Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH NGHỆ AN

Bản án số: 47/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 17 - 02 - 2025

Về “Tranh chấp Hôn nhân

và gia đình”

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Trần Quốc Sơn

Các Hội thẩm nhân dân: ông Dương Thanh Cảnh

Bà Nguyễn Thị Quế Anh

Thư ký phiên tòa: bà Nguyễn Thị Thảo, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: bà Nguyễn Thị Bằng Giang - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 02 năm 2025, tại phòng xử án, Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An, xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số 496/2024/TLST-HNGĐ ngày 07/11/2024 về “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 484/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 27 tháng 12 năm 2024, giữa các đương sự:

*Nguyên đơn: bà Phạm Thị O, sinh năm: 1984

Nơi cư trú: xóm T, xã H, huyện Y, tỉnh Nghệ An. Có đơn xin xét xử vắng mặt.

* Bị đơn: ông Hà Văn Â, sinh năm 1979

Địa chỉ trước khi xuất cảnh: xóm T, xã H, huyện Y, tỉnh Nghệ An.

Hiện cư trú tại: Cộng hòa Liên bang N. Vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn xin ly hôn, bản tự khai, lời trình bày của nguyên đơn - bà Phạm Thị O trình bày như sau:

Bà Phạm Thị O và ông Hà Văn  tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn ngày 03/02/2002 tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện Y, tỉnh Nghệ An. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống với nhau hạnh phúc được một thời gian thì ông  qua Cộng hòa Liên bang N làm ăn, cho đến nay chưa trở về. Khi qua bên nước ngoài ông  đã cắt liên lạc với bà, lâu dần tình cảm vợ chồng trở nên xa cách. Nay mâu thuẫn vợ chồng không thể hàn gắn, bà không còn tình cảm đối với ông  nên bà đề nghị Tòa án cho bà được ly hôn ông Hà Văn Â.

Về con chung: bà Phạm Thị O và ông Hà Văn  có 03 con chung là Hà Văn H, sinh ngày 06/11/2002; Hà Thị Mai H1, sinh ngày 05/9/2008; Hà Thảo N, sinh ngày 10/7/2015. Cháu Hà Văn H đã trưởng thành, bà không yêu cầu giải quyết. Các cháu Hà Thị Mai H1, Hà Thảo N hiện đang ở với bà, bà yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng hai cháu H1 và Ý, không yêu cầu ông  cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: bà Phạm Thị O không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về phía bị đơn: Tòa án đã thực hiện việc tống đạt thông báo thụ lý vụ án và các văn bản tố tụng cho thân nhân bị đơn (ông Hà Văn Â) và niêm yết các văn bản tố tụng theo quy định pháp luật, nhưng ông  đều vắng mặt không có lý do.

Bà Phạm Thị O không cung cấp được địa chỉ nơi cư trú, nơi sinh sống hiện nay của ông Hà Văn Â. Tòa án đã tiến hành xác minh, lấy lời khai, gửi văn bản yêu cầu bà Vương Thị H2 (là mẹ đẻ ông Hà Văn Â) cung cấp địa chỉ, tin tức của ông  cũng như yêu cầu thông báo với ông A về việc bà O khởi kiện yêu cầu ly hôn ông  và yêu cầu giải quyết nuôi con chung để gửi lời khai về cho Tòa án. Tuy nhiên, cho đến nay Tòa án không nhận được văn bản thể hiện ý kiến của ông Hà Văn  liên quan đến việc giải quyết vụ án trên cũng như không ai cung cấp thông tin về nơi cư trú, làm việc hiện tại của ông Â.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An phát biểu ý kiến:

  • - Về tố tụng: Tòa án đã thu thập chứng cứ đúng theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Tòa án đã thu thập chứng cứ và đưa vụ án ra xét xử vắng mặt các đương sự, đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
  • - Về nội dung: đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 56 Luật hôn nhân gia đình, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho bà Phạm Thị O ly hôn ông Hà Văn Â; cháu Hà Văn H đã trưởng thành, bà không yêu cầu giải quyết nên không xét; giao cháu Hà Thị Mai H1, Hà Thảo N cho bà O trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng; bà O không yêu cầu ông  cấp dưỡng nuôi con nên không xét; về tài sản chung, nợ chung: bà O không yêu cầu, nên không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án, kết quả phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng

1.1] Về thẩm quyền: bị đơn - ông Hà Văn  có địa chỉ trước khi xuất cảnh là xóm T, xã H, huyện Y, tỉnh Nghệ An. Ông  hiện nay đang sinh sống và làm việc tại nước ngoài, nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa gia đình và người chưa thành niên - Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An theo quy định tại khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35; khoản 1 Điều 37; khoản 2 Điều 38, Điều 39 và Điều 469 của Bộ luật tố tụng dân sự và các Điều 122, 123 và 127 Luật hôn nhân và gia đình.

[1.2] Về thủ tục hòa giải

Vụ án không thể tiến hành hòa giải được do bà O có đơn đề nghị không tiến hành hòa giải, ông  đang ở nước ngoài, phù hợp khoản 1, khoản 4 Điều 207 Bộ luật tố tụng dân sự.

[1.3] Về sự vắng mặt của đương sự

Đối với nguyên đơn - bà Phạm Thị O đã đến Tòa án để làm việc và đã viết bản tự khai, cung cấp đầy đủ các giấy tờ, tài liệu cho Tòa án, nhưng không thể tham gia phiên tòa nên đã có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

Đối với bị đơn - ông Hà Văn Â, Hội đồng xét xử thấy rằng:

Theo Công văn số 5302/QLXNC-Đ1 ngày 12/12/2024 của Phòng Q, Công an tỉnh N thì ông Hà Văn  xuất cảnh qua Cửa khẩu N1, hiện chưa có thông tin nhập cảnh.

Bà Phạm Thị O không cung cấp được địa chỉ cụ thể của ông  tại nước ngoài. Tòa án đã yêu cầu bà Vương Thị H2 (mẹ đẻ ông Â) cung cấp địa chỉ, tin tức của ông  và thông báo cho ông  biết Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An đang giải quyết vụ án dân sự về việc “Tranh chấp hôn nhân và gia đình” theo đơn khởi kiện của bà Phạm Thị O, đề nghị ông  gửi lời khai cho Tòa án. Tuy nhiên, bà H2 không cung cấp được địa chỉ hiện nay của ông  và Tòa án cũng không nhận được văn bản trình bày ý kiến của ông Hà Văn Â.

Tòa án đã thực hiện niêm yết các văn bản tố tụng theo đúng quy định pháp luật. Việc ông Hà Văn  không cung cấp địa chỉ và không có ý kiến về vụ án, thể hiện ông Hà Văn  cố tình dấu địa chỉ.

Căn cứ quy định tại khoản 1, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự và Điều 10 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao về việc giải quyết vụ án ly hôn có bị đơn là người Việt Nam ở nước ngoài nhưng không rõ địa chỉ, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt các đương sự.

[2] Về nội dung

2.1 Về quan hệ hôn nhân: căn cứ Giấy chứng kết hôn số 27, quyển số 12 ngày 03/02/2002 của Ủy ban nhân dân xã H, huyện Y, tỉnh Nghệ An thì quan hệ hôn nhân giữa bà Phạm Thị O và ông Hà Văn  là hợp pháp. Sau khi kết hôn, bà O và ông  sống hạnh phúc với nhau được một thời gian thì ông  đi làm việc tại nước ngoài đến nay. Từ lâu hai bên không liên lạc, không quan tâm, không có trách nhiệm gì với nhau. Hội đồng xét xử nhận thấy tình cảm vợ chồng giữa bà O và ông  đã thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên cần chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, xử cho bà Phạm Thị O được ly hôn ông Hà Văn Â.

2.2. Về con chung: bà Phạm Thị O và ông Hà Văn  có 03 con chung là Hà Văn H, sinh ngày 06/11/2002; Hà Thị Mai H1, sinh ngày 05/9/2008; Hà Thảo N, sinh ngày 10/7/2015. Cháu Hà Văn H đã trưởng thành, bà không yêu cầu giải quyết. Từ ngày ông  đi làm việc ở nước ngoài, các cháu H1, Ý được bà O trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Xét thấy: cần chấp nhận yêu cầu của bà O, giao hai con chung là Hà Thị Mai H1, sinh ngày 05/9/2008; Hà Thảo N, sinh ngày 10/7/2015 cho bà Phạm Thị O trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.

Về việc cấp dưỡng nuôi con chung: bà Phạm Thị O không yêu cầu; ông Hà Văn  chưa có ý kiến nên hội đồng xét xử không xem xét.

2.3. Về tài sản chung, nợ chung: bà Phạm Thị O không yêu cầu; ông Hà Văn  chưa có ý kiến nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[3] Về án phí sơ thẩm: bà Phạm Thị O phải chịu án phí theo quy định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 3 Điều; các Điều 35, 37, 38, 39, 147; khoản 2 Điều 207; khoản 1, khoản 3 Điều 228, khoản 1 Điều 273, Điều 469 và Điều 479 Bộ luật tố dụng dân sự, Điều 10 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao về việc giải quyết vụ án ly hôn có bị đơn là người Việt Nam ở nước ngoài nhưng không rõ địa chỉ, xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị O.

  1. Về quan hệ hôn nhân: bà Phạm Thị O được ly hôn ông Hà Văn Â.
  2. Về con chung:
    • - Giao hai con chung là Hà Thị Mai H1, sinh ngày 05/9/2008; Hà Thảo N, sinh ngày 10/7/2015 cho bà Phạm Thị O trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.
    • - Về việc cấp dưỡng nuôi con chung: bà Phạm Thị O không yêu cầu; ông Hà Văn  chưa có ý kiến, Hội đồng xét xử không giải quyết.
  3. Về tài sản chung, nợ chung: bà Phạm Thị O không yêu cầu; ông Hà Văn  chưa có ý kiến, Hội đồng xét xử không giải quyết.
  4. Về án phí: bà Phạm Thị O phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tiền án phí ly hôn sơ thẩm, được khấu trừ 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp, theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0013433 ngày 06/11/2024 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Nghệ An.
  5. Về quyền kháng cáo:

    Bà Phạm Thị O vắng mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân Cấp cao tại Hà Nội trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được Bản án sơ thẩm hoặc kể từ ngày Bản án sơ thẩm được niêm yết hợp lệ.

    Ông Hà Văn  đang cư trú tại nước ngoài, vắng mặt, có quyền kháng cáo lên Toà án nhân dân Cấp cao tại Hà Nội trong thời hạn 01 (một) tháng kể từ ngày nhận được Bản án sơ thẩm hoặc Bản án sơ thẩm được niêm yết hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND tỉnh Nghệ An;
  • - Cục THADS tỉnh Nghệ An;
  • - UBND xã Hồng Thành, huyện Yên Thành;
  • - Lưu Hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Quốc Sơn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 47/2025/HNGĐ-ST ngày 17/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về tranh chấp hôn nhân và gia đình

  • Số bản án: 47/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hôn nhân và gia đình
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận đơn khởi kiện của nguyên đơn về việc ly hôn, nuôi con chung
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger