|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 47/2025/DS-PT Ngày 11 - 02 - 2025 V/v tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Minh Trung
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Thành Lập
Ông Ninh Quang Thế
- Thư ký phiên tòa: Ông Huỳnh Công Tấn là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Diễm Thúy - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 563/2024/TLPT- DS ngày 11 tháng 12 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 257/2024/DS-ST ngày 30 tháng 9 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 424/2024/QĐ-PT ngày 31 tháng 12 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn:
-
Bà Nguyễn Thị D, sinh năm 1954 (vắng mặt).
Người đại diện hợp pháp của bà D: Ông Ký Văn L, sinh năm 1994 (Theo các văn bản uỷ quyền ngày 24 tháng 8 năm 2023 và ngày 18 tháng 10 năm 2023, có mặt).
Cùng địa chỉ cư trú: Khóm G, thị trấn C, huyện P, tỉnh Cà Mau.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà D: Luật sư Phan Khánh D1 - Luật sư Công ty L4 thuộc Đoàn Luật sư tỉnh C (có mặt).
-
Ông Ký Văn H (đã chết).
Những người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của ông H:
- Ông Ký Văn L1, sinh năm 1972 (vắng mặt).
- Bà Ký Thị P, sinh năm 1975 (vắng mặt).
- Bà Ký Thị T, sinh năm 1990 (vắng mặt).
- Ông Ký Văn L, sinh năm 1993 (có mặt).
Cùng địa chỉ cư trú: Khóm G, thị trấn C, huyện P, tỉnh Cà Mau.
- Bà Ký Thị N, sinh năm 1977 (vắng mặt).
Địa chỉ cư trú: Ấp T, xã T, huyện P, tỉnh Cà Mau.
- Bà Ký Thị D2, sinh năm 1984 (vắng mặt).
- Bà Ký Thị P1, sinh năm 1988 (vắng mặt).
Cùng địa chỉ cư trú: Ấp C, xã T, huyện P, tỉnh Cà Mau.
Người đại diện theo ủy quyền của ông L1, bà P, bà T, bà N, bà D2 và bà P1: Ông Ký Văn L, sinh năm 1994 (Theo các văn bản uỷ quyền ngày 24 tháng 8 năm 2023 và ngày 18 tháng 10 năm 2023, có mặt).
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà D: Luật sư Phan Khánh D1 – Luật sư Công ty L4 thuộc Đoàn Luật sư tỉnh C (có mặt).
- Bị đơn: Ông Lâm Văn T1, sinh năm 1980 (vắng mặt).
Địa chỉ cư trú: Khóm G, thị trấn C, huyện P, tỉnh Cà Mau.
Người đại diện theo uỷ quyền của bị đơn: Ông Trần Nhật L2, sinh năm 1982; Địa chỉ cư trú: Ấp G, xã N, huyện P, tỉnh Cà Mau (Theo văn bản uỷ quyền ngày 06 tháng 11 năm 2024, có mặt)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Lê Văn L3 (vắng mặt).
- Bà Lâm Thị X, sinh năm (vợ ông L3, vắng mặt).
Cùng địa chỉ cư trú: Khóm G, thị trấn C, huyện P, tỉnh Cà Mau.
- Ngân hàng N1 (vắng mặt).
Địa chỉ: Khóm H, thị trấn C, huyện P, tỉnh Cà Mau.
- Bà Lý Thị M, sinh năm 1988 (vợ ông T1, vắng mặt).
Địa chỉ cư trú: Khóm G, thị trấn C, huyện P, tỉnh Cà Mau.
- Người kháng cáo: Ông Lâm Văn T1 là bị đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Nguyên đơn bà Nguyễn Thị D và người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:
Vào ngày 01/9/2002 vợ chồng ông Ký Văn H có nhận chuyển nhượng từ ông Lê Văn L3 một phần đất nuôi trồng thủy sản khoảng 08 công tầm lớn tọa lạc tại ấp T, thị trấn C, huyện C (nay là Khóm G, thị trấn C, huyện P), giá chuyển nhượng là 06 lượng vàng 24K, việc chuyển nhượng có làm giấy tay thể hiện “Tờ sang nhượng đất” có nhiều người dân lân cận chứng kiến, trong đó có chủ đất cũ là ông Lâm Văn S. Ngay sau đó ông L3 đã bàn giao đất cho vợ chồng ông H quản lý, sử dụng cho đến nay. Lý do chưa được tách thửa là do phía ông S đang thế chấp quyền sử dụng đất tại ngân hàng, sau đó ông S và vợ ông S chết vẫn chưa tách thửa được. Vào năm 2008 thì ông Lâm Văn T1 là con ông S nhận thừa kế và đứng tên quyền sử dụng đất. Hiện tại ông T1 đang thế chấp quyền sử dụng đất vay vốn tại Ngân hàng N1 – Chi nhánh huyện P. Khi biết sự việc vợ chồng ông H có đến gặp ông T1 yêu cầu tách quyền sử dụng đất nhưng ông T1 chỉ hứa mà không thực hiện.
Vì lý do trên, ông H và bà D yêu cầu công nhận hợp đồng chuyển nhượng từ ông Lâm Văn S với ông Lê Văn L3 và công nhận hợp đồng chuyển nhượng giữa ông Lê Văn L3, bà Lâm Thị X với ông Ký Văn H và bà Nguyễn Thị D phần đất khoảng 08 công tầm lớn, theo đo đạc thực tế phần đất có diện tích là 10.004,6m² tọa lạc tại Khóm G, thị trấn C, huyện P, tỉnh Cà Mau thuộc quyền sử dụng của vợ chồng ông bà. Ghi nhận cho bà D và các con bà D được liên hệ đăng ký xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo thủ tục chung đối với phần đất đã được chuyển nhượng. Tại phiên tòa bà Nguyễn Thị D yêu cầu rút lại một phần yêu cầu khởi kiện về việc yêu cầu hủy một phần giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho ông Lâm Văn T1.
- Bị đơn, ông Lâm Văn T1 trình bày:
Trước đây vào thời gian nào ông không nhớ cha ông là ông Lâm Văn S có cho ông Lê Văn L3 mượn phần đất (phần đất ông H đang quản lý) diện tích đo đạc thực tế là 10.004,6m². Thời gian mượn ông không biết, giữa hai bên có làm văn bản không ông cũng không biết. Gia đình ông H có cất nhà trên đất ông không có ngăn cản do láng giềng nên ông không có ý kiến. Cha ông mất năm 2003 thì ông có nhận thừa kế đến năm 2008 ông được đứng tên quyền sử dụng đất và hiện tại đang thế chấp quyền sử dụng đất vay vốn tại Ngân hàng N1 – Chi nhánh huyện P. Vợ chồng ông H cho rằng cha ông có chuyển nhượng phần đất cho ông L3 thì yêu cầu triệu tập ông L3 đối chất. Nay ông không đồng ý theo yêu cầu phía nguyên đơn.
Tại bản án dân sự sơ thẩm số: 257/2024/DS-ST ngày 30 tháng 9 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau quyết định:
Tuyên xử:
-
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị D và những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Ký Văn H. Công nhận hợp đồng chuyển nhượng giữa ông Lâm Văn S với ông Lê Văn L3 và công nhận hợp đồng chuyển nhượng giữa ông Lê Văn L3, bà Lâm Thị X với ông Ký Văn H và bà Nguyễn Thị D phần đất khoảng 08 công tầm lớn, theo đo đạc thực tế là 10.004,6m² tọa lạc tại Khóm G, thị trấn C, huyện P, tỉnh Cà Mau lập ngày 01/9/2002 âm lịch.
Bà Nguyễn Thị D và những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Ký Văn H được quyền đăng ký, điều chỉnh biến động hoặc cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất với diện tích 10.004,6m² tọa lạc tại Khóm G, thị trấn C, huyện P, tỉnh Cà Mau theo quy định.
(Có kèm theo trích đo hiện trạng ngày 02/11/2023 của Công ty Cổ phần K – Chi nhánh C).
- Đình chỉ yêu cầu của bà Nguyễn Thị D và những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Ký Văn H về việc hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên ông Lâm Văn T1 được Ủy ban nhân dân huyện P, tỉnh Cà Mau cấp ngày 06/3/2008.
Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về chi phí tố tụng, lãi suất chậm trả, án phí và quyền kháng cáo của các đương sự.
Ngày 15/10/2024, ông Lâm Văn T1 có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm yêu cầu cấp phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm, ông Lâm Văn T1 giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
Phần tranh luận tại phiên toà:
- Người đại diện theo uỷ quyền của bị đơn, ông Trần Nhật L2 tranh luận: Giao dịch giữa ông L3 với ông H chỉ bằng giấy tay là không đảm bảo về hình thức; không có chứng cứ chứng minh ông L3 đã nhận vàng. Án sơ thẩm chưa làm việc được với ông L3 mà xét xử vắng mặt làm ảnh hưởng quyền và lợi ích hợp pháp của ông L3 nên yêu cầu huỷ án sơ thẩm.
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn tranh luận: Việc chuyển nhượng đất có làm giấy tay thể hiện tại “Tờ sang nhượng đất” có nhiều người dân lân cận chứng kiến, trong đó có chủ đất cũ là ông Lâm Văn S. Ngay sau khi ký hợp đồng chuyển nhượng, ông L3 đã bàn giao đất cho vợ chồng ông H quản lý, sử dụng cho đến nay. Do đó, việc chuyển nhượng đất giữa ông L3 với ông H có hiệu lực. Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm giữ y án sơ thẩm.
- Người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn, ông Ký Văn L không tranh luận.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên toà phát biểu: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán trong quá trình giải quyết vụ án; của Hội đồng xét xử và những người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng tại phiên tòa đúng quy định pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự. Không chấp nhận kháng cáo của ông Lâm Văn T1. Giữ nguyên bản án sơ thẩm số 257/2024/DS-ST ngày 30 tháng 9 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Xét kháng cáo của ông Lâm Văn T1, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Phần đất tranh chấp có nguồn gốc của ông Lâm Văn S (cha của ông Lâm Văn T1). Tại biên bản hòa giải ngày 21 tháng 7 năm 2022, ông T1 cho rằng vào thời gian nào không nhớ, cha ông là ông S cho ông Lê Văn L3 thuê phần đất tranh chấp nhưng tại phiên tòa sơ thẩm, ông T1 trình bày ông S cho L3 mượn. Trình bày của ông T1 là không có văn bản chứng minh. Người đại diện theo ủy quyền của bà Nguyễn Thị D là vợ của ông H trình bày, ông H, bà D có nhận chuyển nhượng của ông L3 phần đất 8 công giá 6 cây vàng 24k vào ngày 01 tháng 9 năm 2002 (AL). Để chứng minh cho trình bày của mình, bà D có cung cấp “Tờ sang nhượng đất” ngày 01 tháng 9 năm 2002 (AL).
[2] Phần đất tranh chấp có nguồn gốc của ông S được giao ông L3 sử dụng. Tuy giữa, ông S với ông L3 không có hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất nhưng tại “Tờ sang nhượng đất” ngày 01 tháng 9 năm 2002 AL giữa ông Lê Văn L3, bà Lâm Thị X với ông Ký Văn H, bà Nguyễn Thị D có sự tham dự, chứng kiến của ông S là cha của ông T1 với nội dung ông L3 có chuyển nhượng cho ông H phần đất 8 công với giá nhận công 6 lượng vàng 24K. Như vậy, mặc dù không có văn bản thể hiện việc ông S chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho ông L3 nhưng chính việc ông S ký tên chứng kiến vào “Tờ sang nhượng đất” giữa ông L3, bà X với ông H, bà D đã thể hiện phần đất đã được ông S chuyển nhượng quyền sử dụng phần đất tranh chấp cho ông L3.
[3] Xét trình bày của những người trong thân tộc có chứng kiến việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông L3, bà X với ông H, bà D như ông Phan Văn M1, ông Nguyễn Văn D và người sống tại địa phương là Phạm Văn V (Phạm Thanh V1) xác nhận: Có ông S chứng kiến và ký tên vào “Tờ sang nhượng đất” giữa ông Lê Văn L3 với ông Ký Văn H. Khi ông L3 chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho ông H, bà D thì ông Lâm Văn S chứng kiến và đồng ý việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất này. Như vậy, ông S có chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho ông L3 và ông L3, bà X có chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho ông H, bà D.
[4] Xét quá trình sử dụng đất, từ khi nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất năm 2002, ông H, bà D đã canh tác, xây dựng nhà cơ bản trên đất. Sau đó, năm 2009, ông H, bà D đã cho con là ông Ký Văn L1 một phần đất để xây dựng nhà vào năm 2015. Đến khi ông H chết vào năm 2022, thì cũng chôn trên đất này nhưng ông T1 không có ý kiến gì. Như vậy, sau khi hợp chuyển nhượng quyền sử dụng đất được ký kết thì ông L3 đã giao đất cho ông H, bà D sử dụng đất, ông H, bà D đã trả trực tiếp cho ông L3 3,5 lượng vàng 24K; còn lại 2,5 lượng vàng 24K, do ông L3 bế hui nên chính quyền địa phương đã nhận và bán được số tiền 18.470.000 đồng, trả cho bà D1 7.896.000 đồng để trả nợ Ngân hàng, đưa cho ông H 1.000.000 đồng (Bút lục số 255). Như vậy, ông H đã thanh toán toàn bộ số tiền chuyển nhượng quyền sử dụng đất nên cấp sơ thẩm công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Lê Văn L3 với ông Ký Văn H là có căn cứ.
[5] Tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của bị đơn cho rằng: Ông Lê Văn L3 không có ở khóm G, thị trấn C, huyện P, không làm việc được với ông L3 mà xử vắng mặt, Hội đồng xét xử xét thấy, ông L3 đã đi khỏi nơi cư trú, trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn có cung cấp cho Tòa án cấp sơ thẩm địa chỉ mới của ông Lê Văn L3, bà Lâm Thị X ở đường số A, ấp T, phường T, H1, thị xã T, tỉnh Bình Dương nên Toà án nhân dân huyện Phú Tân đã ủy thác thu thập chứng cứ cho Toà án nhân dân thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương, Tại Công văn số 577/TA-TB ngày 01 tháng 7 năm 2024, Toà án nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương trả lời kết quả uỷ thác: Tại phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương không có đường số A, Tạo L nên không thể tống đạt văn bản tố tụng và không thể thực hiện quyết định uỷ thác của Toà án nhân dân huyện Phú Tân (Bút lục số 157). Do đó, Toà án nhân dân huyện Phú Tân niêm yết các văn bản tố tụng tại khóm G, thị trấn C, huyện P, tỉnh Cà Mau là đúng quy định nên không có căn cứ huỷ án sơ thẩm theo yêu cầu của bị đơn.
[6] Từ phân tích trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của ông Lâm Văn T1. Giữ nguyên bản án sơ thẩm số: 257/2024/DS-ST ngày 30 tháng 9 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau.
[7] Án phí dân sự phúc thẩm: Ông Lâm Văn T1 phải chịu 300.000 đồng. Ông T1 có nộp tạm ứng án phí phúc thẩm 300.000 đồng, được chuyển thu án phí.
[8] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị nên không đặt ra xem xét.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Không chấp nhận kháng cáo của ông Lâm Văn T1.
Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số: 257/2024/DS-ST ngày 30 tháng 9 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau.
Tuyên xử:
-
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị D và những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Ký Văn H.
Công nhận hợp đồng chuyển nhượng giữa ông Lâm Văn S với ông Lê Văn L3 và công nhận hợp đồng chuyển nhượng giữa ông Lê Văn L3, bà Lâm Thị X với ông Ký Văn H và bà Nguyễn Thị D phần đất khoảng 08 công tầm lớn, theo đo đạc thực tế là 10.004,6m² tọa lạc tại Khóm G, thị trấn C, huyện P, tỉnh Cà Mau lập ngày 01/9/2002 âm lịch.
Bà Nguyễn Thị D và những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Ký Văn H được quyền đăng ký, điều chỉnh biến động hoặc cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất với diện tích 10.004,6m² tọa lạc tại Khóm G, thị trấn C, huyện P, tỉnh Cà Mau theo quy định.
(Có kèm theo trích đo hiện trạng ngày 02/11/2023 của Công ty Cổ phần K - Chi nhánh C).
- Đình chỉ yêu cầu của bà Nguyễn Thị D và những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Ký Văn H về việc hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên ông Lâm Văn T1 được Ủy ban nhân dân huyện P, tỉnh Cà Mau cấp ngày 06/3/2008.
-
Về chi phí tố tụng: Ông Lâm Văn T1 phải chịu toàn bộ chi phí đo đạc và định giá số tiền 26.592.872 đồng. Bà Nguyễn Thị D đã nộp thay nên buộc ông Lâm Văn T1 có trách nhiệm thanh toán cho bà Nguyễn Thị D số tiền 26.592.872 đồng.
Trường hợp bên có nghĩa vụ chậm trả tiền thì bên đó phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Lãi suất phát sinh do chậm trả theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự.
- Về án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch: Ông Lâm Văn T1 phải chịu là 300.000 đồng.
- Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông Lâm Văn T1 phải chịu 300.000 đồng. Ngày 15 tháng 10 năm 2024, ông T1 có nộp tạm ứng án phí 300.000 đồng theo Biên lai thu số 0003935 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Tân, được chuyển thu án phí.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đặng Minh Trung |
Bản án số 47/2025/DS-PT ngày 11/02/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
- Số bản án: 47/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 11/02/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ông H và bà D yêu cầu công nhận hợp đồng chuyển nhượng từ ông Lâm Văn S với ông Lê Văn L3 và công nhận hợp đồng chuyển nhượng giữa ông Lê Văn L3, bà Lâm Thị X với ông Ký Văn H và bà Nguyễn Thị
