|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH ĐẠI - TỈNH BẾN TRE |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 47/2024/HS-ST Ngày: 13/12/2024 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH ĐẠI, TỈNH BẾN TRE
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Tuấn.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông: Nguyễn Tường Bích
- Ông Bùi Tuấn Khanh.
- Thư ký phiên tòa: Ông Đặng Huỳnh Khánh Duy – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre tham gia phiên tòa: Ông Đinh Bảo Quốc – Kiểm sát viên.
Hôm nay, ngày 13 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số:36/2024/HS-ST ngày 01 tháng 11 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:42/2024/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 11 năm 2024, đối với bị cáo:
Đặng Thị N, sinh ngày 14/04/1957; Nơi đăng ký thường trú: ấp B, xã T, huyện B, tỉnh Bến Tre; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa: không biết chữ; giới tính: Nữ; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; con ông Đặng Văn T (đã chết) và bà Võ Thị D; chồng Trịnh Văn C (đã chết); Bị cáo 04 người con, lớn nhất sinh năm 1978, nhỏ nhất sinh năm 1985.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp cắm đi khởi nơi cư trú từ ngày 28/02/2024 cho đến nay (Bị cáo có mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên Tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 14 giờ 30 phút ngày 03/11/2023, tại nhà nghỉ H thuộc ấp B, xã T, huyện B, tỉnh Bến Tre do Đặng Thị N, sinh năm 1957, nơi cư trú: ấp B, xã T, huyện B, tỉnh Bến Tre làm quản lý, Phòng C1 Công an tỉnh B bắt quả tang tại 02 phòng số 09 và 10 có 02 cặp nam nữ đang thực hiện hành vi mua bán dâm. Cụ thể:
Tại phòng số 09 có 01 nam và 01 nữ gồm: Nguyễn Thị Thu S (R), sinh năm 1981, nơi cư trú: ấp T, xã T, huyện B và Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1981, nơi cư trú: ấp T, xã C, huyện G, tỉnh Bến Tre. S không mặc quần áo, Đẹt mặc áo, không mặc quần, cả hai đang quan hệ tình dục. Tạm giữ: 01 vỏ bao cao su màu trắng, có chữ “Beautiful Dream” đã được mở bao, 01 bao cao su đã qua sử dụng và 01 điện thoại di động cảm ứng hiệu Samsung màu đen, số seri: R58RB3XH8DL, lắp sim điện thoại số 0379.096.xxx.
Tại phòng số 10 có 01 nam, 01 nữ gồm: Nguyễn Thị Ú (T1), sinh năm 1985, nơi cư trú: ấp T, xã T, huyện B và Đoàn Chí T2, sinh năm 1997, nơi cư trú: ấp G, xã T, huyện G. Ú và T2 không mặc quần áo, đang quan hệ tình dục trên giường. Tạm giữ: 01 vỏ bao cao su màu trắng, có chữ “Condom Hualei” đã được mở bao, 01 bao cao su đã qua sử dụng và 01 điện thoại di động cảm ứng hiệu Samsung màu xanh-đen, số seri: R58T24485MF, lắp sim điện thoại số 0344.605.xxx và 0969538971.
Tại phòng tiếp tân: tạm giữ 01 điện thoại di động loại phím bấm, hiệu NOKIA màu xanh-đen, số seri: 353120119402336, lắp sim điện thoại số 0346.517.xxx, 01 bao cao su màu trắng, có chữ “Beautiful Dream” chưa qua sử dụng và 01 bao cao su màu trắng, có chữ “Condom Hualei”, chưa qua sử dụng.
Số tiền thu giữ trên người Nhã: 900.000 đồng gồm 01 tờ mệnh giá 500.000 đồng và 02 tờ tiền mệnh giá 200.000 đồng. Đây là tiền của T2 và Đ đưa cho N để mua bán dâm.
Đặng Thị N khai nhận như sau: khoảng 14 giờ 30 phút, T2 điều khiển xe mô tô chở Đ đến nhà nghỉ H tìm gái mua dâm và gặp Đặng Thị N, quản lý nhà nghỉ, để đặt vấn đề mua dâm cho 02 người, N đồng ý và gọi điện thoại cho Ú đến bán dâm, Ú chở thêm S đến. N đưa giá 350.000đ/lượt/người. Trong đó, giá mua dâm là 300.000 đồng, còn 50.000 đồng là tiền thuê phòng. T2 đưa cho N 900.000 đồng, gồm: 700.000 đồng là tiền mua dâm, thuê phòng; 200.000 đồng Đ, T2 cho N. Sau đó, N bố trí cho 02 đôi nam nữ mua bán dâm riêng 02 phòng khác nhau, cho đến khi bị bắt quả tang.
Tại bản Cáo trạng số 43/CT-VKSBĐ ngày 31 tháng 10 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Đại truy tố bị cáo Đặng Thị N về tội “ Chứa mại dâm” quy định tại khoản 1 Điều 327 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên trình bày lời luận tội và đề nghị như sau:
- - Giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo Đặngg Thị N1 về tội “ Chứa mại dâm” quy định tại khoản 1 Điều 327 Bộ luật Hình sự và đề nghị Hội đồng xét xử kết tội bị cáo theo toàn bộ nội dung cáo trạng truy tố.
- - Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự .
- - Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo có cha ruột, cha chồng, anh là liệt sĩ, mẹ là “ Bà mẹ Việt Nam anh hùng” đó là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s, x khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự cần được xem xét cho bị cáo khi quyết định hình phạt.
- - Về hình phạt chính: Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 327; điểm s, x khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38, Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Đặng Thị N mức án từ 01(một) đến 02(hai) năm tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 02 (hai) đến 04( bốn) năm. Thời hạn tù tính từ ngày tuyên án.
- - Về hình phạt bổ sung: Áp dụng điểm e khoản 2 Điều 32, khoản 5 Điều 327 Bộ luật hình sự phạt bị cáo từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng.
- - Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 46, điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và các điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
- + Tịch thu tiêu hủy:
- 01 vỏ bao cao su màu trắng, có chữ “Beautiful Dream” đã được mở bao và 02 bao cao su đã qua sử dụng,
- 01 vỏ bao cao su màu trắng, có chữ “Condom Hualei” đã được mở bao,
- 01 vỏ bao cao su màu trắng, có chữ “Beautiful Dream” chưa qua sử dụng
- 01 vỏ bao cao su màu trắng, có chữ “Condom Hualei” chưa qua sử dụng,
- + Trả lại cho:
- Chị Nguyễn Thị Thu S 01 điện thoại di động cảm ứng hiệu S1 màu đen, số seri: R58RB3XH8DL, lắp sim điện thoại số 0379.096.xxx.
- Chị Nguyễn Thị Ú 01 điện thoại di động cảm ứng hiệu Samsung màu xanh-đen, số seri: R58T24485MF, lắp sim điện thoại số 0344.605.xxx và 0969538971.
- + Tịch thu sung ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động loại phím bấm, hiệu NOKIA màu xanh - đen, số seri: 353120119402336, lắp sim điện thoại số 0346.517.xxx của bị cáo Đặng Thị N
- + Tịch thu sung Ngân sách Nhà nước số tiền Việt Nam 900.000 đồng (Chín trăm ngàn đồng)
(Theo biên bản giao nhận tài liệu, đồ vật, vật chứng ngày 06/11/2024)
- Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo Đặng Thị N khai như sau: Bị cáo xác định nội dung bản cáo trạng mà Viện kiểm sát truy tố là đúng, bị cáo thừa nhận tòa bộ hành vi chứa mại dâm của mình như cáo trạng đã nêu. Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo mức án thấp nhất.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo rất hối hận về hành vi phạm tội của mình và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt, để bị cáo có điều kiện cải tạo tốt hơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Đại, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo Đặng Thị N đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình phù hợp với các tình tiết trong vụ án. Lời khai nhận của bị cáo tại phiên Tòa phù hợp với nội dung cáo trạng và những chứng cứ có trong hồ sơ vụ án như: biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản khám nghiệm hiện trường, bản ảnh hiện trường, biên bản đối chất cũng như các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sơ xác định:
Vào khoảng 14 giờ 30 phút ngày 03/11/2023, tại phòng số 09 và 10 nhà nghỉ H, thuộc ấp B, xã T, huyện B, tỉnh Bến Tre, bị cáo Đặng Thị N đã có hành vi chứa mại dâm cho Nguyễn Thị Thu S bán dâm cho Nguyễn Văn D1 và Nguyễn Thị Ú bán dâm cho Đoàn Chí T2, thì bị bắt quả tang. Như vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Đại truy tố bị cáo Đặng Thị N về tội “ Chứa mại dâm” quy định tại điểm khoản 1 Điều 327 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
[3] Xét hành vi của bị cáo Đặng Thị N là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự an toàn công cộng, xâm phạm đến những chuẩn mực về đạo đức, thuần phong, mỹ tục tốt đẹp. Đồng thời, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trị an tại địa phương, trong khi xã hội hiện nay đang lên án những tệ nạn xã hội, trong đó có tệ nạn mại dâm. Trước, trong và sau khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo là người thành niên có đầy đủ năng lực để nhận biết và thấy được việc bố trí, sấp xếp phòng nhà nghĩ Hương D2 do mình quản lý để cho người khác thực hiện việc mua bán dâm là vi phạm pháp luật, bị pháp luật xử lý. Nhưng do nhận thức kém, ý thức coi thường pháp luật, xem nhẹ nhân phẩm của người và các chuẩn mực đạo đức, thuần phong, mỹ tục tốt đẹp nên bị cáo đã cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Do đó, bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự tương ứng với hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra.
[4] Xét tính chất, mức độ do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra là lỗi cố ý trực tiếp, hậu quả làm ảnh hưởng đến trật trự trị an, an toàn xã hội, ảnh hưởng lớn đến những chuẩn mực đạo đức, thuần phong mỹ tục tốt đẹp.
[5] Về nhân thân bị cáo: bị cáo là người có nhân thân tốt, không có tiền án tiền sự.
[6] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Trong vụ án này, bị cáo có không có tình tiết tăng nặng.
[7] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại Tòa hôm nay, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo có cha ruột, cha chồng, anh là liệt sĩ, mẹ là “Bà mẹ Việt Nam anh hùng” đó là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s, x khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự cần được xem xét cho bị cáo khi quyết định hình phạt.
[8] Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã xội, trên cơ sở xem xét nhân thân và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nguyên nhân và điều kiện, động cơ và mục đích phạm tội. Xét thấy, bị cáo không có tình tiết tăng nặng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự và có nơi cư trú ổn định, rõ ràng, trước khi phạm tôi chấp hành tốt các chủ trượng của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà Nước, gia đình có truyền thống cách mạng, bị cáo là người cao tuổi( 68 tuổi), văn hóa thấp, ít hiểu biết, phạm tôi không có mục đích vụ lợi. Do đó, không cần thiết buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù mà cho bị cáo hưởng án treo, giao bị cáo về cho chính quyền địa phương phối hợp cùng gia đình giám sát, giáo dục và ấn định thời gian thử thách cũng đủ sức răn đe, giáo dục đối với bị cáo có ý thức trong việc tôn trọng pháp luật, tôn trọng các nguyên tắc tham gia giao thông đường bộ và có điều kiện để lao động, cải tạo trở thành công dân tốt có ích cho xã hội, góp phần trong việc đấu tranh phòng chống tội phạm nói chung.
Việc cho bị cáo được hưởng án treo là phù hợp với Điều 65 Bộ luật hình sự và Điều 1, Điều 2 của Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/05/2018 và Nghị Quyết 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự về án treo; đồng thời cũng thể hiện được tính nhân đạo, khoan hồng của pháp luật đối với bị cáo trong vụ án này.
[9] Đối với lời luận tội và đề nghị của Kiểm sát viên về tội danh, hình phạt, trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng là có cơ sở, phù hợp với pháp luật và nhận định của Hội đồng xét xử, nên được xem xét chấp nhận.
[10] Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 46, điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và các điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
- + Tịch thu tiêu hủy:
- 01 vỏ bao cao su màu trắng, có chữ “Beautiful Dream” đã được mở bao và 02 bao cao su đã qua sử dụng,
- 01 vỏ bao cao su màu trắng, có chữ “Condom Hualei” đã được mở bao,
- 01 vỏ bao cao su màu trắng, có chữ “Beautiful Dream” chưa qua sử dụng
- 01 vỏ bao cao su màu trắng, có chữ “Condom Hualei” chưa qua sử dụng,
- + Trả lại cho:
- Chị Nguyễn Thị Thu S 01 điện thoại di động cảm ứng hiệu S1 màu đen, số seri: R58RB3XH8DL, lắp sim điện thoại số 0379.096.xxx.
- Chị Nguyễn Thị Ú 01 điện thoại di động cảm ứng hiệu Samsung màu xanh-đen, số seri: R58T24485MF, lắp sim điện thoại số 0344.605.xxx và 0969538971.
- + Tịch thu sung ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động loại phím bấm, hiệu NOKIA màu xanh - đen, số seri: 353120119402336, lắp sim điện thoại số 0346.517.xxx của bị cáo Đặng Thị N
- + Tịch thu sung Ngân sách Nhà nước số tiền Việt Nam 900.000 đồng (Chín trăm ngàn đồng)
(Theo biên bản giao nhận tài liệu, đồ vật, vật chứng ngày 06/11/2024)
[11] Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú số: 28/2024/HSST- LCĐKNCT ngày 01/11/2024 của Tòa án nhân dân huyện Bình Đại. Tuy nhiên, bị cáo bị phạt tù nhưng cho hưởng án treo nên hủy bỏ biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú đã áp dụng cho bị cáo là phù hợp điểm d khoản 1 Điều 125 Bộ luật tố tụng hình sự.
[12] Về án phí: Bị cáo Đặng Thị N là người cao tuổi nên được miễn án phí.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố bị cáo Đặng Thị N phạm tội “ Chứa mại dâm”.
Hình phạt chính: Căn cứ vào khoản 1 Điều 327; điểm s, x khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38, Điều 65 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Đặng Thị N 02(hai) năm tù. Nhưng cho hưởng án treo, thời gia thử thách là 04(bốn) năm, tính từ ngày tuyên án.
Về hình phạt bổ sung: Căn cứ điểm e khoản 2 Điều 32, khoản 5 Điều 327 Bộ luật hình sự. xử phạt bị cáo Đặng Thị N 20.000.000 đồng(hai mươi triệu đồng).
- Về biện pháp ngăn chặn: Áp dụng điểm d khoản 1 Điều 125 Bộ luật tố tụng hình sự: Hủy bỏ biện pháp ngăn chặn “ Cấm đi khỏi nơi cư trú ” theo lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số: 28/2024/HSST- LCCĐKNCT ngày 01/11/2024 của Tòa án nhân dân huyện Bình Đại đối với bị cáo bị cáo Đặng Thị N.
- Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 46, điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và các điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
- + Tịch thu tiêu hủy:
- 01 vỏ bao cao su màu trắng, có chữ “Beautiful Dream” đã được mở bao và 02 bao cao su đã qua sử dụng,
- 01 vỏ bao cao su màu trắng, có chữ “Condom Hualei” đã được mở bao,
- 01 vỏ bao cao su màu trắng, có chữ “Beautiful Dream” chưa qua sử dụng
- 01 vỏ bao cao su màu trắng, có chữ “Condom Hualei” chưa qua sử dụng,
- + Trả lại cho: Chị Nguyễn Thị Thu S 01 điện thoại di động cảm ứng hiệu S1 màu đen, số seri: R58RB3XH8DL, lắp sim điện thoại số 0379.096.xxx.
- Chị Nguyễn Thị Ú 01 điện thoại di động cảm ứng hiệu Samsung màu xanh-đen, số seri: R58T24485MF, lắp sim điện thoại số 0344.605.xxx và 0969538971.
- + Tịch thu sung ngân sách Nhá nước: 01 điện thoại di động loại phím bấm, hiệu NOKIA màu xanh - đen, số seri: 353120119402336, lắp sim điện thoại số 0346.517.xxx của bị cáo Đặng Thị N
- + Tịch thu sung Ngân sách Nhà nước số tiền Việt Nam 900.000 đồng (Chín trăm ngàn đồng)
(Theo biên bản giao nhận tài liệu, đồ vật, vật chứng ngày 06/11/2024)
- Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ vào điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Trần Văn R1.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre xét xử theo thủ tục phúc thẩm./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Trần Văn Tuấn |
Bản án số 47/2024/HS-ST ngày 13/12/2024 của Tòa án nhân dân huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre về hình sự về tội chứa mại dâm
- Số bản án: 47/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội Chứa mại dâm
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 13/12/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đặng Thị N bị truy tố về tội chứa mại dâm
