|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VINH TỈNH NGHỆ AN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 47/2025/HS-ST Ngày: 28/02/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VINH – TỈNH NGHỆ AN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - chủ toạ phiên toà: bà Nguyễn Thị Trà Giang.
Các Hội thẩm nhân dân: ông Nguyễn Hồng Sơn và ông Nguyễn Đình Cát
Thư ký phiên toà: bà Đinh Thị Thu Hiền – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vinh tham gia phiên tòa: ông Lê Viết Báu - kiểm sát viên.
Ngày 28/02/2025, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 09/2025/TLST - HS ngày 14 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 33/2025/QĐXXST - HS ngày 05 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Văn L; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam. Sinh ngày 25 tháng 02 năm 2003; nơi sinh: huyện H, tỉnh Hà Tĩnh. Nơi cư trú: thôn A, xã S, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Trình độ học vấn: 12/12. Họ tên cha: Nguyễn Văn S, sinh năm 1962. Họ tên mẹ: Nguyễn Thị H, sinh năm 1964 (đã chết). Anh chị em ruột có ba người, Nguyễn Văn L là con thứ ba. Vợ, con: chưa có. Tiền án; Tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 15/11/2024 đến ngày 24/11/2024. Áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” và “Tạm hoãn xuất cảnh” từ ngày 24/11/2024 đến nay. Có mặt.
- Bị hại: anh Nguyễn Thành T, sinh năm 1994
Nơi thường trú: thôn A, xã S, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh
Nơi ở hiện nay: nhà B, ngõ C, đường N, phường L, thành phố V, tỉnh Nghệ An
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Dương Xuân T1, sinh năm 1997.
Địa chỉ: xóm P, xã H, thành phố V, tỉnh Nghệ An
- Người làm chứng:
+ Anh Nguyễn Gia K, sinh 2001
Nơi thường trú: thôn A, xã S, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh
Nơi ở hiện nay: nhà số I, ngõ C, đường K, phường H, thành phố V, tỉnh Nghệ An.
+ Anh Hoàng Việt C, sinh năm 2006
Nơi thường trú: xóm B, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An
Nơi ở hiện nay: số nhà B, T, phường N, thành phố V, tỉnh Nghệ An.
(Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người làm chứng vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Từ khoảng tháng 08/2023, Nguyễn Văn L làm nghề giao hàng tại cơ sở giao hàng “Ship Thành T2”, địa chỉ: Số B, đường P, TP., Nghệ An do anh Dương Xuân T1, sinh năm 1997, trú tại xóm P, xã H, TP V (Là chủ cơ sở) và được anh T1 giao sử dụng 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11, màu đen, số IMEI 1: 35290113241247, IMEI 2: 35290111324124 , có số thuê bao “0888433737”, đã qua sử dụng để lên đơn và phân phối đơn hàng. Trong thời gian này, Luật nhiều lần vay tiền của anh Nguyễn Sỹ H1, sinh năm 2003, trú tại xóm F, xã T, huyện T, Nghệ An để chi tiêu cá nhân.
Đến khoảng 11 giờ 30 phút ngày 14/11/2024, do không có khả năng trả nợ và liên tục bị anh H1 hối thúc yêu cầu trả lại tiền nên Luật nảy sinh ý định lừa anh Nguyễn Thành T, sinh năm 1994, trú tại thôn A, xã S, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh (Là chủ cơ sở giao hàng “Thành Trung”) để chiếm đoạt tiền của anh T nhằm mục đích trả nợ cho anh H1. Tại thời điểm này, thực tế không có khách hàng nào cần chuyển khoản tiền nhưng do thiếu tiền, L đã sử dụng chiếc điện thoại di động đã được giao rồi vào ứng dụng M đã được đăng nhập tài khoản Facebook có tên hiển thị “Ship Thành T2” (Tài khoản Facebook của cơ sở giao hàng) nhắn tin đến tài khoản Facebook có tên hiển thị “T3 Trung'g” (do anh T sử dụng) nói rằng có khách hàng đang cần nhận tiền chuyển khoản với số tiền 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng) và gặp khách hàng nhận lại tiền mặt tại khu vực gần thị trấn Q, huyện N, Nghệ An thì anh T đồng ý và thống nhất chi phí nhận, chuyển tiền là 350.000 đồng (Ba trăm năm mươi nghìn đồng). Do Luật thường sử dụng tài khoản Facebook “Ship Thành T2” để nhắn tin với anh T nên anh T biết người nhắn tin là Luật. Ngay sau đó, Luật tự tạo mới 01 (Một) tài khoản Facebook có tên hiển thị “Nguyễn Tuấn G” rồi tự nhắn tin vào tài khoản Facebook của Luật có tên hiển thị “LUẬT BÉ”, gửi định vị Trung tâm hội nghị sự kiện Trường L1 tại xã N, N, Nghệ An. Sau đó, Luật chụp lại màn hình điện thoại gửi cho anh T để tạo lòng tin. Sau khi nhận được tin nhắn, anh T đồng ý và nói anh Nguyễn Gia K, sinh năm 2001, trú tại thôn A, xã S, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh đi gặp khách hàng lấy tiền mặt. Khi biết được người đi lấy tiền là anh K, L sử dụng tài khoản Facebook “Ship Thành T2” nhắn tin đến tài khoản Facebook có tên hiển thị “Hoàng C” của anh Hoàng Việt C, sinh năm 2006, trú tại xóm B, xã Q, huyện Q, Nghệ An (là nhân viên giao hàng cùng với Luật) nói anh C cung cấp số tài khoản ngân hàng để một người bạn chuyển tiền đến và thoả thuận sẽ trả phí cho anh C. Sau khi anh C cung cấp số tài khoản ngân hàng cho Luật, L đã gửi số tài khoản ngân hàng của C (tài khoản ngân hàng số “0964787769”, mở tại ngân hàng V, mang tên “HOANG VIET CUONG”) cho anh T. Tiếp đó, Luật sử dụng tài khoản Facebook “Ship Thành T2” gọi điện cho tài khoản Facebook của anh K có tên hiển thị “Nguyễn Gia K” để lừa anh K là đã cầm tiền mặt từ khách hàng, nói anh K trao đổi với anh Trung chuyển K1 tiền 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng) cho khách và đến gặp Luật để lấy tiền mặt. Vì bản thân Luật, anh T, anh K quen biết nhau từ lâu nên anh K tin tưởng và liên lạc cho anh T thông báo đã nhận đủ tiền từ khách hàng. Lúc này, anh T sử dụng số tài khoản “9976833968”, ngân hàng V1, mang tên NGUYEN THANH TRUNG chuyển số tiền 29.650.000 đồng (Hai mươi chín triệu sáu trăm năm mươi nghìn đồng) đến tài khoản số “0964787769”, ngân hàng V, mang tên HOANG VIET CUONG (Đã trừ số tiền 350.000 đồng tiền phí chuyển tiền như đã thoả thuận).
Sau khi Hoàng Việt C đã nhận được tiền, Luật nhắn tin cho C nhờ C chuyển khoản toàn bộ số tiền vừa nhận được đến tài khoản ngân hàng của anh H1 có số tài khoản “102878190930”, ngân hàng V2, mang tên NGUYEN SY HUNG để trả nợ. Sau khi gặp Luật, anh K liên tục yêu cầu Luật đưa tiền mặt trả cho anh T nhưng L đưa ra nhiều lý do để trì hoãn. Đến khoảng 14 giờ cùng ngày, do chưa thấy anh K đưa tiền về nên anh T đã liên lạc với K mới biết được là anh K bị Luật lừa, hiện chưa nhận được tiền. Sau đó, anh T đến gặp Luật ở khu vực đường P, phường H, TP .. Tại đây, Nguyễn Văn L thừa nhận với anh T và anh K về việc đã đưa ra thông tin gian dối để lừa anh T nhằm chiếm đoạt số tiền trên. Nguyễn Văn L đã sử dụng toàn bộ số tiền chiếm đoạt được để trả nợ cho anh Nguyễn Sỹ H1.
Ngày 15/11/2024, anh Nguyễn Thành T đến trụ sở Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an T4 trình báo về nội dung sự việc nêu trên.
Cùng ngày 15/11/2024, biết được cơ quan Công an đang điều tra và nhận thức hành vi của mình là vi phạm pháp luật nên Nguyễn Văn L đã đến trụ sở Cơ quan Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an T4 đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên.
Việc thu giữ, tạm giữ đồ vật, tài liệu và xử lí vật chứng:
- Thu giữ của anh Dương Xuân T1 01 (một) chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone 11, màu đen, 64GB, đã qua sử dụng, số IMEI 1: 35290113241247, IMEI 2: 35290111324124, có số thuê bao “0888433737”. Đây là chiếc điện thoại được Nguyễn Văn L sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội. Quá trình điều tra xác định anh Dương Xuân T1 không biết Luật sử dụng chiếc điện thoại trên để thực hiện hành vi phạm tội. Do đó, Cơ quan điều tra đã ra Quyết định xử lý vật chứng đối với chiếc điện thoại trên bằng hình thức trả lại cho anh Dương Xuân T1. Anh T1 đã nhận được tài sản và không yêu cầu đền bù dân sự gì.
Về phần đền bù dân sự:
Gia đình của Nguyễn Văn L đã đền bù cho anh Nguyễn Thành T số tiền 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng). Anh T đã nhận lại tiền và không yêu cầu đền bù gì thêm về mặt dân sự.
Tại bản cáo trạng số 40/CT-VKS- TPV ngày 13/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vinh đã truy tố Nguyễn Văn L về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự năm 2015.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vinh giữ nguyên quan điểm như Cáo trạng truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm khoản 1 Điều 174; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, xử phạt Nguyễn Văn L từ 06 đến 09 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo để thi hành án. Về hình phạt bổ sung: miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: bị hại đã nhận lại tài sản, không yêu cầu gì thêm nên không xem xét. Về án phí, vật chứng: đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, bị cáo không tranh luận gì mà chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét về hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra công an thành phố T4, điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vinh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên toà, bị cáo, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, các quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều được thực hiện hợp pháp.
[2]. Về việc vắng mặt của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người làm chứng: bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người làm chứng đã được tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử, giấy triệu tập phiên tòa. Quá trình điều tra đã có đầy đủ lời khai của họ, người bị hại đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu gì; do đó Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 292, 293 Bộ luật tố tụng hình sự xét xử vắng mặt bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người làm chứng.
[3]. Về hành vi phạm tội, tội danh và điều luật áp dụng đối với bị cáo Nguyễn Văn L: Trong giai đoạn điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng đã truy tố. Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố; phù hợp với các tài liệu, chứng cứ được thu thập tại hồ sơ vụ án đã được thẩm tra; phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người làm chứng về thời gian, số tiền bị cáo đã chiếm đoạt của bị hại; có đủ căn cứ kết luận: Vào khoảng 11 giờ 30 phút ngày 14/11/2024, tại Số B, đường P, thành phố V, tỉnh Nghệ An. Nguyễn Văn L đã có hành vi gian dối dùng điện thoại tạo nội dung không có thật qua ứng dụng Messenger có nhận chuyển khoản tiền cho khách hàng lấy phí để chiếm đoạt 29.650.000 đồng (Hai mươi chín triệu sáu trăm năm mươi nghìn đồng) của anh Nguyễn Thành T.
Hành vi trên của bị cáo Nguyễn Văn L đã đủ yếu tố cấu thành tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản" được quy định tại khoản 1 Điều 174 của Bộ luật Hình sự. Cáo trạng truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
[4]. Về tính chất vụ án, tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:
Vụ án thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự an ninh, an toàn cho xã hội. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức hành vi của mình là vi phạm pháp luật, không tu chí làm ăn nhưng lại muốn có tiền tiêu xài, trả nợ, đã chiếm đoạt tài sản của bị hại với giá trị khá lớn. Do đó, cần xét xử nghiêm minh, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội để giáo dục, cải tạo và phòng ngừa chung cho xã hội.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng
Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn L thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; sau khi phạm tội bị cáo cùng gia đình đã tự nguyện bồi thường thiệt hại cho bị hại, bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; sau khi phạm tội đã ra đầu thú. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự cần xem xét để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.
[5]. Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp ổn định không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
[6]. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại trong vụ án đã nhận lại tài sản, đến nay không yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[8]. Trong vụ án này, anh Nguyễn Sỹ H1 là người nhận số tiền bị cáo chiếm đoạt của anh Nguyễn Thành T nhằm mục đích trả nợ. Quá trình điều tra xác định anh H1 không biết rõ số tiền là do phạm tội mà có.
Đối với anh Hoàng Việt C là chủ tài khoản ngân hàng đã nhận tiền mà bị cáo chiếm đoạt của anh Nguyễn Thành T và chuyển tiền đến tài khoản ngân hàng của anh Nguyễn Sỹ H1. Quá trình điều tra xác định anh Hoàng Việt C không biết số tiền nhận được là do bị cáo phạm tội mà có, anh C cũng không nhận được lợi ích gì từ việc giúp bị cáo Luật.
Đối với anh Dương Xuân T1 là chủ sở hữu của chiếc điện thoại mà bị cáo sử dụng để nhắn tin lừa anh Nguyễn Thành T. Quá trình điều tra xác định anh Dương Xuân T1 không biết bị cáo sử dụng điện thoại để thực hiện hành vi phạm tội.
Vì vậy, các hành vi của anh Dương Xuân T1, Nguyễn Sỹ H1, Hoàng Việt C, không phải chịu trách nhiệm hình sự.
[9]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ:
- - Khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Bộ luật Hình sự;
- - Khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
- - Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
- Về tội danh và hình phạt:
- Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Văn L phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo Nguyễn Văn L có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn L 06 (sáu) tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo để thi hành án, nhưng được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 15/11/2024 đến ngày 24/11/2024.
Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Trà Giang |
7
Bản án số 47/2025/HS-ST ngày 28/02/2025 của Tòa án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An về hình sự sơ thẩm về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 47/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn L Lừa đảo
