Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO

TẠI HÀ NỘI


Bản án số 47/2025/DS-PT

Ngày 06/02/2025

V/v tranh chấp lối đi, tranh chấp

quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy

giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc


NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Phan Nam

Các Thẩm phán: Ông Điều Văn Hằng

Ông Phạm Văn Lợi

- Thư ký phiên tòa: Bà Đào Thanh Huyền, Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội;

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội: Ông Nguyễn Huy Hoàng, Kiểm sát viên cao cấp;

Ngày 06 tháng 02 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội tiến hành xét xử công khai vụ án dân sự phúc thẩm thụ lý số: 561/2024/TLPT-DS ngày 14/11/2024 về “Tranh chấp lối đi, tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất” do có kháng cáo của nguyên đơn đối với Bản án dân sự sơ thẩm số 09/2024/DS-ST ngày 23/9/2024 của Toà án nhân dân tỉnh Hà Giang.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 610/2025/QĐPT ngày 20 tháng 01 năm 2025 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ông Hoàng Bình D, sinh năm 1954; Địa chỉ: Số nhà F, đường L, thôn T, thị trấn V, huyện B, tỉnh Hà Giang. Có mặt.

Bị đơn: Ông Hoàng Văn B, sinh năm 1972; địa chỉ: Thôn M, thị trấn V, huyện B, tỉnh Hà Giang. Có mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (gọi tắt là NCQLNVLQ):

  1. Ủy ban nhân dân huyện B, tỉnh Hà Giang; địa chỉ: Tổ D, thị trấn V, huyện B, tỉnh Hà Giang. Vắng mặt.
  2. Bà Nguyễn Thị H; địa chỉ: Thôn M, thị trấn V, huyện B, tỉnh Hà Giang. Có mặt.
  3. Bà Mạc Thị H1, vắng mặt, đã uỷ quyền cho ông Hoàng Đức T ngày 23/8/2024, có mặt; Đều ở địa chỉ: Thôn T, thị trấn V, huyện B, tỉnh Hà Giang.
  4. Ông Đỗ Xuân Q, bà Vũ Thị H2; địa chỉ: Tổ E, thị trấn V, huyện B, tỉnh Hà Giang. Vắng mặt..
  5. Anh Hoàng Văn H3; địa chỉ: Thôn M, thị trấn V, huyện B, tỉnh Hà Giang. Có mặt.
  6. Anh Trần Văn L, chị Bùi Thị L1, bà Bùi Thị L2; địa chỉ: Thôn T, thị trấn V, huyện B, tỉnh Hà Giang; Anh L, chị L1 có mặt, bà L2 vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 17/01/2024, Đơn khởi kiện bổ sung ngày 01/4/2024 các bản tự khai, biên bản lấy lời khai, biên bản hoà giải, nguyên đơn ông Hoàng Bình D, người đại diện theo uỷ quyền của ông D, anh Hoàng Đức T và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là bà Mạc Thị H1 trình bày:

Năm 2011, gia đình ông D có nhận chuyển nhượng của bà Nguyễn Thị T1 (đã chết năm 2015), địa chỉ: Tổ A, thị trấn V thửa đất số 11, tờ bản đồ 129, bản đồ địa chính thị trấn V năm 2003, diện tích đất: 10.229,9m², loại đất trồng cây lâu năm (đất đồi trồng chè), đã được Uỷ ban nhân dân (gọi tắt là UBND) huyện B cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (gọi tắt là GCNQSDĐ) số BH 755565 ngày 30/12/2011, theo hợp đồng chuyển nhượng ngày 30/12/2011 lập tại UBND thị trấn V, huyện B, tỉnh Hà Giang.

Gia đình ông Hoàng Văn B, địa chỉ: Thôn M, thị trấn V cũng có đất trồng chè chung với đồi đất nhà ông D đã mua của bà T1. Năm 2011, sau khi mua đất của bà T1, ông D có đến nhà ông B, thoả thuận với vợ chồng ông B là nhà ông D sẽ thuê máy xúc đào đất đồi chè của cả nhà ông B và nhà ông D tạo mặt bằng, nhà ông B sẽ bỏ đất ra để làm đường đi chung của hai nhà, có chiều rộng 8 mét, chiều dài từ đường dân sinh của thôn đi qua đất nhà ông B lên đất nhà ông D. Vợ chồng ông B đồng ý, hai bên có lập văn bản cam kết đề ngày 15/5/2011. Sau đó, ông D đã thuê máy xúc đào đồi nhà ông D và ông B theo thoả thuận, nhà ông B đã bỏ đất mà ông D đã san ủi để làm đường, nhưng ông B chỉ bỏ ra 6m chiều rộng đường, không bỏ ra 8m theo đúng như thoả thuận giữa hai bên.

Năm 2013, vợ chồng ông D kê khai và được UBND huyện B cấp GCNQSDĐ số BH 755579 ngày 22/5/2013 đổi từ bà T1 sang tên vợ chồng ông Hoàng Bình D và vợ là Mạc Thị H1.

Năm 2014, gia đình ông B cũng được cấp GCNQSDĐ số BT 959824 do UBND huyện B cấp ngày 22/12/2014. Khi nhà ông B làm hồ sơ cấp GCNQSDĐ nói trên, do không biết rõ ranh giới đất của gia đình đã mua của bà T1 nên ông D có ký giáp ranh vào biên bản xác định ranh giới trong hồ sơ cấp GCNQSDĐ nhà ông B. GCNQSDĐ số BT 959824 của vợ chồng ông B đã chồng lấn lên GCNQSDĐ số BH 755579 của vợ chồng ông D mà gia đình ông D không biết.

Tháng 4/2015, gia đình ông D có cho anh Phùng Trung K (không biết địa chỉ hiện nay ở đâu) thuê đất để làm sân bóng cỏ nhân tạo. Khi làm sân theo tiêu chuẩn, do bị thiếu đất nên anh K có thuê thêm đất mà nhà ông B quản lý (phần đất này thực ra đã nằm trong GCNQSDĐ số BH 755579 của vợ chồng ông D) để làm sân bóng.

Năm 2018, gia đình ông B có ý định bán cho gia đình ông D phần đất mà anh K đã thuê, nhưng khi xem lại bản đồ, GCNQSDĐ của gia đình, ông D phát hiện ra diện tích đất ông D định mua của ông B đã nằm trong GCNQSDĐ mà nhà ông D đã được cấp. Sau đó, nhà ông B đã bán cho bà Bùi Thị L2 dẫn đến ba gia đình đã xảy ra mâu thuẫn, tranh cãi nhau phần diện tích đất bị chồng lấn. Ngày 5/5/2022, UBND thị trấn V công khai kết quả đo đạc, chỉnh lý bản đồ địa chính tại thôn T, M thì gia đình ông D biết rõ diện tích đất bị chồng lấn giữa 2 GCNQSDĐ nhà ông D và ông B. Gia đình ông D đã làm đơn đề nghị thôn, thị trấn V tiến hành hoà giải nhưng không thành.

Nay ông D khởi kiện đến Toà án đề nghị:

  1. Huỷ GCNQSDĐ số BT 959824 do UBND huyện B cấp ngày 22/12/2014 cho vợ chồng ông Hoàng Văn B, bà Nguyễn Thị H (gọi tắt là GCNQSDĐ số BT 959824) vì không cấp đúng ranh giới;
  2. Buộc gia đình ông B, bà H phải trả lại 2 mét đất chiều rộng, dài 43,9m, tổng diện tích 87,8m², nằm trong 2 thửa 263, 264 GCNQSDĐ số BT 959824 của vợ chồng ông B, bà H theo như hai bên đã thỏa thuận.

Bị đơn là ông Hoàng Văn B và người có QLNVLQ bà Nguyễn Thị H trình bày: Khu đất đang tranh chấp có nguồn gốc là do ông Hoàng Văn T2, bà Nguyễn Thị L3 (bố mẹ của ông B) khai phá và chia cho vợ chồng ông B năm 1993, khi đó là đất đồi trồng chè. Năm 2011, ông D mua đất của bà T1 (nhưng thực tế ông bà thấy ông X (đã chết) quản lý và trực tiếp bán cho vợ chồng ông D) liền kề với đất đồi nhà ông B.

Vì ông D mua đất đồi không có lối vào nên vợ chồng ông D có đến nhà thoả thuận với ông B để ông D thuê máy xúc san đất đồi cho nhà ông B tạo mặt bằng, nhà ông B bỏ đất để làm đường đi qua đất nhà ông B vào đất nhà ông D có chiều rộng 8m, chiều dài hết đất nhà ông B, hai bên lập văn bản thoả thuận ngày 15/5/2011. Tuy nhiên, sau khi san ủi xong ông D cho rằng đường 8m rộng quá nên đã đến nhà ông B trao đổi chỉ cần để đường 6m, còn lại 2m trả lại nhà ông B. Ông B đề nghị làm lại thoả thuận, ông D có nói là không cần, hai bên tin tưởng là được. Sau đó, ông B trồng hàng chuối làm mốc, xác định đường đi rộng 6m theo lời ông D. Mấy năm sau, gia đình ông B xây tường rào như hiện nay và khi đề nghị cấp GCNQSDĐ, nhà ông B đã để ra con đường rộng 6m, không cho vào GCNQSDĐ của nhà ông B. Năm 2015, Công ty N1 thuê đất nhà ông D, đưa điện cao thế vào sân bóng nên có chôn cột điện vào ranh giới đất nhà ông B và con đường như hiện nay. Nhà ông D thường xuyên đi lại trên đường từ năm 2011 đến nay, không có ý kiến gì về con đường mà nhà ông B đã làm. Năm 2024, khi UBND thị trấn V hỗ trợ thôn M làm đường giao thông nông thôn, nhà nước và nhân dân cùng làm, con đường đã được đổ bê tông, gia đình ông D cũng tham gia đóng góp làm đường.

Phần đất bị cấp chồng trong GCNQSDĐ giữa nhà ông D và ông B có nguồn gốc trước đây là đất đồi trồng chè giáp ranh giữa nhà bà T1 (ông X) với nhà ông B. Sau khi nhà ông D mua đất của bà T1, ông D và ông B thoả thuận san ủi đất nên ông D đã san toàn bộ khu đồi chung của hai gia đình. Năm 2014, gia đình ông B kê khai để xin cấp GCNQSDĐ, gia đình ông B đã xin chữ ký của các hộ giáp ranh trong đó có nhà ông D, bà H1 vợ ông D đã chứng kiến việc xác định ranh giới giữa hai nhà, không có ý kiến gì.

Năm 2015, ông D cho anh Phùng Trung K (hiện không xác định được địa chỉ) thuê đất làm sân bóng cỏ nhân tạo, nhưng phần đất của nhà ông D không đủ để làm sân nên ông D giới thiệu anh K sang thuê thêm đất nhà ông B để làm sân. Ngày 03/5/2015, ông B đã cho anh K thuê đất 10 năm, số tiền 10.000.000 đồng, trả trước 5.000.000 đồng, hết thời gian thuê trả nốt số tiền còn lại, hai bên làm giấy cho thuê đất và anh K đã trả cho ông B số tiền 5.000.000 đồng theo thoả thuận. Sau một thời gian kinh doanh sân bóng, anh K bàn giao lại sân bóng cho Công ty N1 (cụ thể bà Trần Thị V, địa chỉ: Thôn P, xã Q, huyện B là người trực tiếp nhận lại sân bóng), ông B trực tiếp trao đổi với bà V và anh K việc anh K thuê đất của nhà ông B làm sân bóng để anh K bàn giao lại việc thuê đất cho bà V. Bà V nhất trí trả tiền thuê sân cho nhà ông B. Vài năm sau, việc kinh doanh sân bóng không hiệu quả, bà V trả lại sân cho ông D, gia đình ông B cũng muốn lấy lại phần đất cho thuê. Khi đó, anh T con trai ông D đề nghị nhà ông B để nguyên sân bóng để nhà anh T thuê hoặc mua nhưng sau đó anh T nói không đủ tiền mua và bảo gia đình ông B bán cho người khác. Khoảng năm 2020, gia đình ông B tách thửa đất 263 thành nhiều thửa để chuyển nhượng và tặng cho con, cháu. Trong đó thửa 284, vợ chồng ông B tặng cho con trai là Hoàng Văn H3, thửa 282 và 283 tặng cho cháu (con anh trai ông B) tên Hoàng Văn N. Sau đó, con trai ông B (anh H3) đã bán cho bà Bùi Thị L2, thôn T, thị trấn V thửa đất 284 nhưng chỉ viết giấy viết tay, chưa công chứng chứng thực; anh Hoàng Văn N đã chuyển nhượng cho vợ chồng anh Đỗ Xuân Q, chị Vũ Thị H2, địa chỉ: Tổ E, thị trấn V, huyện B, tỉnh Hà Giang, anh Q chị H2 đã có GCNQSDĐ mang tên hai vợ chồng.

Năm 2023, cơ quan địa chính xuống đo đạc lại đất để đối chiếu với GCNQSDĐ của công dân trên địa bàn phát hiện 8m đất của gia đình ông B đang bị chồng chéo lên GCNQSDĐ nhà ông D bà H1.

Nay ông B không đồng ý với toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông D vì đường đi là do ông D tự nguyện để lại 2m chiều rộng của đường cho nhà ông B; diện tích đất chồng lấn của 2 GCNQSDĐ nhà ông D và nhà ông B do nhà ông B quản lý, sử dụng từ xưa đến nay, nhà ông D chưa bao giờ sử dụng diện tích đất đó. Ông B có yêu cầu phản tố, đề nghị Toà án huỷ GCNQSDĐ số BH 755579 cấp ngày 22/5/2013 cho ông Hoàng Bình D, bà Mạc Thị H1 và yêu cầu ông Hoàng Bình D phải tháo dỡ một phần ngôi nhà tạm đã xây dựng lên đất nằm trong GCNQSD đất số: O 734786 do UBND huyện B cấp ngày 16/10/2000 cho hộ Hoàng Văn B tại thửa số 69 có diện tích khoảng 45m² để trả lại cho ông diện tích đất nói trên.

Người có QLNVLQ Ủy ban nhân dân huyện B tại Văn bản số 2793/UBND-VP ngày 04/7/2024 có ý kiến: UBND huyện B cấp GCNQSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho ông Hoàng Bình D, bà Mạc Thị H1; ông Hoàng Văn B, bà Nguyễn Thị H là đúng thẩm quyền theo quy định tại Điều 105 Luật đất đai 2013. Việc lập hồ sơ công nhận quyền sử dụng đất, chuyển nhượng quyền sử dụng đất được lập theo đúng trình tự, thủ tục quy định tại Điều 100, 101 Luật đất đai 2013. Yêu cầu khởi kiện của ông D về việc huỷ GCNQSDĐ của ông Hoàng Văn B, bà Nguyễn Thị H là không có căn cứ. Đề nghị Toà án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Tại Văn bản số 3835/UBND-TNMT ngày 06/9/2024 (BL 254) về việc trình bày ý kiến về việc cấp GCNQSDĐ lần đầu cho bà Nguyễn Thị T1 (là người đã chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho ông D, bà H1) tại GCNQSDĐ số BH 755565 cấp ngày 30/12/2011, UBND huyện B có ý kiến: UBND huyện B cấp GCNQSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho bà Nguyễn Thị T1 là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 2 Điều 52 Luật đất đai 2003. Việc lập hồ sơ công nhận quyền sử dụng đất, cấp GCNQSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất được lập theo đúng trình tự, thủ tục quy định tại Nghị định số 88/2009/NĐ-CP ngày 19/10/2009 của Chính phủ. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện lập hồ sơ cấp GCNQSDĐ cho bà T1 còn thiếu: Biên bản niêm yết công khai hồ sơ cấp GCNQSDĐ; Bản tự khai nguồn gốc nhà đất, Biên bản xác minh hồ sơ, tổ trưởng tổ dân phố chưa ký, các hộ liền kề, giáp ranh không ký xác nhận đầy đủ.

Tại Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 15/8/2024, xác định: Khu vực đất có tranh chấp thuộc thôn M, thị trấn V, huyện B, tỉnh Hà Giang.

  1. Đối với đường đi: Hiện trạng là 1 đường bê tông có chiều rộng mặt đường bê tông là 3m, bề rộng nền đường là 6m, đường bê tông mới đổ vào tháng 7/2024.
  2. Người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn anh T chỉ dẫn phần đất anh T cho rằng hai hộ thống nhất làm đường nhưng khi làm đường hiện nay không vào khu vực đất mà hai bên đã thoả thuận làm đường. Nay anh T chỉ dẫn vào đúng vị trí hai bên đã thoả thuận làm đường. Anh T chỉ dẫn (ký hiệu T) gồm 7 điểm, từ điểm T1 đến T7 khép về T1.

    Bị đơn ông Hoàng Văn B chỉ dẫn theo đường đi hiện trạng con đường đi hiện nay (đường rộng 6m), phần đất 2m tranh chấp, ông B xác định tính từ cột điện dọc theo tường xây của hộ gia đình ông B trở vào nhà ở của ông B. Ông B cho rằng đường đi hiện nay chính là con đường hai bên đã thoả thuận làm đường. Ông B chỉ dẫn gồm 6 điểm, từ B1 đến B6 khép về B1.

  3. Đối với diện tích đất nằm trong 2 GCNQSDĐ số BH 755579 cấp ngày 22/5/2013 cho ông Hoàng Bình D, bà Mạc Thị H1 và GCNQSDĐ số BT 959824 do UBND huyện B cấp ngày 22/12/2014 cho vợ chồng ông Hoàng Văn B, bà Nguyễn Thị H:
    • Anh Hoàng Đức T chỉ dẫn toàn bộ đất nằm trong GCNQSDĐ số BH 755579 cấp ngày 22/5/2013 cho ông Hoàng Bình D, bà Mạc Thị H1 (ký hiệu D) gồm 32 điểm, từ điểm D1 đến điểm D32 khép về D
    • Ông Hoàng Văn B chỉ dẫn toàn bộ diện tích đất nằm trong GCNQSDĐ số BT 959824 do UBND huyện B cấp ngày 22/12/2014 cho vợ chồng ông Hoàng Văn B, bà Nguyễn Thị H (ký hiệu H) chỉ dẫn 11 điểm từ điểm H1 đến điểm H11 khép về H1.

    Có mảnh trích đo địa chính kèm theo.

  4. Về tài sản, cây cối trên đất:
  5. 3.1 Về đường đi:

    • Đường đi hiện tại: cây cối hoa màu ở lề đường gồm: 12 cây chuối con; 06 cây chuối tơ.
    • Đối với phần đất ông T cho là lối đi: 03m² cây sắn; 78 cây chuối con; 06 cây chuối tơ; 01 cây mít (D=20cm); 05 cây tùng (D=10cm); 02 cây tùng (D =7cm); tường xây gạch bê tông không trát dài 18,2m, cao 0,9m, diện tích 16,38m². Ông B cho rằng tường trên do bà L2 xây dựng, ông T không biết tường do ai xây.

    3.2. Về phần đất bị chồng lấn: 15 cây chối con; 07 cây chuối tơ; 01 cột điện bê tông cốt thép cao 8m; sân bê tông sỏi đá răm (sân đá bóng) dài 12,5m, rộng 4,45m, diện tích 5,56m²; tường xây gạch bê tông không trát dài 7m, cao 0,5m, diện tích 3,5m²; thảm cỏ nhân tạo (sân bóng đá), dài 12,5m, rộng trung bình 4,45m, diện tích 55,6m².

    3.3. Ông B chỉ dẫn và cho rằng gia đình ông D đã làm 01 ngôi nhà lợp tôn, bán mái vào đất nằm trong GCNQSDĐ số O 734786 do UBND huyện B cấp ngày 16/10/2000 cho hộ ông Hoàng Văn B gồm: Bán mái cột sắt vì kèo sắt hộp, láng nền xi măng, mái lợp tôn thường dài 8m, rộng 5,5m, diện tích 44m².

Tại Biên bản định giá tài sản ngày 15/8/2024, Hội đồng định giá xác định:

  • Về đất: Tại thời điểm định giá trên địa bàn không có giao dịch chuyển nhượng QSDĐ đối với loại đất trồng cây lâu năm nên Hội đồng định giá lấy giá theo Quyết định 28/2019/QĐ-UBND của UBND tỉnh H là 66.000 đồng/m².
  • Về tài sản trên đất:
    • Về cây cối: Quyết định 1354/2019 của UBND tỉnh H đã hết hiệu lực chưa có văn bản thay thế, không có việc chuyển nhượng trên thị trường để tham khảo nên không có cơ sở định giá.
    • Về tài sản, vật kiến trúc: Tổng giá trị còn lại của tài sản là 15.858.768đ.

Tại mảnh trích đo địa chính số TĐ- 2014 ngày 05/9/2024 của Văn phòng Đ (gọi tắt là VPĐKĐĐ) chi nhánh huyện B đã lồng ghép lên các GCNQSDĐ được cấp, xác định:

- Đoạn đường mà người đại diện theo uỷ quyền của ông D chỉ dẫn yêu cầu ông B phải mở rộng đường chồng lấn lên các GCNQSDĐ cụ thể:

  • Thửa 300 (GCNQSDĐ số CU 085108 do Sở TN&MT tỉnh H cấp ngày 18/8/2020 mang tên Trần Văn L, Bùi Thị L1) diện tích 46,5m² tại các điểm từ T1, T1', T8', T8 khép về T1;
  • Thửa 301 (GCNQSDĐ số BT 959824 của vợ chồng ông B) diện tích 6,9m² tại các điểm T8, T8', T7', T7 khép về T8;
  • Thửa 283 (GCNQSDĐ số CR 440916 do Sở TN&MT tỉnh H cấp ngày 05/6/2020 mang tên Đỗ Xuân Q, Vũ Thị H2) diện tích 19,4m² tại các điểm từ T7,T7',T6',T6 khép về T7;
  • Thửa 284 (GCNQSDĐ số CU 085107 do Sở TN&MT tỉnh H cấp ngày 18/8/2020 mang tên Hoàng Văn H3) diện tích 46,5m² tại các điểm từ T6,T6',T4',T5 khép về T6.

Tổng diện tích đất mà anh T yêu cầu ông B phải trả làm đường là 119,3m²·

- Diện tích đất chồng lấn giữa GCNQSDĐ số BT 959824 của vợ chồng ông Hoàng Văn B và GCNQSDĐ số BH 755579 của vợ chồng ông D, bà H1 cụ thể như sau:

GCNQSDĐ số BH 755579 của ông Dựng GCNQSDĐ số BT 959824 của ông Binh Diện tích đất chồng lấn (m²) Điểm chồng lấn
Thửa 11 Thửa 282 GCNQSDĐ số CR 440916 mang tên anh Quang, chị Huyền 10,7 A,G,F,B
Thửa 11 Thửa 284 GCNQSDĐ số CU 085107 mang tên anh Hùng 83,8 B,C,D,E,F
Thửa 108 Thửa 284 GCNQSDĐ số CU 085107 mang tên anh Hùng 60,6 J,K,L,M
Thửa 108 Thửa 264 40,5 P,Q,R,S
Đường Thửa 282 GCNQSDĐ số CR 440916 mang tên anh Quang, chị Huyền 2 I,H,G,F
Đường Thửa 283 GCNQSDĐ số CR 440916 mang tên anh Quang, chị Huyền 1,1 I,H,J
Đường Thửa 284 GCNQSDĐ số CU 085107 mang tên anh Hùng 39,8 E,F,I,J,K
Thửa 108 Đường 27,4 P,Q,N,O
108 rãnh 10,4 M,N,O,L
Cộng 276,3

Tại buổi tiếp cận công khai chứng cứ và hoà giải lần 1 ngày 29/8/2024, người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn anh Hoàng Đức T giữ nguyên nội dung yêu cầu khởi kiện về việc đề nghị Toà án buộc ông B, bà Hoàn trả lại 2m chiều rộng của đường, chiều dài 43,7m; huỷ GCNQSDĐ số BT 959824 do UBND huyện B cấp ngày 22/12/2014 cho vợ chồng ông Hoàng Văn B, bà Nguyễn Thị H.

Bị đơn ông Hoàng Văn B không đồng ý với toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông D. Ông B có yêu cầu phản tố, đề nghị Toà án huỷ GCNQSDĐ số BH 755579 cấp ngày 22/5/2013 cho ông Hoàng Bình D, bà Mạc Thị H1. Lý do: GCNQSDĐ của ông D không đúng ranh giới sử dụng. Bà H nhất trí quan điểm của ông B.

Ông Trần Lệnh T3 là người đại diện theo uỷ quyền của UBND huyện B có ý kiến: Việc cấp GCNQSDĐ số BT 959824 do UBND huyện B cấp ngày 22/12/2014 cho vợ chồng ông Hoàng Văn B, bà Nguyễn Thị H là đúng trình tự, thẩm quyền. Đối với yêu cầu huỷ GCNQSDĐ số BH 755579 cấp ngày 22/5/2013 cho ông Hoàng Bình D, bà Mạc Thị H1 UBND huyện B sẽ có ý kiến sau do nội dung này mới phát sinh, đại diện UBND huyện B chưa chuẩn bị được tài liệu, chứng cứ để trình bày quan điểm.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là anh Hoàng Văn H3 và vợ chồng ông Đỗ Xuân Q bà Vũ Thị H2 (là chủ thửa đất 282, 283, 284 đang bị chồng lấn với thửa 11 và thửa 108 GCNQSDĐ của vợ chồng ông D), bà Bùi Thị L2, anh Trần Văn L, chị Bùi Thị L1 có diện tích đất ông D yêu cầu ông B mở đường không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của ông D, không có yêu cầu độc lập. Bà L2 có ý kiến: Khi bà mua đất của anh H3, bà H1 vợ ông D là người chỉ ranh giới quyền sử dụng đất giữa nhà ông D và anh H3 nên bà tin tưởng mới mua thửa đất trên.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 09/2024/DS-ST ngày 23/9/2024 của Toà án nhân dân tỉnh Hà Gianh đã quyết định:

Áp dụng khoản 9 Điều 26, Điều 34, Điều 37, Điều 39, Điều 147, Điều 157, Điều 165 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 32 Luật Tố tụng hành chính; Điều 50, 52 Luật đất đai 2003; Nghị định số 181/2004 ngày 29/10/2004 của Chính phủ; Điều 95, 101, 105 Luật đất đai 2013, Nghị định số 43/2014 ngày 15/5/2014 của Chính phủ; Điều 14, Điều 18 Nghị định số 88/2009/NĐ-CP ngày 19/10/2009 của Chính phủ về cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất; khoản 1 Điều 8 Thông tư số 24/2014/TT-BTNMT ngày 19/5/2014 của Bộ T8 quy định về hồ sơ địa chính; điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 6 Điều 15 Nghị quyết số 326/2016 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Hoàng Bình D về việc buộc ông Hoàng Văn B phải trả 119,3m² đất làm đường và huỷ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
  2. Giữ nguyên GCNQSDĐ số BT 959824 ngày 22/12/2014 của UBND huyện B cấp cho ông Hoàng Văn B, bà Nguyễn Thị H.

  3. Huỷ GCNQSDĐ số BH 755579 do UBND huyện B cấp cho ông Hoàng Bình D, bà Mạc Thị H1.
  4. Ông Hoàng Bình D, bà Mạc Thị H1 có quyền đề nghị UBND huyện B cấp lại GCNQSDĐ theo quy định của pháp luật.

Ngoài ra Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên về án phí, chi phí tố tụng, quyền kháng cáo, quyền và nghĩa vụ thi hành án.

Ngày 04/10/2024, ông Hoàng Bình D có đơn kháng cáo toàn bộ bản án dân sự sơ thẩm

Tại phiên tòa phúc thẩm, các đương sự vẫn không thống nhất được với nhau về việc giải quyết vụ án. Nguyên đơn là ông Hoàng Bình D không rút đơn khởi kiện, giữ nguyên yêu cầu kháng cáo; về cơ bản vẫn giữ nguyên quan điểm như đã trình bày tại Tòa án cấp sơ thẩm, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo, sửa bản án sơ thẩm.

Bị đơn là ông Hoàng Văn B1 về cơ bản giữ nguyên quan điểm đã trình bày tại Tòa án cấp sơ thẩm và đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là UBND huyện B, bà Nguyễn Thị H, bà Mạc Thị H1, ông Đỗ Xuân Q, anh Hoàng Văn H3, anh Trần Văn L, chị Bùi Thị L1, bà Bùi Thị L2 về cơ bản vẫn giữ nguyên quan điểm như đã trình bày tại Tòa án cấp sơ thẩm, đề nghị Hội đồng xét xử theo quy định pháp luật.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội trình bày quan điểm về việc giải quyết vụ án: Đơn kháng cáo của ông Hoàng Bình D trong thời gian luật định nên hợp lệ. Quá trình giải quyết vụ án tại cấp phúc thẩm, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Về nội dung, kháng cáo của ông Hoàng Bình D là không có căn cứ chấp nhận. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự xử không chấp nhận kháng cáo của ông Hoàng Bình D và giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định.

[1]. Về tố tụng:

[1.1] Ngày 04/10/2024, ông Hoàng Bình D có đơn kháng cáo là trong hạn luật định nên đủ điều kiện xem xét theo thủ tục phúc thẩm.

[1.2]. Ngày 17/01/2024, ông Hoàng Bình D có đơn khởi kiện đến Tòa án yêu cầu Toà án buộc ông Hoàng Văn B phải trả lại một phần đất đường đi có chiều rộng 2 mét, diện tích 119,3 m² và yêu cầu huỷ GCNQSDĐ số BT 959824 do UBND huyện B cấp ngày 22/12/2014 cho vợ chồng ông Hoàng Văn B, bà Nguyễn Thị H. Toà án cấp sơ thẩm xác định quan hệ pháp luật tranh chấp là “Tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy GCNQSDĐ” để thụ lý, giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 9 Điều 26, Điều 34, Điều 37 Bộ luật Tố tụng dân sự và Điều 32 Luật tố tụng hành chính.

[1.3] Bị đơn ông Hoàng Văn B có Đơn yêu cầu phản tố, yêu cầu Toà án huỷ GCNQSDĐ số BH 755579 cấp ngày 22/5/2013 cho ông Hoàng Bình D, bà Mạc Thị H1; buộc ông Hoàng Bình D phải tháo dỡ một phần ngôi nhà tạm đã xây dựng lên đất nằm trong GCNQSD đất số O 734786 do UBND huyện B cấp ngày 16/10/2000 cho hộ Hoàng Văn B tại thửa số 69 có diện tích khoảng 45m² để trả lại cho ông diện tích đất nói trên. Căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 200 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án cấp sơ thẩm xác định yêu cầu huỷ GCNQSDĐ của ông B là quan hệ hành chính, không phải là quan hệ dân sự nên không được xác định là yêu cầu phản tố; và theo quy định tại Điều 34 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì Toà án có quyền huỷ Quyết định hành chính cá biệt trái pháp luật mà không phụ thuộc vào việc có hay không có yêu cầu của đương sự. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm xem xét yêu cầu huỷ GCNQSDĐ của ông B về trình tự, thủ tục cấp GCNQSDĐ của ông Hoàng Bình D, bà Mạc Thị H1 theo quy định của pháp luật là đúng. Đối với yêu cầu phản tố của ông B buộc ông D phải trả lại diện tích đất ở 1 vị trí khác, nằm trong GCNQSDĐ khác của gia đình ông B, không liên quan đến 2 GCNQSDĐ mà nguyên đơn đang yêu cầu giải quyết, không bù trừ nghĩa vụ, không loại trừ việc chấp nhận hay không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, không có sự liên quan đến nhau, nên Toà án cấp sơ thẩm xác định yêu cầu này của ông B không phải là yêu cầu phản tố nên không xem xét giải quyết là đúng.

[1.4] Tại phiên tòa phúc thẩm, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là Ủy ban nhân dân huyện B, ông Đỗ Xuân Q và bà Vũ Thị H2 có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bà Bùi Thị L2 ủy quyền cho anh Trần Văn L. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự nêu trên theo quy định tại Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Xét kháng cáo của ông Hoàng Bình D thì thấy:

[2.1] Về yêu cầu khởi kiện buộc ông Hoàng Văn B phải trả lại một phần đất đường đi có chiều rộng 2 mét, diện tích 119,3m² tại thôn M, thị trấn V, huyện B, tỉnh Hà Giang.

[2.1.1] Nguyên đơn và bị đơn đều thừa nhận có cùng nhau lập Văn bản cam kết ngày 15/5/2011, thỏa thuận: Ông Binh cắt đất đồi chè có chiều rộng 8 mét, chiều dài hết phần đất tiếp giáp với đất nhà ông X (hiện tại) để làm đường đi giữa quả đồi sau nhà thông sang đất nhà ông D, bà H1; ông D chịu trách nhiệm san ủi hai bên đường tạo mặt bằng; hai gia đình được quyền sử dụng con đường này, có xác nhận của Ban quản lý thôn ông Hoàng Trung T4 (BL22). Sau khi thoả thuận, ông B đã bỏ đất ra làm đường và ông D đã tiến hành san ủi tạo ra con đường đi mà 02 gia đình đã sử dụng từ năm 2011 đến nay. Năm 2013, gia đình ông B kê khai cấp GCNQSDĐ có để lại con đường đi; ông D có ký vào Bản mô tả ranh giới, mốc giới thửa đất ngày 15/11/2014 (BL68). Năm 2024, UBND huyện B đã hỗ trợ xi măng đổ con đường xi măng có chiều rộng 3 mét, chiều dài đi qua đất nhà ông B sang đất nhà ông D.

[2.1.2] Theo Biên bản làm việc ngày 16/8/2024, với ông Hoàng Trung T4 (BL 215), ông T4 xác nhận có được làm chứng nội dung thoả thuận làm đường giữa vợ chồng ông D và vợ chồng ông B; với ông Hoàng Xuân T5 (Trưởng thôn Minh T6 –BL216), ông T5 cho biết ông không nắm được nội dung thoả thuận làm đường giữa ông D và ông B, khoảng năm 2011, ông D san ủi đất của nhà B rồi cùng nhau làm đường đi từ đường dân sinh lên đất ông D hiện nay. Sau khi san ủi đất, ông D cho anh Phùng Trung K thuê đất làm sân bóng, anh K dựng một cột điện sát mép đường đi mà ông D và ông B cùng nhau làm nên. Sau đấy, ông B xây tường bao bằng gạch bê tông bám vào mép ngoài cùng cột điện. Kể từ khi anh K dựng cột điện, ông B xây tường rào, gia đình ông D thường xuyên qua lại con đường nhưng không có ý kiến gì.

[2.1.3] Theo Biên bản xác minh ngày 21/8/2024 (BL225-227), ông Nguyễn Hoàng L4 (cán bộ địa chính thị trấn V) cho biết: UBND thị trấn không nhận được đề nghị xác nhận gì về lối đi mà ông D và ông B tự mở năm 2011. Kể từ khi hai gia đình ông D và ông B làm lối đi đến trước năm 2024, UBND thị trấn chưa nhận được đơn đề nghị giải quyết tranh chấp về lối đi này. Thực hiện chủ trương hỗ trợ xi măng để người dân làm đường bê tông trong các thôn thì tháng 6/2024, UBND thị trấn nhận được đơn của ông D đề nghị tạm dừng thi công con đường đang tranh chấp nêu trên để chờ kết quả giải quyết tranh chấp tại Toà án. UBND thị trấn V tiến hành kiểm tra tại thực địa xác định đoạn đường bê tông mà UBND thị trấn hỗ trợ không nằm trong phần diện tích đất có tranh chấp. Ban Q1 đã họp thôn, đăng ký với UBND thị trấn V xi măng đổ đường có chiều rộng là 3 mét, dày 16cm. Do vậy, UBND thị trấn vẫn tiến hành cho nhân dân làm con đường bê tông như hiện nay.

[2.1.4] Tại Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 15/8/2024, con đường hiện nay được đổ bê tông có chiều rộng 3 mét, hai bên đường bê tông mỗi bên vẫn còn rộng 1,5 mét không sử dụng đến. Theo Quyết định số 20/2020/QĐ-UBND ngày 19/9/2020 của UBND tỉnh H thì đường giao thông nông thôn loại bê tông tối thiểu là 1,5 m, tối đa là 3,5 m. Tại phiên toà sơ thẩm, người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn (ông T) thừa nhận con đường đi hiện nay đã đảm bảo cho việc đi lại của gia đình ông D, không bị cản trở gì, chỉ vì hai gia đình có mâu thuẫn về việc chồng chéo GCNQSDĐ nên ông D mới yêu cầu ông B phải trả thêm đất làm đường theo thoả thuận của hai nhà trước đó.

Như vậy, tuy ông D và ông B có thoả thuận ông B cắt đất để làm đường rộng 8 m, nhưng khi làm đường cả ông D và ông B cùng nhau làm con đường chỉ rộng 6 m; từ năm 2011 đến nay, gia đình ông D thường xuyên qua lại trên con đường, nhà ông B đã xây tường rào giáp đường, ông D biết rõ nhưng không có ý kiến gì và có ký vào Bản mô tả ranh giới, mốc giới thửa đất ngày 15/11/2014 xác định “Đường đất rộng 4,5m” là đã chấp nhận việc thay đổi thỏa thuận của ông B bỏ ra 6 m đất để làm đường như ông B khai. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông D về việc buộc ông B trả đất để làm đường là có căn cứ, nên không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của ông D về vấn đề này.

[2.2] Về yêu cầu huỷ GCNQSDĐ số BT 959824 ngày 22/12/2014 của UBND huyện B cấp cho ông Hoàng Văn B, bà Nguyễn Thị H.

[2.2.1] Trên cơ sở Đơn đề nghị cấp GCNQSDĐ ngày 06/12/2014 của ông Hoàng Văn B, P lấy ý kiến khu dân cư ngày 04/12/2014, Biên bản kiểm tra hồ sơ ngày 06/12/2014, Bản mô tả ranh giới, mốc giới thửa đất ngày 15/11/2014, Thông báo công khai công nhận QSDĐ ngày 17/11/2014, Biên bản kết thúc công khai ngày 05/12/2014, UBND huyện B ban hành Quyết định số 6715/QĐ-UBND ngày 22/12/2014 cấp GCNQSDĐ số BT 959824 cho ông Hoàng Văn B, bà Nguyễn Thị H đối với thửa đất số 263, diện tích 1.735m² và thửa đất số 264, diện tích 926m², có địa chỉ: thôn M, thị trấn V, huyện B, tỉnh Hà Giang là đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định tại Điều 105 Luật đất đai năm 2013, Điều 70 Nghị định 43/2014 của Chính phủ, Thông tư 24/2014 ngày 19/5/2014, khoản 1 Điều 8 Thông tư 24/2014/TT-BTNMT ngày 19/5/2014 của Bộ T8 về trình tự thủ tục cấp GCNQSDĐ.

[2.2.2] Ông B1 cho rằng vợ chồng ông D không sử dụng phần đất có chồng chéo GCNQSDĐ, thể hiện bằng việc khi anh Phùng Trung K thuê đất nhà ông D bị thiếu, đã thuê thêm đất của vợ chồng ông B để làm sân bóng và xuất trình Hợp đồng thuê đất lập ngày 03/5/2015 giữa ông Phùng Trung K và ông Hoàng Văn B (BL 96), nội dung: "Cùng thống nhất nội dung là cho thuê diện tích đất sát với diện tích đất của ông Hoàng Bình D (hiện nay đã cho anh Phùng Trung K thuê). Cụ thể diện tích đất liền kề phía ngoài, tính từ đất của ông D là 8 mét." Lời khai của ông B1 phù hợp với lời khai của bà Nguyễn Thị L3 (mẹ đẻ ông Hoàng Văn B, BL218-219), bà Bùi Thị L2 có nhà ở sát với khu vực đất tranh chấp, là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án (BL220-221), bà Trần Thị V, thôn P, xã Q, huyện B (BL 213) tại các Biên bản làm việc ngày 16/8/2024; các Biên bản kiểm tra hồ sơ (BL100), phiếu lấy ý kiến khu dân cư (BL103), Biên bản xác minh hồ sơ BL 106) và Bản mô tả ranh giới, mốc giới thửa đất ngày 15/11/2014 (BL101) có chữ ký của ông Hoàng Bình D vào mục hộ sử dụng đất liền kề trong hồ sơ cấp đất của vợ chồng ông B. Vợ chồng ông D, bà H1 khi nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất từ bà T1, không được bà T1 giao phần đất hiện có chồng chéo GCNQSDĐ của ông B. Ông D và người đại diện theo uỷ quyền của ông D trong quá trình tố tụng và tại phiên toà sơ thẩm cho rằng chữ ký, chữ viết trong các biên bản lưu trong hồ sơ cấp GCNQSDĐ của nhà ông B không phải chữ ký, chữ viết của ông D nhưng không có đề nghị giám định chữ ký, chữ viết và không đưa ra được tài liệu chứng cứ nào chứng minh phần đất đang tranh chấp là của ông D.

[2.2.3] Xét thấy diện tích đất bị chồng chéo giữa 2 GCNQSDĐ số BH 755579 của vợ chồng ông D và GCNQSDĐ số BT 959824 của vợ chồng ông B là do vợ chồng ông B quản lý, sử dụng ổn định. Khi ông B lập hồ sơ đăng ký quyền sử dụng đất, ông D cũng đã ký vào Bản mô tả ranh giới, mốc giới thửa đất ngày 15/11/2014 xác định ranh, mốc giới thửa đất. UBND huyện B khi cấp GCNQSDĐ đã làm đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật, cấp GCNQSDĐ đúng đối tượng sử dụng đất và kích thước thửa đất như xác nhận của ông D. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận việc ông D cho rằng diện tích đất chồng lấn GCNQSDĐ (276,3m²) của vợ chồng ông D, yêu cầu huỷ GCNQSDĐ số BT 959824 của vợ chồng ông B là có căn cứ, nên không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của ông D về vấn đề này.

[2.3] Về yêu cầu huỷ GCNQSDĐ số BH 755579 cấp ngày 22/5/2013 mang tên ông Hoàng Bình D, bà Mạc Thị H1 (gọi tắt là GCNQSDĐ số BH 755579) của bị đơn ông Hoàng Văn B:

[2.3.1] Diện tích đất nằm trong GCNQSDĐ số BH 755579 có nguồn gốc vợ chồng ông D nhận chuyển nhượng của bà Nguyễn Thị T1 theo Hợp đồng chuyển nhượng lập ngày 30/12/2011, được UBND thị trấn V chứng thực. Khi chuyển nhượng thửa đất, bà T1 đã được UBND huyện B cấp GCNQSDĐ số BH 755565 ngày 30/12/2011. Năm 2013, ông D, bà H1 kê khai và được cấp lại GCNQSDĐ số BH 755579. Do vậy, để giải quyết yêu cầu huỷ GCNQSDĐ số BH 755579 của ông B1 cần xem xét tính hợp pháp của việc cấp GCNQSDĐ số BH 755565 cho bà T1.

[2.3.2] Xem xét hồ sơ đăng ký cấp GCNQSDĐ của bà Nguyễn Thị Thầm T7 thấy có: Đơn đề nghị cấp GCNQSDĐ của bà Nguyễn Thị T1 ngày 10/12/2011; Bản tự kê khai nguồn gốc nhà, đất ngày 20/11/2011 (BL 294-295) không có chữ ký ông B có đất giáp ranh; Biên bản xác minh hồ sơ ngày 10/12/2011 (BL 265) có ghi phía đông giáp đất ông B, bà D1, phía bắc giáp đất ông L5, ông B, bà L2 nhưng không có chữ ký xác nhận của ông B và bà L2, không có xác nhận của trưởng thôn; không có Biên bản xác định ranh giới, mốc giới thửa đất. UBND huyện B căn cứ vào những giấy tờ trên ban hành Quyết định số 5035/QĐ-UBND ngày 30/12/2011 về việc công nhận QSDĐ và cấp GCNQSDĐ cho hộ gia đình, trong đó có hộ bà Nguyễn Thị T1 được cấp GCNQSDĐ số BH 755565 cho thửa số 11, diện tích 10.229,9m² tại Tổ A, thị trấn V, huyện B, tỉnh Hà Giang là đúng thẩm quyền, nhưng chưa đầy đủ về trình tự, thủ tục cấp khi chưa xác định ranh giới đất cụ thể trên thực địa, hộ gia đình ông B có đất giáp ranh nhưng chưa được ký xác nhận ranh giới QSDĐ trên thực địa là vi phạm quy định tại Điều 135 Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 về thi hành Luật Đất đai 2003 và Nghị định số 88/2009/NĐ-CP ngày 19/10/2009 về cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất, nên GCNQSDĐ nói trên của bà T1 không đúng ranh giới đất thực tế sử dụng, không đảm bảo đúng trình tự, thủ tục quy định của pháp luật. Từ đó, việc cấp đổi sang GCNQSDĐ số BH 755579 cho vợ chồng ông D không đúng ranh giới sử dụng đất. Do GCNQSDĐ số BT 755565 cho bà T1 đã bị thu hồi để đổi sang GCNQSDĐ số BH 755579 nên Tòa án cấp sơ thẩm không xem xét huỷ GCNQSDĐ của bà T1 mà xem xét huỷ GCNQSDĐ số BH 755579 do UBND huyện B cấp ngày 22/5/2013 cho ông Hoàng Bình D, bà Mạc Thị H1 là có căn cứ.

Với các căn cứ nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy việc Tòa án cấp sơ thẩm quyết định không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Hoàng Bình D về việc buộc ông Hoàng Văn B phải trả lại một phần đất đường đi có chiều rộng 2 mét, diện tích 119,3 m² và yêu cầu huỷ GCNQSDĐ số BT 959824 do UBND huyện B cấp ngày 22/12/2014 cho vợ chồng ông Hoàng Văn B, bà Nguyễn Thị H; chấp nhận yêu cầu của ông Hoàng Văn B về việc hủy GCNQSDĐ số BH 755579 do UBND huyện B cấp ngày 22/5/2013 cho ông Hoàng Bình D, bà Mạc Thị H1 là đúng pháp luật.

Tại Tòa án cấp phúc thẩm, không phát sinh tình tiết mới, do đó không có cơ sở chấp nhận kháng cáo của bị đơn và cần giữ nguyên bản án sơ thẩm như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội.

[3] Về án phí: Do kháng cáo không được chấp nhận nên ông Hoàng Bình D phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.

[4] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên, căn cứ khoản 1 Điều 308; khoản 1 Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Không chấp nhận kháng cáo của ông Hoàng Bình D; Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 09/2024/DS-ST ngày 23 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Hà Giang.
  2. Về án phí: Ông Hoàng Bình D phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm, được đối trừ vào số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000029 ngày 09/10/2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Hà Giang.
  3. Xác nhận ông Hoàng Bình D đã thi hành xong khoản tiền nộp án phí dân sự phúc thẩm.

  4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án dân sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhân

  • - VKSND cấp cao tại Hà Nội;
  • - TAND tỉnh Hà Giang;
  • - VKS ND tỉnh Hà Giang;
  • - Cục THADS tỉnh Hà Giang;
  • - Các đương sự (theo địa chỉ)
  • - Lưu HSVA, Phòng HCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa




Nguyễn Phan Nam

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 47/2025/DS-PT ngày 06/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI về tranh chấp lối đi, tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 47/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp lối đi, tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 06/02/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: kc
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger