TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG Bản án số: 47/2025/HNGĐ-ST Ngày 28-02-2025 V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Minh Thu
Các Hội thẩm nhân dân.
Ông Đỗ Xuân Quyết
Bà Vũ Thị Minh Nguyệt
- Thư ký phiên tòa:
Ông Lương Khánh Sơn - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng.
Ngày 28 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 353/2024/TLST-HNGĐ ngày 16 tháng 12 năm 2024, về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 37/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 11 tháng 02 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Đỗ Thùy L, sinh năm 1991; địa chỉ: Số C L, phường M, quận N, thành phố Hải Phòng; vắng mặt (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
- Bị đơn: Anh Nguyễn Phú Q, sinh năm 1990; nơi ĐKHKTT: Số D B, phường T, Hồ N, Hải Phòng; nơi cư trú: 1088 BUDAPEST, RÁKÓCZI ÚT 51, Hungari; vắng mặt (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện đề ngày 16/12/2024, bản tự khai và trong quá trình giải quyết tại Tòa án, nguyên đơn chị Đỗ Thùy L trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Phú Q chung sống như vợ chồng từ lâu, có tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán nhưng do thiếu hiểu biết pháp luật nên đến ngày 11/10/2022 mới làm thủ tục đăng ký kết hôn tại UBND phường T, quận H, thành phố Hải Phòng. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống bình thường và đã có hai con chung; đến đầu năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, tính cách không phù hợp. Do cuộc sống khó khăn nên năm 2023 anh Q sang Hungari để lao động, do xa cách địa lý vợ chồng thường xuyên không tin tưởng lẫn nhau, thường xuyên cãi vã dẫn đến bất đồng quan điểm sống, lối sống, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng. Hiện nay vợ chồng sống mỗi người một nơi, không ai còn quan tâm đến ai về tình cảm, độc lập về kinh tế. Từ khi anh Q đi nước ngoài cũng không về thăm gia đình, vợ con; tình cảm vợ chồng ngày càng lạnh nhạt. Vì vậy chị làm đơn này đề nghị Tòa án cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Phú Q để giải phóng cho cả hai người.
Về con chung: Vợ chồng anh chị có 02 con chung: Trước khi đăng ký kết hôn là cháu Nguyễn Khánh H, sinh ngày 05/02/2013 và cháu bé gái dự định đặt tên là Nguyễn Khánh A, sinh ngày 26/02/2023 (Theo giấy chứng sinh số 0280 quyển số 02 ngày 26/02/2023 của Bệnh viện P - Công ty Cổ phần B, thành phố Hải Phòng). Cháu Khánh A chưa làm giấy khai sinh nhưng đã được Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng xác nhận anh Nguyễn Phú Q là cha đẻ của cháu Nguyễn Khánh A tại Bản án số 311/2024/HNGĐ-ST ngày 08/11/2024 (bản án đã có hiệu lực pháp luật). Hiện nay 02 cháu đang ở với chị L. Vì vậy, khi ly hôn chị L đề nghị Toà án giao 02 con chung là cháu Nguyễn Khánh H, sinh ngày 05/02/2013 và cháu bé gái dự định đặt tên là Nguyễn Khánh A, sinh ngày 26/02/2023 cho chị nuôi dưỡng đến khi trưởng thành. Về cấp dưỡng nuôi con, chị và anh Q tự thoả thuận không yêu cầu Toà án giải quyết.
Về tài sản chung: Chị và anh Q không có, không yêu cầu Toà án giải quyết.
* Tại bản tự khai, đơn xét xử vắng mặt và uỷ quyền của anh Nguyễn Phú Q ngày 20/01/2025 (đã được hợp pháp hoá lãnh sự của Đ tại Hungary):
Anh Q thống nhất với chị Đỗ Thùy L về điều kiện và quá trình kết hôn, nguyên nhân vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Anh trình bày anh chị chung sống từ năm 2012 nhưng đến ngày 11/10/2022 mới làm thủ tục đăng ký kết hôn. Anh chị phát sinh mâu thuẫn và sống ly thân từ năm 2023 do anh Q sinh sống tại Hungary, vợ chồng bất đồng quan điểm sống, tính cách không phù hợp; không còn quan tâm đến nhau về tình cảm, độc lập về kinh tế. Vì vậy. Anh Q đồng ý ly hôn với chị Đỗ Thùy L.
Về con chung: Vợ chồng anh chị có 02 con chung như chị L trình bày. Cháu Khánh H sinh trước khi anh chị đăng ký kết hôn nhưng anh chị đã làm thủ tục khai sinh cho cháu theo quy định. Cháu Khánh A (dự định đặt tên; theo giấy chứng sinh số 0280 ngày 26/02/2023 tại Bệnh viện P). Anh chị chưa làm làm giấy khai sinh nhưng đã được Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng xác nhận anh Nguyễn Phú Q là cha đẻ của cháu Nguyễn Khánh A tại Bản án số 311/2024/HNGĐ-ST ngày 08/11/2024 (đã có hiệu lực pháp luật). Hiện nay hai con đang ở với chị L, sau khi ly hôn anh đề nghị Toà án giao 02 con chung cho chị L nuôi dưỡng đến khi trưởng thành. Về cấp dưỡng nuôi con, anh và chị L tự thoả thuận không yêu cầu Toà án giải quyết.
Về tài sản chung: Anh và chị L không có nên không yêu cầu Toà án giải quyết.
Tại phiên toà, chị Đỗ Thùy L và anh Nguyễn Phú Q vắng mặt nhưng đều có đơn đề nghị xét xử vắng mặt và giữ nguyên quan điểm như bản tự khai đã gửi Tòa án. Chủ tọa phiên tòa đã công bố lý do vắng mặt của các đương sự; công bố tóm tắt nội dung vụ án và tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thể hiện quan điểm giải quyết vụ án của các đương sự.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
- Về tố tụng:
[1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Đây là vụ án ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn. Nguyên đơn là chị Đỗ Thùy L cư trú trên địa bàn quận N, thành phố Hải Phòng và bị đơn anh Nguyễn Phú Q đăng ký hộ khẩu thường trú tại quận H, thành phố Hải Phòng; hiện cư trú ở H. Chị L và anh Q đều đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng giải quyết vụ án. Căn cứ vào khoản 3 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 37;; điểm d khoản 1 Điều 469 Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng.
[2] Về sự vắng mặt của đương sự: Tại phiên tòa, nguyên đơn chị Đỗ Thùy L và bị đơn anh Nguyễn Phú Q vắng mặt tại phiên tòa nhưng đều có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ vào khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt các đương sự.
- Về nội dung:
[3] Về quan hệ hôn nhân: Điều kiện và quá trình kết hôn như chị Đỗ Thùy L và bị đơn anh Nguyễn Phú Q trình bày, hôn nhân giữa chị L và anh Q là hợp pháp theo quy định tại các điều 8 và 9 của Luật Hôn nhân và Gia đình. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống bình thường ở Việt Nam và đã có hai con chung; đến năm 2023 anh Q sang H để sinh sống, lao động. Do xa cách địa lý vợ chồng thường xuyên không tin tưởng lẫn nhau dẫn đến bất đồng quan điểm sống, lối sống, tình cảm ngày càng lạnh nhạt; hiện nay vợ chồng sống mỗi người một nơi, không ai còn quan tâm đến ai về tình cảm, độc lập về kinh tế. Do đó khả năng đoàn tụ không có, chị L và anh Q đều xác định không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần áp dụng Điều 51, Điều 56 và Điều 127 Luật Hôn nhân và Gia đình, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Đỗ Thùy L được ly hôn với anh Nguyễn Phú Q.
[4] Về con chung: Chị L và anh Q có 02 con chung là cháu Nguyễn Khánh H, sinh ngày 05/02/2013 và cháu bé gái dự định đặt tên là Nguyễn Khánh A, sinh ngày 26/02/2023 (Theo giấy chứng sinh số 0280 quyển số 02 ngày 26/02/2023 của Bệnh viện P - Công ty Cổ phần B, thành phố Hải Phòng). Hiện nay 02 cháu đang ở với chị L, xét thấy chị L có nguyện vọng được nuôi hai con; anh Q đang ở nước ngoài và đồng ý giao hai con chung cho chị L nuôi. Do đó cần áp dụng Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình, giao 02 cháu Nguyễn Khánh H, sinh ngày 05/02/2013 và cháu bé gái dự định đặt tên Nguyễn Khánh A, sinh ngày 26/02/2023 cho chị Đỗ Thùy L nuôi dưỡng đến khi các cháu đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Chị L và anh Q tự thoả thuận, không yêu cầu Toà án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[5] Về tài sản chung: Chị L và anh Q trình bày không có, không yêu cầu Toà án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét .
[6] Về án phí: Nguyên đơn chị L phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[7] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 37; khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 207; khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 238; Điều 271; Điều 273; điểm d khoản 1 Điều 469; khoản 1, 2 Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56; các điều 58; 81; 82; 83; 127 của Luật Hôn nhân và Gia đình;
Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Đỗ Thùy L:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Đỗ Thùy L được ly hôn anh Nguyễn Phú Q.
- Về con chung: Giao 02 con chung là Nguyễn Khánh H, sinh ngày 05/02/2013 và cháu bé gái dự định đặt tên Nguyễn Khánh A, sinh ngày 26/02/2023 (Theo giấy chứng sinh số 0280 quyển số 02 ngày 26/02/2023 của Bệnh viện P - Công ty Cổ phần B, thành phố Hải Phòng) cho chị Đỗ Thùy L nuôi dưỡng đến khi mỗi con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con, chị L không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
- Về tài sản chung: Chị L và anh Q không yêu cầu Toà án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Nguyên đơn chị Đỗ Thùy L phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0000958 ngày 16/12/2024 của Cục Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng. Chị L đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo của các đương sự:
Chị Đỗ Thùy L được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Anh Nguyễn Phú Q được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
- Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án Dân sự thì người được thi hành, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Minh Thu |
Bản án số 47/2025/HNGĐ-ST ngày 28/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Số bản án: 47/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/02/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận YCKK
