tháng đến 02 năm 03 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý".

Không áp dụng các hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật hình sự và miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự. Đề nghị tịch thu tiêu hủy 02 mảnh nilon màu xanh, 01 vỏ bì niêm phong ban đầu.

Người bào chữa cho bị cáo nhất trí với luận tội của Viện kiểm sát về tội danh, điều khoản áp dụng, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, hình phạt chính, hình phạt bổ sung và đề nghị miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo. Bị cáo Tráng Thị D đã thành khẩn khai báo, ăn năn, hối cải về hành vi phạm tội của mình và là người dân tộc thiểu số sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, nguyên nhân, điều kiện phạm tội xuất phát từ hiểu biết pháp luật còn hạn chế. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất mức đề nghị của Viện kiểm sát.

Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo Tráng Thị D đã khai nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng mà Viện kiểm sát truy tố. Bị cáo nhất trí và không tranh luận với luận tội của Viện kiểm sát và nhất trí với luận cứ bào chữa, không bổ sung lời bào chữa.

Lời nói sau cùng của bị cáo trước khi Hội đồng xét xử nghị án: Bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Than Uyên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tranh tụng tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp. Người bào chữa cho bị cáo đã thực hiện đúng, đầy đủ các quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo:

Tại phiên tòa, bị cáo Tráng Thị D đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình phù hợp với bản Kết luận điều tra, bản Cáo trạng đã truy tố và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, như vậy có đủ cơ sở khẳng định: Khoảng 07 giờ 30 phút sáng ngày 15/12/2024, tại bản Noong Thăng, xã P, Huyện T, tỉnh Lai Châu, Tráng Thị D đã mua trái phép 01 gói Heroine với số tiền 200.000 đồng, mục đích để sử dụng. Đến hồi 10 giờ 30 phút cùng ngày, tại bản Noong Thăng, xã P, Huyện T, Tráng Thị D bị tổ công tác Công an xã P, huyện T phát hiện, bắt quả tang về hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý, vật chứng thu giữ của Tráng Thị D là 01 gói Heroine có khối lượng 0,30 gam.

Bị cáo Tráng Thị D là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Hành vi cố ý tàng trữ trái phép 0,30 gam Heroine mục đích để sử dụng của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

Như vậy, nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Than Uyên truy tố bị cáo về tội danh, điều khoản áp dụng là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

[3] Về tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội:

Vụ án có tính chất nghiêm trọng. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý Nhà nước ta đối với các chất ma túy và làm ảnh hưởng tới trật tự, trị an, an toàn xã hội tại địa phương do vậy cần phải được xử lý nghiêm minh trước pháp luật.

[4] Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:

Về nhân thân: Bị cáo Tráng Thị D sinh ra tại huyện T, tỉnh Lai Châu bị cáo không được đi học, không biết chữ, là người nghiện chất ma tuý, bị cáo có nhân thân xấu, có 01 tiền án về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, từng bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai nhận về hành vi phạm tội của mình và là người dân tộc thiểu số, sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn theo Quyết định số 612/QĐ-UBDT ngày 16/9/2021 của Bộ trưởng, chủ nhiệm Ủy ban dân tộc nên bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội trong thời gian chưa được xoá án tích nên bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “Tái phạm” theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự.

[5] Về hình phạt bổ sung: Xét điều kiện, hoàn cảnh kinh tế của bị cáo khó khăn, bản thân bị cáo nghề nghiệp nông dân, thu nhập không ổn định, gia đình thuộc diện hộ nghèo, bị cáo không đảm nhiệm chức vụ và không có tài sản gì đáng kể do đó Hội đồng xét xử không áp dụng các hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo.

[6] Về xử lý vật chứng: Đối với 0,30 gam Heroine, Cơ quan điều tra đã gửi giám định toàn bộ không hoàn lại mẫu vật nên không phải giải quyết; đối với 02 mảnh nilon màu xanh; 01 vỏ bì niêm phong ban đầu là những vật chứng không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu để tiêu hủy theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự, điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

[7] Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Tráng Thị D là người dân tộc thiểu số, sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, tại phiên tòa bị cáo xin miễn án phí. Do đó, Hội đồng xét xử miễn cho bị cáo 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 15 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

[8] Như vậy, căn cứ vào tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, cần thiết phải có mức án tương xứng, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục cho bị cáo trở thành công dân tốt và phòng ngừa chung cho toàn xã hội. Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Than Uyên về mức hình phạt chính, hình phạt bổ sung, xử lý vật chứng, án phí hình sự sơ thẩm đối với bị cáo là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ.

Chấp nhận ý kiến của người bào chữa về tội danh, điều khoản áp dụng, việc áp dụng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và án phí hình sự sơ thẩm đối với các bị cáo.

Không chấp nhận đề nghị của người bào chữa đề nghị mức án thấp nhất khung đề nghị của Viện kiểm sát đối với bị cáo. Bị cáo Tránh Thị D2 có nhân thân xấu, là người nghiện ma tuý lâu năm, có 01 tiền án chưa được xoá án tích. Bằng bản án trước đó, bị cáo có nhận thức rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật và vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội cho thấy bị cáo không chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật, không có ý thức tự cải tạo mình. Hành vi của bị cáo còn gây ảnh hưởng tới trật tự, trị an, an toàn xã hội tại địa phương do đó cần có mức án tương xứng cao hơn mức thấp nhất khung đề nghị của Viện kiểm sát mới đủ để răn đe, giáo dục các bị cáo trở thành công dân tốt và phòng ngừa chung cho toàn xã hội.

[9] Về biện pháp ngăn chặn: Căn cứ Điều 329 của Bộ luật tố tụng hình sự tiếp tục áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam đối với bị cáo để đảm bảo thi hành án.

[10] Các vấn liên quan đến vụ án:

Về nguồn gốc Heroine thu giữ, bị cáo Tráng Thị D khai mua của Vừ A S1 (sinh ngày 01/01/1981, trú tại bản Noong Thăng, xã P, huyện T). Cơ quan điều tra đã tiến hành khám xét chỗ ở đối với Vừ A S1 nhưng không thu giữ được gì. Tại Cơ quan điều tra, Vừ A S1 không thừa nhận được bán Heroine cho Tráng Thị D. Ngoài lời khai của Tráng Thị D không còn tài liệu chứng cứ nào khác chứng minh Vừ A S1 bán Heroine cho Tráng Thị D nên chưa đủ chứng cứ để kết luận và xử lý đối với Vừ A S1.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38; điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự;

- Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 106; Điều 135; khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

- Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 15 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Tráng Thị D phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Tráng Thị D 02 (Hai) năm tù. Thời hạn thi hành hình phạt tù tính từ ngày 15/12/2024.

3. Về xử lý vật chứng: tịch thu tiêu hủy 01 phong bì bên trong đựng 02 mảnh nilon màu xanh; 01 vỏ bì niêm phong ban đầu.

(Tình trạng, đặc điểm vật chứng theo như biên bản giao nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 04 tháng 3 năm 2025 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu).

4. Về án phí hình sự sơ thẩm: Miễn cho bị cáo Tráng Thị D 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - Toà án nhân dân tỉnh Lai Châu;
  • - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lai Châu;
  • - Phòng Hồ sơ nghiệp vụ Công an tỉnh Lai Châu (PV06);
  • - CQĐT, CQTHAHS Công an tỉnh Lai Châu;
  • - Viện kiểm sát nhân dân huyện Than Uyên;
  • - Chi cục THADS Than Uyên;
  • - Phân trại Tạm giam khu vực Than Uyên;
  • - Bị cáo;
  • - Người bào chữa;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA

ĐÃ KÝ

Quàng Thị Phương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 47/2025/HS-ST ngày 19/03/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THAN UYÊN, TỈNH LAI CHÂU về tàng trữ trái phép chất ma tuý (vụ án hình sự)

  • Số bản án: 47/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma tuý (Vụ án hình sự)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THAN UYÊN, TỈNH LAI CHÂU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Xử phạt bị cáo Tráng Thị D 02 (Hai) năm tù. Thời hạn thi hành hình phạt tù tính từ ngày 15/12/2024.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger