Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN DŨNG

TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 47/2024/HNGĐ-ST

Ngày 09 tháng 12 năm 2024

V/v: "Tranh chấp hôn nhân và gia đình".

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

----------

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN DŨNG, TỈNH BẮC GIANG

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • * Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông: Nguyễn Ánh Dương
  • * Các Hội thẩm nhân dân:
    1. Bà Nguyễn Thị Tin.
    2. Ông Đào Xuân Thịnh.
  • * Thư ký phiên toà: Ông Mông Anh Tuấn - Thư ký Toà án nhân dân huyện Yên Dũng.
  • * Đại diện VKSND huyện Yên Dũng tham gia phiên tòa: Ông Lương Văn T - Kiểm sát viên.

Trong ngày 09 tháng 12 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 181/2024/TLST-HNGĐ ngày 09 tháng 10 năm 2024 về tranh chấp hôn nhân và gia đình theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 58/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 13/11/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 42/2024/QĐST- HNGĐ ngày 28/11/2024, giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Chị Ngụy Thị H, sinh năm 1989 (Có mặt)
  • Nơi ĐKHKTT: Tổ dân phố Đông Hương, thị trấn Nham Biền, huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang.
  • Cư trú: Tổ dân phố 4, thị trấn Nham Biền, huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang.
  • - Bị đơn: Anh Nguyễn Văn V, sinh năm 1987 (Có mặt)
  • Cư trú: Tổ dân phố Đ, thị trấn N, huyện Y, tỉnh Bắc Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Trong đơn khởi kiện ngày 13/9/2024 và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là chị Ngụy Thị H trình bày:

Chị và anh Nguyễn Văn V kết hôn ngày 22/12/2010, có đăng ký kết hôn tại UBND xã N (nay là thị trấn N), huyện Y, tỉnh Bắc Giang. Trước khi kết hôn vợ chồng chị được tự do tìm hiểu, tự nguyện kết hôn và tổ chức cưới hỏi theo phong tục địa phương. Sau khi kết hôn, chị và anh V về chung sống với nhau tại gia đình anh V. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, đến tháng 1/2014 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống dẫn đến vợ chồng hay cãi, chửi nhau. Vợ chồng chị đã ly thân từ tháng 08/2024 đến nay. Nay chị xác định mâu thuẫn đã trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Chị yêu cầu Toà án nhân dân huyện Yên Dũng giải quyết cho chị được ly hôn anh Nguyễn Văn V.

Về con chung: Chị và anh V có 02 con chung là Nguyễn Hải A, sinh ngày 03/6/2011 và Nguyễn Đăng Hải L, sinh ngày 28/12/2017 hiện đang ở với chị. Ly hôn, chị đề nghị được tiếp tục nuôi 02 con chung. Trường hợp có tranh chấp con chung thì chị đề nghị được nuôi cháu L, anh V nuôi cháu A và chị không yêu cầu Tòa án giải quyết về cấp dưỡng nuôi con chung. Hiện nay chị làm điều dưỡng tại Bệnh viện đa khoa tỉnh B, thu nhập là 20.000.000 đồng/tháng. Chị có nơi ở ổn định và nuôi 02 con ăn học từ khi ly thân đến nay. Chị cam kết sẽ trực tiếp nuôi con đảm bảo ổn định và phát triển.

Về tài sản chung, nghĩa vụ chung của vợ chồng về tài sản, công sức đóng góp, ruộng chị tác: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Tại Bản tự khai ngày 13/11/2024 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn là anh Nguyễn Văn V trình bày:

Anh và chị Ngụy Thị H kết hôn ngày 22/12/2010, có đăng ký kết hôn tại UBND xã N (nay là thị trấn N), huyện Y, tỉnh Bắc Giang. Trước khi kết hôn vợ chồng anh được tự do tìm hiểu, tự nguyện kết hôn và tổ chức cưới hỏi theo phong tục địa phương. Sau khi kết hôn, anh và chị H về chung sống với nhau tại gia đình chồng. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, đến tháng 09/2024 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng xích mích, cãi nhau. Nay chị H muốn ly hôn thì anh không đồng ý và mong muốn vợ chồng đoàn tụ.

Về con chung: Anh và chị H có 02 con chung là Nguyễn Hải A, sinh ngày 03/6/2011 và Nguyễn Đăng Hải L, sinh ngày 28/12/2017 hiện đang ở với chị. Ly hôn, thì anh có nguyện vọng nuôi cháu L và cháu A. Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết về cấp dưỡng nuôi con chung. Hiện nay làm công nhân tại Nhà máy N, thu nhập là 15.000.000 đồng/tháng.

Về tài sản chung, nghĩa vụ chung của vợ chồng về tài sản, công sức đóng góp, ruộng canh tác: Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Tại các Biên bản xác minh ngày 21/11/2024, ông Trần Văn K – Tổ trưởng tổ dân phố Đ, thị trấn N và bà Trần Thị H1 (mẹ đẻ anh Nguyễn Văn V) cho biết: Anh Nguyễn Văn V, chị Ngụy Thị H kết hôn với nhau năm 2011. Sau khi kết hôn thì sinh sống tại: Tổ dân phố Đ, thị trấn N, huyện Y, tỉnh Bắc Giang. Đến tháng 9/2024 thì chị H và anh V phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm sống.

Toà án đã mở phiên hoà giải để hoà giải về quan hệ vợ chồng, con chung, tài sản, công nợ, án phí nhưng anh V đều vắng mặt nên không tiến hành hòa giải được.

Tại phiên toà hôm nay, nguyên đơn giữ nguyên ý kiến về việc giải quyết vụ án, không có chứng cứ gì khác giao nộp cho Toà án và cũng không có yêu cầu hoặc đề nghị gì khác.

Sau phần tranh luận, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã được đảm bảo đúng quy định của pháp luật. Bị đơn không chấp hành.

Về nội dung vụ án: Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147 BLTTDS; Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Xử:

  • - Về quan hệ hôn nhân: Chị Ngụy Thị H được ly hôn anh Nguyễn Văn V.
  • - Về con chung: Giao cho chị Ngụy Thị H nuôi cháu Nguyễn Đăng Hải L, sinh ngày 28/12/2017. Giao cho anh Nguyễn Văn V nuôi cháu Nguyễn Hải A, sinh ngày 03/6/2011.
  • - Án phí ly hôn sơ thẩm: Chị Ngụy Thị H phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà. Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng và giấy triệu tập, Quyết định yêu cầu cung cấp tài liệu, chứng cứ số: 118/2024/QĐ-CCTLCC ngày 22/10/2024 về việc yêu cầu anh V cung cấp toàn bộ các tài liệu, chứng cứ liên quan đến mâu thuẫn vợ chồng, con chung, tài sản chung, công nợ, liên quan đến tranh chấp hôn nhân và gia đình, bản tự khai trình bày quan điểm về: quan hệ hôn nhân, con chung, tài sản chung, công nợ và liên quan đến quyền, nghĩa vụ của đương sự trong vụ án cho anh Nguyễn Văn V nhưng không cung cấp tài liệu, chứng cứ nên phải chịu hậu quả pháp lý.

Việc lấy ý kiến nguyện vọng của cháu Nguyễn Hải A, và Nguyễn Đăng Hải L bằng bản tự khai của các cháu là đảm bảo theo khoản 2 Điều 81 Luật HNGĐ; khoản 2 Điều 208 BLTTDS; khoản 2 Điều 6 Nghị quyết số: 01/2024/NQ- HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán TANDTC. Mặt khác, nguyện vọng của con từ đủ 07 tuổi trở lên chỉ là một trong những yếu tố Tòa án phải xem xét trong quá trình giải quyết vụ án, kể cả không lấy được ý kiến nguyện vọng của con chung. Việc quyết định giao con cho bên nào trực tiếp nuôi phải căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con để xem xét, quyết định người trực tiếp nuôi dưỡng con theo mục 8 phần II Giải đáp số 01/2018/GĐ- TANDTC ngày 05/1/2018 của TANDTC.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Giữa chị Ngụy Thị H và anh Nguyễn Văn V xác lập quan hệ hôn nhân là tự nguyện, hai bên đủ điều kiện kết hôn theo quy định của luật Hôn nhân và gia đình, có đăng ký kết hôn tại UBND xã N (nay là thị trấn N), huyện Y, tỉnh Bắc Giang, làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ, chồng và được coi là hôn nhân hợp pháp. Hội đồng xét xử xét thấy, chị H, anh V có thời gian đầu chung sống hạnh phúc sau đó phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng bất đồng trong quan điểm sống và làm ăn kinh tế, vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi vã nhau. Vợ chồng đã sống ly thân thời gian dài, không còn quan tâm, chăm sóc lẫn nhau, mặc dù bản thân và gia đình đã tích cực hòa giải để vợ chồng đoàn tụ nhưng không được. Vì vậy, xét mâu thuẫn giữa chị H, anh V đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Cần chấp nhận yêu cầu cho chị Ngụy Thị H được ly hôn anh Nguyễn Văn V là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.

[3] Về con chung: Chị Ngụy Thị H và anh Nguyễn Văn V có 02 con chung là Nguyễn Hải A, sinh ngày 03/6/2011 và Nguyễn Đăng Hải L, sinh ngày 28/12/2017. Khi giải quyết vụ án về ly hôn này cần xem xét đến quyền lợi của các bên đương sự và quyền lợi mọi mặt của trẻ em.

Xét điều kiện nuôi con thấy: Hiện tại 02 cháu A và cháu L do chị H trực tiếp nuôi dưỡng. Hiện cả 02 cháu A và cháu L đều đang phát triển bình thường. Chị H hiện đang nhân viên điều dưỡng, anh V làm công nhân, cả hai đều có thu nhập đảm bảo cuộc sống, có nơi ở ổn định và đảm bảo việc nuôi dưỡng con chung. Mặt khác, cháu L còn bé, gần 07 tuổi và có nguyện vọng ở với mẹ là chị H. Nên Hội đồng xét xử thấy chấp nhận yêu cầu nuôi dưỡng con chung là cháu L của chị H là phù hợp nguyện vong của cháu L và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, chấp nhận một phần ý kiến nuôi dưỡng con chung của anh Vũ. Cần giao cho chị Hiền trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc con chung là Nguyễn Đăng Hải L, sinh ngày 28/12/2017, giao cho anh V trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc con chung là Nguyễn Hải A, sinh ngày 03/6/2011 là đảm bảo sự ổn định, phát triển về mọi mặt của cháu A và cháu L và phù hợp Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình .

Chị Ngụy Thị H và anh Nguyễn Văn Vũ A1 không trực tiếp nuôi con được quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở chị Ngụy Thị H và anh Nguyễn Văn V trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

[4] Về nghĩa vụ cấp dưỡng: Do chị Ngụy Thị H và anh Nguyễn Văn V không yêu cầu giải quyết về cấp dưỡng nuôi con nên không đặt ra xem xét giải quyết.

[5] Về tài sản chung, nghĩa vụ chung của vợ chồng về tài sản, công sức đóng góp trong thời gian ở chung, ruộng canh tác: Chị Ngụy Thị H và anh Nguyễn Văn V không yêu cầu nên không đặt ra xem xét, giải quyết.

[6] Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Ngụy Thị H phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

* Căn cứ: Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 01 Điều 28, điểm a khoản 01 Điều 35, điểm a khoản 01 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Ngụy Thị H được ly hôn anh Nguyễn Văn V.
  2. Về con chung: Giao cho chị Ngụy Thị H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung là Nguyễn Đăng Hải L, sinh ngày 28/12/2017. Giao cho anh Nguyễn Văn V trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung là Nguyễn Hải A, sinh ngày 03/6/2011.
  3. Chị Ngụy Thị H và anh Nguyễn Văn Vũ A1 không trực tiếp nuôi con được quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở chị Ngụy Thị H và anh Nguyễn Văn V trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

  4. Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Do chị Ngụy Thị H và anh Nguyễn Văn V không yêu cầu giải quyết về cấp dưỡng nuôi con nên không đặt ra xem xét giải quyết.
  5. Về tài sản chung, tài sản riêng, nghĩa vụ chung của vợ chồng về tài sản, ruộng canh tác: Không đặt ra xem xét, giải quyết.
  6. Về án phí: Chị Ngụy Thị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 3300.000 đồng, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai số: 0005345 ngày 09/10/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang. Chị Ngụy Thị H đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm.

Các đương sự có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6,7, 7a, 7b và 9 Lụât Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bắc Giang,
  • - VKSND huyện Yên Dũng,
  • - Chi cục THADS Yên Dũng,
  • - UBND Tt Nham Biền,
  • - Các đương sự,
  • - Lưu hs.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Ánh Dương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 47/2024/HNGĐ-ST ngày 09/12/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN DŨNG, TỈNH BẮC GIANG về tranh chấp hôn nhân và gia đình

  • Số bản án: 47/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 09/12/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN DŨNG, TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chị Nguỵ Thị H xin ly hôn anh Nguyễn Văn V
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger