|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP Bản án số: 47/2025/DS-PT Ngày 07 - 02 - 2025 V/v tranh chấp ranh giới quyền sử dụng đất |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
| Thẩm phán Chủ tọa phiên tòa: | Ông Nguyễn Chí Dũng |
| Các Thẩm phán: | Ông Lê Khắc Thịnh |
| Bà Nguyễn Huỳnh Thị Hương Thủy |
- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Bảo Ngọc - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Điểu - Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 02 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 598/2024/TLPT-DS ngày 26 tháng 11 năm 2024 về việc: “Tranh chấp ranh giới quyền sử dụng đất”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số: 119/2024/DS-ST ngày 02 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Tháp Mười bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 750/2024/QĐ-PT ngày 20 tháng 12 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Tấn Đ, sinh năm 1977.
- Bị đơn: Ông Trần Văn N, sinh năm 1969.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Huỳnh Thị Cẩm V, sinh năm 1984.
- Anh Nguyễn Tấn N2, sinh năm 2003.
- Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1970.
- Anh Trần Minh T1, sinh năm 1992.
- Chị Trần Thị Phương T2, sinh năm 1995.
- Anh Trần Minh N3, sinh năm 1999.
- Chị Nguyễn Hoài T3, sinh năm 1995.
- Bà Trần Thị B, sinh năm 1963.
- Bà Trần Thị P1, sinh năm 1964.
- Bà Trần Thị P2, sinh năm 1966.
- Bà Trần Thị S, sinh năm 1967.
- Bà Trần Thị L, sinh năm 1971.
- Người kháng cáo: Ông Nguyễn Tấn Đ, là nguyên đơn trong vụ án.
Địa chỉ: Ấp C, xã M, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông Nguyễn Tấn Đ: Ông Trần Hà Xuân P là Luật sư của Chi nhánh Công ty L1 Luật thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Đ.
Địa chỉ: Ấp C, xã M, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn ông Trần Văn N: Chị Phạm Thị N1, sinh năm 1986; Địa chỉ: Lô M, khóm M, thị trấn M, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.
Cùng địa chỉ: Ấp C, xã M, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
Địa chỉ: Ấp M, xã H, huyện C, tỉnh Tiền Giang.
Địa chỉ: Ấp C, xã M, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
Địa chỉ: Ấp M, xã H, huyện C, tỉnh Tiền Giang.
(Ông Đ, chị N1, bà V, Luật sư P có mặt; Anh N2, bà T, anh T1, chị T2, anh N3, chị T3, bà B, bà P1, bà P2, bà S và bà L vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện, trong quá trình giải quyết nguyên đơn ông Nguyễn Tấn Đ trình bày:
Nguồn gốc phần đất của ông bà nội của ông Đ khai mở và sử dụng. Đến năm 1994 cụ Trần Thị H là bà nội ông Đ được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và tiếp tục sử dụng, tháng 01/2011 cụ H làm thủ tục tặng cho con là ông Nguyễn Văn H1 và ông H1 được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, tháng 03/2011 ông H1 làm thủ tục tặng cho lại ông Đ và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Từ nhỏ đến lớn ông H1 và ông Đ sống chung với ông bà nội trên phần đất này. Việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho cụ H, ông H1 và ông Đ đối với phần đất này không có đo đạc thực tế.
Căn cứ ông Đ yêu cầu xác định ranh đất là khi cụ H còn sống có nói với ông H1 là cha ông Đông ranh đất với ông Trần Văn N là hàng dừa, toàn bộ hàng dừa do ông N trồng, cặp hàng dừa bà nội của ông Đ có đào cái đường máng từ phía sau ra đến đường lộ để lấy đất đắp nền nhà, hiện nay ao đã bị bồi lấp nên không còn hiện trạng như trước.
Nay ông Đ yêu cầu xác định lại ranh đất giữa thửa đất 1530, tờ bản đồ số 2, diện tích 1.815m², loại đất ở tại nông thôn do hộ ông Đ đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất với thửa đất 1128, tờ bản đồ số 2, đất cùng tọa lạc tại ấp C, xã M, huyện T, tỉnh Đồng Tháp do cụ Trần Thị N4 đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, để ông Đ cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Ranh đất được xác định là đoạn thẳng nối liền các mốc M3 đến M9, theo Sơ đồ đo đạc ngày 10/5/2023 của Công ty TNHH D.
Ngoài ra, ông Đ không còn tranh chấp hay yêu cầu gì khác. Bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa đất 1530 ông Đ đang giữ, không có cầm cố hay thế chấp cho ai.
Ông Đ thống nhất theo Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 10/5/2023 của Tòa án nhân dân huyện Tháp Mười và Sơ đồ đo đạc ngày 10/5/2023 của Công ty TNHH D.
- Bị đơn ông Trần Văn N trình bày:
Ông N không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Tấn Đ, ranh đất trước đây lúc cụ Trần Thị H còn sống thì ông với cụ H đã xác định ranh từ ngoài lộ thẳng ra phía sau hậu. Khi xác định ranh đất xong năm 2008 ông xây hàng rào đến mí ranh và trồng cây trên đất gia đình ông Đ không có ý kiến, việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không có đo đạc thực tế. Đến năm 2023 mẹ ông là cụ Trần Thị N4 chết, hiện vẫn còn đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa đất 1128, tờ bản đồ số 2, diện tích 1.875m² nhưng bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã bị thất lạc. Thực tế mẹ ông là cụ N4 đã cho ông được hưởng phần đất này để nuôi dưỡng và thờ cúng ông bà cha mẹ sau này, các anh, chị, em đều biết và thống nhất không có ý kiến gì.
Ông N đề nghị xác định ranh đất giữa thửa đất 1128 của ông với thửa đất 1530 của ông Đ là đoạn thẳng nối liền các mốc M4 đến M8, theo Sơ đồ đo đạc ngày 10/5/2023 của Công ty TNHH D.
Đối với các cây trồng, hàng rào trên đất ông N không tranh chấp gì. Nếu yêu cầu của ông Đ được chấp nhận ông đồng ý di dời hoặc đốn bỏ các cây trồng, hàng rào để giao đất cho ông Đ.
Hàng thừa kế thứ nhất của cụ N4 gồm: C là cụ Trần Văn N5 (đã chết năm 1972), các con là Trần Thị B, Trần Thị P1, Trần Thị P2, Trần Thị S, Trần Thị L và Trần Văn N là ông. Ngoài ra, cụ N4 không còn con riêng hay con nuôi nào khác.
Ông N thống nhất theo Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 10/5/2023 của Tòa án nhân dân huyện Tháp Mười và Sơ đồ đo đạc ngày 10/5/2023 của Công ty TNHH D.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Huỳnh Thị Cẩm V trình bày:
Bà V là vợ ông Nguyễn Tấn Đ thống nhất với lời trình bày của ông Đ, trong vụ án này bà V không có tranh chấp hay yêu cầu gì và đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Đ.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Tấn N2 trình bày:
Anh N2 là con ông Nguyễn Tấn Đ đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng không có ý kiến.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị T, anh Trần Minh T1, chị Trần Thị Phương T2, anh Trần Minh N3 và chị Nguyễn Hoài T3 trình bày:
Bà T, anh T1, chị T2, anh N3 và chị T3 là vợ và con của ông Trần Văn N. Nguồn gốc đất của cụ Trần Thị N4 cho ông Trần Văn N sử dụng ổn định từ trước cho đến nay, ông Đ cho rằng ông N lấn ranh là không đúng, trong vụ án này không tranh chấp hay yêu cầu gì, thống nhất với lời trình của ông N và giao cho ông N được toàn quyền quyết định.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị B, bà Trần Thị P1, bà Trần Thị P2, bà Trần Thị S và bà Trần Thị L trình bày:
Bà B, bà P1, bà P2, bà S và bà L là con của cụ Trần Thị N4 và là chị của ông Trần Văn N. Nguồn gốc đất của mẹ là cụ Trần Thị N4 cho ông Trần Văn N sử dụng ổn định từ trước cho đến nay, các chị, em đều biết và không tranh chấp, trong vụ án này không tranh chấp hay yêu cầu gì, đất là của ông N nên ông N được toàn quyền quyết định.
Tại quyết định bản án dân sự sơ thẩm số: 119/2024/DS-ST ngày 02 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Tháp Mười xét xử:
Tuyên xử:
- Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Tấn Đ.
- Xác định ranh giới quyền sử dụng đất giữa các đương sự như sau:
Ranh giới quyền sử dụng đất giữa thửa đất 1530, tờ bản đồ số 2 của hộ ông Nguyễn Tấn Đ với thửa đất 1128, tờ bản đồ số 2 của cụ Trần Thị N4, đất cùng tọa lạc tại ấp C, xã M, huyện T, tỉnh Đồng Tháp được xác định là đoạn thẳng nối liền từ mốc M4 đến M8 theo Sơ đồ đo đạc ngày 10/5/2023 của Công ty TNHH D.
Các đương sự được quyền sử dụng không gian và lòng đất theo chiều thẳng đứng từ ranh giới của thửa đất phù hợp với quy định của pháp luật và không được làm ảnh hưởng đến việc sử dụng đất của người khác. Người sử dụng đất chỉ được trồng cây và làm các việc khác trong khuôn viên đất thuộc quyền sử dụng của mình và theo ranh giới đã được xác định. Nếu cây trồng, vật kiến trúc của bên này lấn qua phần đất của bên kia thì phải tháo dở, di dời theo quy định của pháp luật.
Các đương sự có quyền và nghĩa vụ đến cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để kê khai, đăng ký, điều chỉnh lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của mình theo quy định của pháp luật.
(Kèm theo Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 10/5/2023 của Tòa án và Sơ đồ đo đạc ngày 10/5/2023 của Công ty TNHH D).
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
Ông Nguyễn Tấn Đ phải chịu 300.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu số 0008495, ngày 05/12/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tháp Mười, ông Đ đã nộp xong.
- Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và đo đạc: Ông Nguyễn Tấn Đ phải chịu đã nộp và chi xong.
Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên thời hạn, quyền kháng cáo, quyền và nghĩa vụ, thời hiệu thi hành án của các đương sự.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 14/8/2024 ông Nguyễn Tấn Đ kháng cáo bản án sơ thẩm số: 119/2024/DS-ST ngày 02/8/2024 của Tòa án nhân dân huyện Tháp Mười. Yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Đ.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Ông Nguyễn Tấn Đ trình bày: Vẫn giữ nguyên kháng cáo.
Luật sư Trần Hà Xuân P là người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông Nguyễn Tấn Đ trình bày: Ông Đ yêu cầu xác định ranh đất giữa thửa đất 1530 của ông Đ với thửa đất 1128 của cụ Trần Thị N4 đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do ông N quản lý, sử dụng là đoạn thẳng từ mốc M3 đến M9 là có cơ sở. Bởi vì, cụ Trần Thị H là bà nội của ông Đ được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào năm 1994, đến năm 2011 cụ H tặng cho lại ông Nguyễn Văn H1 cha của ông Đ, tháng 3/2011 ông Hồng T4 cho lại ông Đ. Theo Văn bản trả lời của Ủy ban nhân huyện T, khi cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không có đo đạc thực tế, hiện trạng là hàng dừa do ông N trồng đã xác định ranh đất giữa hai bên là phù hợp, cụ H đào ao chiều sâu khoảng 1,5m lấy nước làm lúa, hiện nay bồi đắp vẫn còn. Năm 2008 ông N xây hàng rào trước nhà cặp lộ làng gia đình ông H1 ngăn cản xảy ra tranh chấp, do không hiểu biết pháp luật nên không có khiếu nại đến chính quyền. Tòa án cấp sơ thẩm cho rằng gia đình ông Đ nuôi vịt dẫn đến sạt lở không phù hợp, gia đình ông Đ nuôi vịt khoảng 7 - 8 tháng nay, số lượng vịt nuôi vài chục con để sinh hoạt gia đình, không thể sạt lở qua đất ông N. Từ đó, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của ông Đ, sửa bản án sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Đ.
Ông Nguyễn Tấn Đ trình bày: Thống nhất với lời trình bày của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, không bổ sung gì thêm.
Bà Huỳnh Thị Cẩm V trình bày: Thống nhất theo lời trình bày của ông Nguyễn Tấn Đ.
Chị Phạm Thị N1 là người đại diện theo ủy quyền của ông Trần Văn N trình bày: Không thống nhất kháng cáo của ông Nguyễn Tấn Đ, thống nhất theo bản án sơ thẩm.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp phát biểu ý kiến:
Về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án dân sự ở giai đoạn phúc thẩm: Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật về việc thụ lý vụ án, về thời hạn giải quyết vụ án. Tại phiên tòa phúc thẩm, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật. Các đương sự đã thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật.
Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự, không chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Tấn Đ, giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số: 119/2024/DS-ST ngày 02 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Tháp Mười.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu và chứng cứ có trong hồ sơ, được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, lời phát biểu của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Xét đơn kháng cáo của ông Nguyễn Tấn Đ nộp trong thời hạn luật định. Căn cứ Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự, xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
Mặc dù Tòa án đã triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai chỉ có ông Đ, chị N1, bà V, Luật sư P có mặt; Anh N2, bà T, anh T1, chị T2, anh N3, chị T3, bà B, bà P1, bà P2, bà S và bà L vắng mặt, nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử theo luật định.
Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Tòa án cấp sơ thẩm xác định quan hệ pháp luật “Tranh chấp ranh giới quyền sử dụng đất” và thụ lý giải quyết phù hợp với khoản 9 Điều 26, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung: Xét kháng cáo của ông Nguyễn Tấn Đ yêu cầu sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Đ.
Hội đồng xét xử xét thấy:
Ông Đ yêu cầu xác định lại ranh đất giữa thửa đất 1530, tờ bản đồ số 2, diện tích 1.815m², loại đất ở tại nông thôn do hộ ông Đ đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất với thửa đất 1128, tờ bản đồ số 2, đất cùng tọa lạc tại ấp C, xã M, huyện T, tỉnh Đồng Tháp do cụ Trần Thị N4 đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, để ông Đ cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Ranh đất được xác định là đoạn thẳng nối liền các mốc M3 đến M9, theo Sơ đồ đo đạc ngày 10/5/2023 của Công ty TNHH D.
Theo ông Đ trình bày nguồn gốc thửa đất 1530, tờ bản đồ số 2, diện tích 1.815m² của cụ H được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào năm 1994, đến tháng 01/2011 cụ H tặng cho ông H1 cha ông Đông, ngày 14/01/2011 ông H1 được Ủy ban nhân dân huyện T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Ngày 23/02/2011 ông H1 lập hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất thửa đất 1530, tờ bản đồ số 2, diện tích 1.815m² cho ông Đ, hợp đồng được Ủy ban nhân dân xã M chứng thực. Đến ngày 18/3/2011 hộ ông Đ được Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất huyện T ký xác nhận biến động trang 3. Theo đo đạc thực tế diện tích 1.701,9m² thiếu 113,1m², nếu cộng phần đất tranh chấp 76,5m² thì diện tích là 1.778,4m², so với diện tích trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất 1.815m² thì đất của ông Đ thiếu 36,6m².
Theo hồ sơ kê khai, đăng ký quyền sử dụng đất nguồn gốc thửa đất 1128, tờ bản đồ số 2 của cụ Năm thể hiện. Tại Đơn xin đăng ký quyền sử dụng ruộng đất ngày 09/11/1993 thì thửa đất 1128, tờ bản đồ số 2, diện tích 1.875m² của cụ N4 tự khai phá. Ngày 20/01/1994 được Ủy ban nhân dân huyện T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất diện tích 1.875m², thửa đất 1128, tờ bản đồ số 2 cho cụ N4. Theo đo đạc thực tế diện tích 1.197,1m² thiếu 677,9m², nếu cộng phần đất tranh chấp 76,5m² thì diện tích là 1.273,6m², so với diện tích trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất 1.875m² thì đất của cụ N4 thiếu 601,4m².
Tại Công văn số: 7355/UBND-NC ngày 26/10/2023 của Ủy ban nhân dân huyện T cung cấp thông tin:
“2. Căn cứ để cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ ông Nguyễn Tấn Đ thửa đất số 1530, tờ bản đồ số 2, số vào sổ CH00523, do UBND huyện T cấp ngày 14/01/2011 là hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa ông Nguyễn Văn H1 và hộ ông Nguyễn Tấn Đ được Ủy ban nhân dân xã M chứng thực ngày 23/02/2011, số chứng thực 27, quyển số 01 TP/CC-STP/HĐGD (thực hiện chỉnh lý biến động trên trang 3 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có số vào sổ CH00523, không cấp mới). Việc cấp giấy đảm bảo trình tự, thủ tục theo quy định tại thời điểm cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Khi cấp giấy không có đo đạc, không khảo sát thực tế...”
Tại Công văn số: 1799/UBND-NC ngày 20/3/2024 của Ủy ban nhân dân huyện T cung cấp thông tin:
“Căn cứ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ bà Trần Thị N4 thửa đất số 1128, tờ bản đồ số 2 (số vào sổ 00657/A6), đất tọa lạc xã M, huyện T, tỉnh Đồng Tháp là hồ sơ đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lần đầu (cấp mới). Việc cấp giấy đảm bảo trình tự, thủ tục theo quy định tại thời điểm cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Khi cấp giấy không có đo đạc thực tế”.
Như vậy, hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ ông Đ thửa đất 1530 và hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa đất 1128 cho cụ N4 đều không có đo đạc, không khảo sát thực tế. Đồng thời, khi đo đạc lại diện tích đất thực tế thì phần đất của hai bên đều thiếu so với diện tích được cấp ghi trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Do đó, không thể căn cứ vào hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất về số liệu để làm căn cứ giải quyết vụ án.
Về hiện trạng phần đất tranh chấp: Tại biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 10/5/2023 của Tòa án nhân dân huyện Tháp Mười và Sơ đồ đo đạc ngày 10/5/2023 của Công ty TNHH D thể hiện trong phạm vi phần đất tranh chấp có các cây trồng và hàng rào lưới B40, chân xây tường gạch cao 08 tấc (80cm), xây dựng năm 2008, cột xi măng bê tông của ông N và một phần đất bị bồi đắp.
Tại Biên bản ngày 07/7/2023 ông Đ trình bày lúc ông N trồng cây và xây tường làm hàng rào thì cha ông Đông ngăn cản, không có thưa ra chính quyền địa phương. Đồng thời, ông Đ xác định ranh đất căn cứ vào hàng dừa của ông N đã trồng làm ranh trước đây là chưa phù hợp. Bởi vì, theo Sơ đồ đo đạc thì hàng dừa của ông N trồng không thẳng hàng và việc xác định ranh đất của ông Đ từ mốc M3 đến M9 đã vượt qua một số cây trồng của ông N.
Tại phiên tòa phúc thẩm ông Đ trình bày vào năm 2008 khi ông N xây tường làm hàng rào lưới B40 và trồng dừa xảy ra tranh chấp, việc xảy ra tranh chấp không có khiếu nại đến chính quyền, không được người đại diện của ông N thừa nhận và ông Đ không cung cấp được tài liệu, chứng cứ chứng minh mà chỉ là lời trình bày.
Như vậy, ranh giới quyền sử dụng đất giữa ông Đ với ông N ngay mí hàng rào chạy thẳng ra phía sau hậu là phù hợp với hiện trạng sử dụng từ trước đến nay. Theo Sơ đồ đo đạc thể hiện ranh đất theo bản đồ 299 thì ranh thửa đất 1128 còn nằm bên phần đất của ông Đ, nhưng ông N đồng ý xác định ranh từ mốc M4 đến M8 là hoàn toàn tự nguyện và có lợi cho ông Đ.
Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu của ông Đ xác định ranh đất từ mốc M3 đến M9 là có căn cứ. Ranh giới quyền sử dụng đất giữa thửa đất 1530, tờ bản đồ số 2 của hộ ông Đ với thửa đất 1128, tờ bản đồ số 2 của cụ N4 là đoạn thẳng từ mốc M4 đến M8, theo Sơ đồ đo đạc ngày 10/5/2023 của Công ty TNHH D làm ranh đất giữa hai bên.
Tại phiên tòa phúc thẩm ông Đ không cung cấp thêm tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu kháng cáo của mình là có căn cứ. Do đó, yêu cầu kháng cáo của ông Đ là không có căn cứ chấp nhận.
[3] Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy Tòa án cấp sơ thẩm xét xử là có căn cứ, giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số: 119/2024/DS-ST ngày 02 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Tháp Mười. Tuy nhiên, điều chỉnh cách tuyên án cho phù hợp.
[4] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp, không chấp nhận kháng cáo của ông Đ, giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm là có căn cứ chấp nhận.
[5] Xét ý kiến của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông Đ là không có căn cứ chấp nhận.
[6] Về án phí dân sự phúc thẩm: Do kháng cáo của ông Đ không được chấp nhận nên phải chịu án phí phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
Các phần còn lại của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 và khoản 1 Điều 148 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Nguyễn Tấn Đ.
- Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số: 119/2024/DS-ST ngày 02 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Tháp Mười.
- Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Tấn Đ.
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
- Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và đo đạc: Ông Nguyễn Tấn Đ phải chịu, đã nộp và chi xong.
- Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông Nguyễn Tấn Đ phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm, được khấu trừ 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí kháng cáo đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0011047, ngày 16/8/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp.
Xác định ranh giới quyền sử dụng đất giữa các đương sự như sau:
Ranh giới quyền sử dụng đất giữa thửa đất 1530, tờ bản đồ số 2 của hộ ông Nguyễn Tấn Đ với thửa đất 1128, tờ bản đồ số 2 của cụ Trần Thị N4, đất cùng tọa lạc tại ấp C, xã M, huyện T, tỉnh Đồng Tháp được xác định là đoạn thẳng nối liền từ mốc M4 đến M8, theo Sơ đồ đo đạc ngày 10/5/2023 của Công ty TNHH D.
Ranh đất được sử dụng theo chiều thẳng đứng tính từ lòng đất đến không gian. Tài sản của bên nào vi phạm qua ranh đất phải di dời theo quy định của pháp luật.
Các đương sự có quyền và nghĩa vụ đến cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để kê khai, đăng ký, điều chỉnh lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của mình theo quy định của pháp luật.
(Kèm theo Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 10/5/2023 của Tòa án nhân dân huyện Tháp Mười và Sơ đồ đo đạc ngày 10/5/2023 của Công ty TNHH D).
Ông Nguyễn Tấn Đ phải chịu 300.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu số 0008495, ngày 05/12/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tháp Mười, ông Đ đã nộp xong.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Các phần còn lại của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Chí Dững |
Bản án số 47/2025/DS-PT ngày 07/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP về tranh chấp ranh giới quyền sử dụng đất
- Số bản án: 47/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ranh giới quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 07/02/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Tấn Đ - Trần Văn N
