|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐOAN HÙNG TỈNH PHÚ THỌ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 47/2024/HS-ST
Ngày: 28-11-2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐOAN HÙNG, TỈNH PHÚ THỌ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Vũ Thường
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Tuấn Chiến
- Ông Nguyễn Đình Đại
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trung Thành - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Phương Anh - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 11 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 45/2024/TLST-HS, ngày 23 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 49/2024/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:
Phạm Văn V, sinh năm 1990 tại huyện Đ, tỉnh Phú Thọ; Tên gọi khác: Không;
Nơi cư trú: Khu T, xã H, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ; Nghề nghiệp: Lao động tự do;
Trình độ văn hoá: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Đảng phái: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Phạm Văn B, sinh năm 1966 và bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1965; Có vợ là Nguyễn Thị M, sinh năm 1997 (đã ly hôn) và có 02 con, con lớn sinh năm 2015, con nhỏ sinh năm 2018.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 06/7/2024, đến ngày 13/7/2024 chuyển tạm giam. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam - Công an tỉnh P. Có mặt
- Bị hại: Chị Phạm Thị T1, sinh năm 1998
Địa chỉ: Khu T, xã H, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Phạm Văn B, sinh năm 1966, bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1965
Địa chỉ: Khu T, xã H, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ
Chị T1, ông B, bà T đều có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Phạm Văn V và chị Phạm Thị T1, sinh năm 1998 đều ở khu T, xã H, huyện Đ có quan hệ là anh chồng, em dâu. Trong cuộc sống hàng ngày, giữa V và chị T1 có phát sinh một số chuyện không vừa ý nhau, V cũng có hiểu lầm với vợ chồng chị T1 về chuyện đất đai nên giữa hai bên xảy ra mâu thuẫn âm ỉ, kéo dài.
Khoảng 20 giờ 10 phút ngày 05/7/2024, V đi bộ sang nhà bố mẹ đẻ là ông Phạm Văn B, sinh năm 1966 và bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1965 ở gần nhà để ăn cơm. Khi sang đến nơi, thấy chị T1 đang ngồi ở ghế đá ngoài sân còn bố mẹ đang làm ở sau bếp nên V đi vào ngồi ở hè bếp xem điện thoại. Ngồi được một lúc, V đi đến vị trí giá để dao ở trong bếp lấy 01 con dao dạng dao bầu, chuôi bằng gỗ, lưỡi dao bằng kim loại vát nhọn rồi cầm dọc dao theo cánh tay phải, mũi dao hướng lên trên, giấu sát vào thân người và đi ra cửa bếp. Cùng lúc này, chị T1 cũng đứng dậy đi vào bếp, sợ chị T1 phát hiện nên V liền quay lưng lại, cầm dao hướng về phía trước. Đợi chị T1 đi đến bậc cửa bếp, V cũng quay lại, cầm dao đi về phía chị T1, đâm 01 nhát từ sau về trước trúng vào vùng bụng của chị T1. Sau đó, do hoảng sợ nên V bỏ đi khỏi hiện trường còn chị T1 tự rút dao, hô hoán mọi người đưa đi cấp cứu. Tại Bệnh viện Đ, chị T1 được xác định bị 01 vết thương rách da vùng bụng khoảng 03cm, vết thương đâm thấu từ vùng da thượng vị xuyên rách cơ thẳng bụng, xuyên qua mạc nối lớn vào dạ dày gây thủng môn vị dạ dày mặt trước và mặt sau.
Sau khi sự việc xảy ra, Cơ quan điều tra đã tiến hành khám nghiệm hiện trường, thu giữ con dao bầu mà V đã dùng để đâm chị T1 đồng thời triệu tập V về trụ sở làm việc. Tại đây, V thừa nhận toàn bộ hành vi của mình. Cơ quan điều tra đã tiến hành bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp đối với V, tiến hành trưng cầu giám định đối với thương tích của chị T1 để làm căn cứ giải quyết.
Ngày 08/7/2024, Trung tâm pháp y tỉnh P kết luận về tổn thương cơ thể của chị Phạm Thị T1 như sau:
- “Vết thương số một vùng bụng: 01%.
- Vết thương số hai vùng bụng (vết mổ): 02%.
- Vết thương số ba vùng bụng (vết mổ dẫn lưu): 01%.
- Vết thương số bốn cùng bụng (vết mổ dẫn lưu): 01%.
- Thủng dạ dày 02 lỗ đã xử trí: 30%.
- Thủng mạc nối lớn đã khâu: 3%.
- Áp dụng phương pháp cộng tại thông tư: 35,43%.
- Làm tròn: 35%.
- Cơ chế hình thành thương tích:
- - Vết thương số một vùng bụng; Thủng dạ dày hai lỗ; Thủng mạc nối lớn: Do tác động của vật sắc nhọn gây nên.
- - Vết thương số hai, số ba, số bốn vùng bụng: Do bác sĩ làm phẫu thuật để điều trị”.
Tại bản cáo trạng số: 46/CT-VKSĐH ngày 21/10/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đoan Hùng đã truy tố bị cáo Phạm Văn V về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm c khoản 3 Điều 134 của Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Phạm Văn V phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
- Áp dụng điểm c khoản 3 Điều 134, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Phạm Văn V từ 06 (Sáu) năm 06 (Sáu) tháng tù đến 07 (Bảy) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ.
- Về trách nhiệm dân sự: Xác nhận bị cáo Phạm Văn V đã bồi thường cho chị Phạm Thị T1 số tiền là 39.829.397₫ (Ba mươi chín triệu tám trăm hai mươi chín nghìn ba trăm chín mươi bảy đồng). Chị T1 không đề nghị gì thêm nên không phải giải quyết.
- Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 (một) con dao, dạng bầu thu giữ của vợ chồng ông Phạm Văn B và 01 (một) áo phông màu đen, đã cũ thu giữ của chị Phạm Thị T1.
- Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo là hộ cận nghèo nên miễn toàn bộ án phí.
Bị cáo không tranh luận gì, thừa nhận và ăn năn hối hận với hành vi phạm tội của mình. Bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cũng không có ý kiến đề nghị gì.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về tố tụng hình sự: Các quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra, hành vi tố tụng của Điều tra viên trong quá trình điều tra vụ án, quyết định tố tụng của Viện kiểm sát và hành vi tố tụng của Kiểm sát viên trong giai đoạn truy tố là đúng các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.
[2]. Về căn cứ buộc tội: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, vật chứng thu giữ được và các tài liệu khác có trong hồ sơ, nên có đủ cơ sở để kết luận:
Khoảng 20 giờ 10 phút ngày 05/7/2024, tại nhà ông Phạm Văn B và bà Nguyễn Thị T ở khu T, xã H, huyện Đ, do mâu thuẫn cá nhân, Phạm Văn V đã có hành vi dùng 01 con dao nhọn, dạng bầu là hung khí nguy hiểm đâm 01 nhát vào vùng bụng của chị Phạm Thị T1 ở cùng khu, khiến chị T1 bị thương rách da vùng bụng khoảng 03cm, vết thương đâm thấu từ vùng da thượng vị xuyên rách cơ thẳng bụng, xuyên qua mạc nối lớn vào dạ dày gây thủng môn vị dạ dày mặt trước và mặt sau, tỷ lệ tổn thương cơ thể là 35%.
Hành vi dùng dao là hung khí nguy hiểm của bị cáo gây tổn thương cơ thể cho người khác với tỷ lệ 35% đã phạm vào tội “Cố ý gây thương tích”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 3 Điều 134 của Bộ luật hình sự. Điều luật quy định:
“1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
- Dùng vũ khí, vật liệu nổ, hung khí nguy hiểm hoặc thủ đoạn có khả năng gây nguy hại cho nhiều người;
- Có tính chất côn đồ.
3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm:
- ...
- Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này”.
[3]. Về tính chất của hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp rất nghiêm trọng, đã xâm phạm tới quyền được bảo vệ tính mạng, sức khỏe của người khác. Do vậy cần phải có hình phạt nghiêm khắc đối với bị cáo để giáo dục riêng và phòng ngừa chung tội phạm.
[4]. Về nhân thân: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, phạm tội lần đầu.
[5]. Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào. Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã tác động đến gia đình để bồi thường cho người bị hại nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Ngoài ra bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Căn cứ vào tính chất hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của bị cáo, trên cơ sở phục vụ công tác đấu tranh phòng ngừa tội phạm và tạo điều kiện cho bị cáo có cơ hội sửa chữa lỗi lầm trở thành người công dân có ích cho xã hội nên xử phạt bị cáo hình phạt như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp.
[6]. Về trách nhiệm dân sự: Số tiền bị cáo đã bồi thường thiệt hại về sức khỏe cho chị T1 là 39.829.397đ, chị T1 không đề nghị gì khác, cần xác nhận.
[7]. Về xử lý vật chứng: Con dao dạng dao bầu của gia đình ông B bị cáo sử dụng việc phạm tội và chiếc áo phông thu giữ của chị T1. Do gia đình ông B và chị T1 không yêu cầu lấy lại và các vật chứng này không còn giá trị sử dụng nên sẽ tịch thu để tiêu hủy.
[8]. Về án phí hình sự sơ thẩm: Do bị cáo là hộ cận nghèo nên miễn án phí cho bị cáo.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 3 Điều 134, điểm a khoản 1 Điều 47, khoản 1 Điều 48, các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự; Các Điều 584, 585, 586, 590 của Bộ luật dân sự; Căn cứ điểm a, c khoản 2 Điều 106, Điều 135, Điều 136, Điều 331 của Bộ luật tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, xử:
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phạm Văn V phạm tội "Cố ý gây thương tích".
- Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Phạm Văn V 07 (Bảy) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, ngày 06/7/2024.
- Về trách nhiệm dân sự:
Xác nhận bị cáo Phạm Văn V đã bồi thường cho chị Phạm Thị T1 số tiền là 39.829.397₫ (Ba mươi chín triệu tám trăm hai mươi chín nghìn ba trăm chín mươi bảy đồng).
- Về xử lý vật chứng, tịch thu tiêu hủy:
- - 01 (một) dao nhọn dạng dao bầu, tổng chiều dài cả chuôi dao và lưỡi dao dài 26,5cm, phần lưỡi dao làm bằng kim loại, màu đen dài 16cm, vát nhọn theo chiều hướng từ dưới lên trên, từ chuôi dao đến mũi dao, bản rộng nhất 4,5cm, bề mặt lưỡi dao có bám dính các chất màu đen, phần chuôi dao làm bằng gỗ, hình trụ tròn dài 10,5cm, đường kính 2,9cm
- - 01 (một) áo phông màu đen, đã cũ, mặt trước áo có in hình con gấu màu vàng, trong tư thế đang đứng giống như người đang đứng, hai chân gấu đi giày thể thao màu đen, tay phải cầm một ván trượt, đầu đội mũ lưỡi trai màu đen, đeo kính đen và có các chữ viết bằng tiếng nước ngoài màu trắng, không xác định nội dung chữ viết, mặt sau của áo màu đen, không có đặc điểm riêng. Chiều dài của thân áo đo từ vị trí mép dưới của thân áo đến mép trên, phía trước cổ áo là 61cm, chiều rộng của áo đo tại vị trí mép dưới thân áo là 56cm, tay áo dài 15cm. Tay áo và vai áo bên trái có một vết cắt từ ngoài vào trong đến cổ áo; mặt trước thân áo dọc theo sườn áo bên phải có một đường cắt từ mép dưới thân áo đến cổ áo. Mặt ngoài thân áo phía trước có bám dính nhiều chất dạng thức ăn đang trong quá trình phân hủy, có mùi thối; mặt trong có bám dính nhiều chất dịch màu nâu đỏ (nghi là máu). Mặt trước của thân áo tại vị trí cách mép dưới của thân áo 18cm, cách vị trí vết cắt dọc theo sườn phải của áo 16,5cm có một vết rách (thủng) dài 04cm, bờ mép sắc nhọn.
(Các vật chứng trên Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đoan Hùng đang quản lý).
- Về án phí hình sự sơ thẩm: Miễn toàn bộ án phí cho bị cáo Phạm Văn V.
Trong 15 ngày kể từ ngày tuyên án bị cáo, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ để yêu cầu xét xử phúc thẩm.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Vũ Thường |
Bản án số 47/2024/HS-ST ngày 28/11/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐOAN HÙNG, TỈNH PHÚ THỌ về cố ý gây thương tích
- Số bản án: 47/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐOAN HÙNG, TỈNH PHÚ THỌ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: cố ý gây thương tích
