TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN TỈNH BÌNH DƯƠNG Bản án số: 47/2025/HS-ST Ngày 25-02-2025 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Liễng.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Tô Văn Nhung.
- Ông Nguyễn Văn Hoàn.
- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Chu Tường Vy– Thư ký Toà án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Trân- Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 02 năm 2025, Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 406/2024/HSST ngày 28 tháng 11 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 402/2024/QĐXXST- HS ngày 09/12/2024 đối với bị cáo:
Nguyễn Tuấn C, sinh năm 1991 tại tỉnh Bình Dương; thường trú: Số C, khu phố T, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ học vấn: Lớp 9/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; con ông Nguyễn Văn M, sinh năm 1951 và bà Lê Thị T, sinh năm 1950; có 04 anh chị ruột lớn nhất sinh năm 1976, nhỏ nhất sinh năm 1982; vợ tên Nguyễn Thị Thanh N, sinh năm 1985 (đã ly hôn); có 02 con, lớn sinh năm 2014, nhỏ sinh năm 2015; tiền án, tiền sự: Không; bị áp dụng lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 18/5/2024 cho đến nay; bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: Công ty TNHH S; địa chỉ: Tầng A, tòa nhà S, F L, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện hợp pháp của bị hại: Ông Nguyễn Tấn P, sinh năm 1966; địa chỉ: Hẻm B, đường A, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh, là người đại diện theo ủy quyền. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 18/11/2023, Nguyễn Tuấn C ký hợp đồng với Công ty TNHH S, địa chỉ: Tầng A, Tòa nhà S, F L, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh, có thời hạn 12 tháng, với công việc phải làm là: Nhận hàng, giao hàng đến khách hàng của Công ty, thu hộ tiền hàng (COD) từ khách hàng cho Công ty và hoàn lại số tiền này cho Công ty trước 24 giờ cùng ngày. Sau khi ký hợp đồng, C được Công ty TNHH S giao cho làm việc tại địa điểm kinh doanh tại phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương ở số A, đường số B, khu phố Đ, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Quá trình làm việc, C cung cấp số điện thoại 0901.297.xxx (không đăng ký chính chủ) để Công ty cấp mã nhân viên: SPXC28830 và mã tài xế: 58573 nhằm thực hiện công việc giao nhận hàng. Đồng thời, C đăng ký tài khoản ngân hàng số 190355569251019 mở tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần K (T1) do C đứng tên để nhận tiền thu từ khách hàng rồi chuyển trả lại cho Công ty. Ngày 19/11/2023, C ký nhận 48 đơn hàng từ Công ty TNHH S và đã tiến hành giao hàng thành công 48 đơn hàng cho khách hàng ở khu vực phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương và thu tổng tiền hàng là 6.476.000 đồng theo hình thức nhận tiền mặt. Sau khi giao hết 48 đơn hàng, C đã chiếm đoạt toàn bộ số tiền trên để tiêu xài cá nhân. Theo quy định, C phải giao tiền hàng (trước 24 giờ cùng ngày) cho Công ty TNHH S nhưng C đã không giao nộp theo quy định mà chiếm đoạt toàn bộ số tiền trên rồi nghỉ việc. Trong khoảng thời gian từ ngày 19/11/2023 cho đến ngày 20/01/2024, Công ty TNHH S nhiều lần liên hệ C để yêu cầu hoàn trả tiền nhưng C không trả. Ngày 20/01/2024, Công ty TNHH S đã gửi đơn tố cáo đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D, tỉnh Bình Dương đối với Nguyễn Tuấn C đã có hành vi chiếm đoạt số tiền 6.476.000 đồng từ nguồn thu hộ tiền hàng (COD) của Công ty.
Vật chứng thu giữ: Không.
Về trách nhiệm dân sự: Ngày 26/9/2024, Công ty TNHH S có văn bản xác nhận Nguyễn Tuấn C đã trả số tiền 6.476.060 đồng, không có yêu cầu gì khác và xin giảm nhẹ hình phạt cho C.
Bản Cáo trạng số 395/CT-VKS-DA ngày 27 tháng 11 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Nguyễn Tuấn C về tội “Tham ô tài sản” theo khoản 1 Điều 353 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, trong phần tranh luận đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 353; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) để xử phạt bị cáo Nguyễn Tuấn C từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 04 năm đến 05 năm.
Tại phiên tòa, bị cáo không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát trong lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Công an Cảnh sát điều tra thành phố D, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình tố tụng và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
[2] Về nội dung: Căn xứ vào lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, tại phiên tòa, lời khai của người tham gia tố tụng và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ, có đủ cơ sở xác định: Nguyễn Tuấn C là nhân viên giao hàng có thời hạn 12 tháng của Công ty TNHH S, địa điểm làm việc tại phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Công việc được giao là nhận hàng, giao hàng đến khách hàng của Công ty, thu hộ tiền hàng (COD) từ khách hàng cho Công ty và hoàn lại số tiền này cho Công ty trước 24 giờ cùng ngày. Ngày 19/11/2024, Nguyễn Tuấn C đã có hành vi chiếm đoạt số tiền 6.476.060 đồng từ 48 đơn hàng mà C đã thu của khách hàng. Bản thân bị cáo có trách nhiệm thu tiền và giao tiền về cho Công ty, nhưng bị cáo đã lợi dụng quyền hạn của mình để chiếm đoạt số tiền 6.476.060 đồng của Công ty. Hành vi của bị cáo Nguyễn Tuấn C đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tham ô tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 353 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Do đó, Cáo trạng số 395/CT-VKS-DA ngày 27 tháng 11 năm 2024 của Viện kiểm sát thành phố D, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo và bản luận tội của Kiểm sát viên đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[3] Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội: Tội phạm do bị cáo thực hiện là nghiêm trọng, đã trực tiếp xâm phạm quyền sở hữu tài sản của bị hại được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý. Do đó, cần xử phạt các bị cáo hình phạt tương xứng với tính chất mức độ tội phạm đã thực hiện, có xét đến các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo đủ để giáo dục, cải tạo bị cáo và có tác dụng đấu tranh phòng ngừa chung.
[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có.
[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả cho bị hại; bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, Hội đồng xét xử áp dụng để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
[6] Về nhân thân: Bị cáo là người lao động, có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự; bị cáo đã thực hiện xong nghĩa vụ quân sự.
[7] Trách nhiệm dân sự: Bị hại Công ty TNHH S đã được bị cáo trả số tiền 6.476.060 đồng, không có yêu cầu gì khác nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[8] Về hình phạt:
+ Hình phạt chính: Xét bị cáo có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có địa chỉ nơi cư trú rõ ràng, trong thời gian áp dụng lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú bị cáo luôn chấp hành tốt chính sách pháp luật của Nhà nước và địa phương. Bị cáo có đủ các điều kiện được hưởng án treo theo quy định tại Điều 65 Bộ luật Hình sự và Nghị quyết số 02/VBHN-TANDTC ngày 07/9/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành về án treo, Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà cần tạo điều kiện cho bị cáo tự cải tạo dưới sự giám sát, giáo dục của chính quyền địa phương nơi cư trú cũng không làm ảnh hưởng đến việc đấu tranh, phòng chống tội phạm tại địa phương, đồng thời cũng đủ sức răn đe, giáo dục bị cáo thành người có ích cho gia đình, xã hội. Hội đồng xét xử hủy bỏ lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú của Tòa án đối với bị cáo. Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp nên chấp nhận.
+ Hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử xét thấy mức hình phạt chính cũng đủ để răn đe, giáo dục bị cáo nên quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung.
[9] Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải nộp theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Tuấn C phạm tội “Tham ô tài sản”.
Căn cứ khoản 1 Điều 353; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; điểm d khoản 1 Điều 125 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 02/VBHN-TANDTC ngày 07/9/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành về án treo.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Tuấn C 02 (hai) năm tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 04 (bốn) năm tính từ ngày tuyên án.
Giao bị cáo Nguyễn Tuấn C cho Ủy ban nhân dân phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp bị cáo Nguyễn Tuấn C thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo Điều 92 Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố tình vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Hủy bỏ lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú của Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương đối với bị cáo Nguyễn Tuấn C.
- Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Nguyễn Tuấn C phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Đỗ Thị Liễng |
Bản án số 47/2025/HS-ST ngày 25/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về tham ô tài sản
- Số bản án: 47/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tham ô tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Tuấn C phạm tội tham ô tài sản
