Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BIÊN HÒA

TỈNH ĐỒNG NAI

Bản án số: 47/2024/KDTM-ST

Ngày: 29/11/2024

V/v: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA - TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phú

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Phan Đăng Khoa

Bà Nguyễn Thị Hồng Hạnh

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Quỳnh Anh Thư - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân TP. Biên Hòa tham gia phiên tòa: Bà Trương Thị Mỹ Linh – Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 11 năm 2024 tại Hội trường 3 - Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án kinh doanh thương mại thụ lý số 65/2024/TLST-KDTM ngày 23 tháng 4 năm 2024 về việc: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 50/2024/QĐXXST-KDTM ngày 15 tháng 10 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 262/2024/QĐST-KDTM ngày 06 tháng 11 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP C.

Địa chỉ: số A T, Quận H, thành phố Hà Nội.

Đại diện theo ủy quyền:

  1. Bà Hoàng Đức Hồng N; chức vụ: Phó Giám đốc Chi nhánh NHCT Khu Công nghiệp B1.
  2. Bà Bùi Ngọc A; chức vụ: Phó Phòng tổng hợp Chi nhánh NHCT Khu Công nghiệp B1.

Địa chỉ: N tư A, X Hà Nội, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.

(theo văn bản ủy quyền số 460/UQ-HĐQT-NHCT-PCTT3 ngày 24/4/2023).

- Bị đơn:

  1. Ông Vũ Đình D, sinh năm 1978 – Chủ hộ kinh doanh Ngọc B.
  2. Bà Lê Thị Minh K, sinh năm 1983 – Chủ hộ kinh doanh cơ sở xay xát N2.

Cùng địa chỉ: tổ A, ấp C, xã A, huyện T, tỉnh Đồng Nai

(Bà N, bà Ngọc A, bà K có mặt; ông D vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

- Tại đơn khởi kiện, các bản tự khai và tại phiên tòa, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn bà Hoàng Đức Hồng N và bà Bùi Ngọc A thống nhất trình bày:

- Ngân hàng thương mại cổ phần C - Chi nhánh K1 (Ngân hàng) đã cấp cho ông Vũ Đình D – Chủ hộ kinh doanh Ngọc B các khoản tín dụng như sau:

  • + Khoản tiền vay ngắn hạn tại Ngân hàng theo hợp đồng cho vay số 01-DUNGVĐ/2023-HĐCVHM/NHCT682 ngày 10/05/2023, chi tiết như sau: Số tiền cam kết cho vay: 5.890.000.000 đồng (Năm tỷ tám trăm chín mươi triệu đồng). Mục đích vay: Bổ sung vốn lưu động phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh. Lãi suất cho vay: 9%/năm.
  • + Thẻ tín dụng theo Hợp đồng số 01/DUNGVĐ/TTD ngày 01/06/2021 có hạn mức: 50.000.000 đồng.

- Ngân hàng thương mại cổ phần C - Chi nhánh K1 (Ngân hàng) đã cấp cho bà Lê Thị Minh K– Chủ hộ kinh doanh cơ sở xay xát Ngọc B các khoản tín dụng như sau:

  • + Khoản tiền vay ngắn hạn tại Ngân hàng theo hợp đồng cho vay số 01-KIMLTM/2022-HĐCVHM/NHCT682 ngày 13/07/2022, chi tiết như sau: Số tiền cam kết cho vay: 9.000.000.000 đồng (Chín tỷ đồng). Mục đích vay: Bổ sung vốn lưu động phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh. Lãi suất cho vay: 9%/năm.
  • + Thẻ tín dụng theo Hợp đồng số 01/KIMLTM/TTD ngày 22/06/2022: Hạn mức: 50.000.000 đồng.

- Để bảo đảm cho các khoản vay nói trên, ông D và bà K đã thế chấp:

  • + Theo Hợp đồng thế chấp tài sản số 02-DUNGVĐ/2021/HĐBĐ/NHCT682 ngày 06/05/2021 và Hợp đồng thế chấp sửa đổi bổ sung số 02-DUNGVD/2021/HĐBĐ/NHCT682/SĐBS2021 ngày 08/11/2021: Quyền sử dụng đất tại thửa đất số 3054, tờ bản đồ số 3, xã A, huyện T, tỉnh Đồng Nai theo giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, Quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CS 957671 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp ngày 04/10/2019 cho ông Vũ Đình D và bà Lê Thị Minh K.
  • + Theo Hợp đồng thế chấp tài sản số 01-KIMLTM/2022/HĐBĐ/NHCT682 ngày 29/06/2022: Quyền sử dụng đất tại thửa đất số 620, tờ bản đồ số 3, xã Đ, huyện T, tỉnh Đồng Nai theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, Quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CO 171279 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp ngày 24/05/2018, số vào sổ cấp giấy chứng nhận: CS 04727 cho ông Vũ Đình D và bà Lê Thị Minh K.
  • + Theo Hợp đồng thế chấp tài sản số 01-KIMLTM/2021/HĐBĐ/NHCT682 ngày 26/11/2021 và Hợp đồng thế chấp sửa đổi bổ sung số 01-KIMLTM/2021/HDBD/NHCT682/SĐBS2022 ngày 17/06/2022: Quyền sử dụng đất tại thửa đất số 162 – Tờ bản đồ số: 121, Thôn F, xã M, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận và Tài sản gắn liền với đất: Nhà máy X, Nhà máy X1; Diện tích xây dựng: 805,5 m²; Diện tích sàn (công suất): 805,5 m2; Hình thức sở hữu: Sở hữu riêng; Cấp công trình: 4 theo giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, Quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CH 354638 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 11/07/2017, số vào số cấp giấy chứng nhận: CS 19056; cập nhật biến động ngày 16/11/2021 cho ông Vũ Đình D và bà Lê Thị Minh K.

Trong quá trình thực hiện Hợp đồng cho vay, Ngân hàng đã tiến hành giải ngân cho ông Vũ Đình D và bà Lê Thị Minh K theo mục đích vay vốn, đúng cam kết với khách hàng, tuân thủ đầy đủ các quy định về cấp tín dụng và giải ngân theo quy định của Ngân hàng TMCP C.

Ngày 20/06/2023, đến kỳ hạn trả nợ ông Vũ Đình D và bà Lê Thị Minh K đều không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng theo đúng kỳ hạn đã ký trong Giấy nhận nợ và Hợp đồng cho vay. Ngoài ra, ông Vũ Đình D và bà Lê Thị Minh K không thực hiện thêm nghĩa vụ nào trong Hợp đồng đã cam kết, sau khi phát sinh nợ quá hạn, Ngân hàng đã nhiều lần đề nghị ông Vũ Đình D và bà Lê Thị Minh K đến ngân hàng làm việc để tìm biện pháp trả nợ cho Ngân hàng nhưng phía ông Vũ Đình D và bà Lê Thị Minh K vẫn không hợp tác để hoàn thành nghĩa vụ trả nợ đối với Ngân hàng.

Hiện tại, các khoản nợ nêu trên đều đã quá thời hạn trả nợ nhưng phía ông Vũ Đình D và bà Lê Thị Minh K vẫn không thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng theo đúng quy định đã ký kết trong Giấy nhận nợ và Hợp đồng cho vay.

Tính đến ngày 29/11/2024, ông Vũ Đình D và bà Lê Thị Minh K còn nợ Ngân hàng số tiền là:

* Đối với khoản vay của ông Vũ Đình D – Chủ hộ kinh doanh Ngọc B:

  • - Số tiền nợ khoản vay ngắn hạn: 6.831.920.963 đồng (Sáu tỷ tám trăm ba mươi mốt triệu chín trăm hai mươi nghìn chín trăm sáu mươi ba đồng). Trong đó:
  • + Số tiền nợ gốc: 5.890.000.000 đồng;
  • + Số tiền nợ lãi: 769.572.876 đồng;
  • + Lãi phạt: 172.348.087 đồng.
  • - Nợ thẻ tín dụng: 62.278.257 đồng (Sáu mươi hai triệu hai trăm bảy mươi tám nghìn hai trăm năm mươi bảy đồng).
  • Tổng cộng: 6.894.199.220 đồng (Sáu tỷ, tám trăm chín mươi bốn triệu, một trăm chín mươi chín nghìn, hai trăm hai mươi đồng).

* Đối với khoản vay của bà Lê Thị Minh K – Chủ hộ kinh doanh sơ sở xay xát Ngọc B:

  • - Số tiền nợ khoản vay ngắn hạn: 10.337.746.541 đồng (Mười tỷ ba trăm ba mươi bảy triệu bảy trăm bốn mươi sáu nghìn năm trăm bốn mươi mốt đồng). Trong đó:
  • + Số tiền nợ gốc: 8.880.000.000 đồng;
  • + Số tiền nợ lãi: 1.035.675.617 đồng;
  • + Lãi phạt: 422.070.924 đồng.
  • - Nợ thẻ tín dụng: 62.714.484 đồng (Sáu mươi hai triệu bảy trăm mười bốn nghìn bốn trăm tám mươi bốn đồng).
  • Tổng cộng: 10.400.461.025 đồng (Mười tỷ, bốn trăm triệu, bốn trăm sáu mươi mốt nghìn, không trăm hai mươi lăm đồng).

Vì vậy, nay nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Quý Tòa xem xét và giải quyết:

  1. Buộc ông Vũ Đình D – Chủ hộ kinh doanh Ngọc B thực hiện nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng toàn bộ số tiền nợ tính tới ngày 29/11/2024 như sau:
    • - Số tiền nợ khoản vay ngắn hạn: 6.831.920.963 đồng (Sáu tỷ tám trăm ba mươi mốt triệu chín trăm hai mươi nghìn chín trăm sáu mươi ba đồng). Trong đó:
      • + Số tiền nợ gốc: 5.890.000.000 đồng;
      • + Số tiền nợ lãi: 769.572.876 đồng;
      • + Lãi phạt: 172.348.087 đồng.
    • - Nợ thẻ tín dụng: 62.278.257 đồng (Sáu mươi hai triệu hai trăm bảy mươi tám nghìn hai trăm năm mươi bảy đồng).
    • Tổng cộng: 6.894.199.220 đồng (Sáu tỷ, tám trăm chín mươi bốn triệu, một trăm chín mươi chín nghìn, hai trăm hai mươi đồng).
  2. Buộc bà Lê Thị Minh Kim K – Chủ hộ kinh doanh sơ sở X2 thực hiện nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng toàn bộ số tiền nợ tính tới ngày 29/11/2024 như sau:
    • - Số tiền nợ khoản vay ngắn hạn: 10.337.746.541 đồng (Mười tỷ ba trăm ba mươi bảy triệu bảy trăm bốn mươi sáu nghìn năm trăm bốn mươi mốt đồng). Trong đó:
      • + Số tiền nợ gốc: 8.880.000.000 đồng;
      • + Số tiền nợ lãi: 1.035.675.617 đồng;
      • + Lãi phạt: 422.070.924 đồng.
    • - Nợ thẻ tín dụng: 62.714.484 đồng (Sáu mươi hai triệu bảy trăm mười bốn nghìn bốn trăm tám mươi bốn đồng).

Tổng cộng: 10.400.461.025 đồng (Mười tỷ, bốn trăm triệu, bốn trăm sáu mươi mốt nghìn, không trăm hai mươi lăm đồng).

  1. Buộc ông D, bà K tiếp tục trả lãi, lãi phạt quá hạn theo mức lãi suất đã thỏa thuận trong các hợp đồng cho vay đã ký kết kể từ ngày 30/11/2024 cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ cho Ngân hàng.
  2. Trường hợp ông Vũ Đình D và bà Lê Thị Minh K không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ thanh toán các khoản nợ nêu trên thì Ngân hàng TMCP C có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án có thẩm quyền tiến hành kê biên, phát mãi các tài sản bảo đảm sau để thu hồi nợ:
    • + Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất thuộc thửa đất số 3054, tờ bản đồ số 3, tọa lạc tại xã A, huyện T, tỉnh Đồng Nai theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CS 957671 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp ngày 04/10/2019; chủ sở hữu ông Vũ Đình D và bà Lê Thị Minh K.
    • + Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất thuộc thửa đất số 162, tờ bản đồ số 121, tọa lạc tại thôn F, xã M, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CH 354638 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 11/7/2017; chủ sở hữu ông Vũ Đình D và bà Lê Thị Minh K.
    • + Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất thuộc thửa đất số 620, tờ bản đồ số 3, tọa lạc tại xã Đ, huyện T, tỉnh Đồng Nai theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số C0 171279 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp ngày 24/5/2018; chủ sở hữu ông Vũ Đình D và bà Lê Thị Minh K.

Ngoài yêu cầu trên, nguyên đơn không còn yêu cầu nào khác.

- Tại phiên tòa, bị đơn – bà Lê Thị Minh K – Chủ hộ kinh doanh cơ sở xay xát Ngọc B trình bày:

Bà đồng ý với yêu cầu của đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng về việc ký kết hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp và chốt khoản nợ đến hết ngày 29/11/2024 như trên. Bà K đề nghị Ngân hàng cho ông D và bà chia nhỏ khoản nợ để ông bà có thời gian bán từng tài sản để có tiền trả nợ cho Ngân hàng. Do hậu quả của dịch Covid-19 khiến việc làm ăn gặp khó khăn nên ông D và bà mới để khoản vay quá hạn.

- Đối với bị đơn ông Vũ Đình D – Chủ hộ kinh doanh Ngọc B:

Quá trình tố tụng, bị đơn ông Vũ Đình D đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án; triệu tập hợp lệ để làm việc, lấy lời khai; tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; tham gia phiên tòa nhưng bị đơn – ông Vũ Đình D vẫn vắng mặt không có lý do. Đồng thời, ông Vũ Đình D cũng không có ý kiến, yêu cầu gì đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

- Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán: Trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử, kể từ khi thụ lý vụ án là phù hợp, đúng với quy định của pháp luật. Nguyên đơn thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn không chấp hành đầy đủ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Trong vụ án này, các đương sự được xác định đúng tư cách pháp lý, đảm bảo việc thu thập tài liệu, chứng cứ, việc cấp tống đạt văn bản tố tụng hợp lệ cho đương sự và chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát nhân dân thành phố cùng cấp nghiên cứu đúng thời gian quy định.

Về đường lối giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

  • * Buộc ông Vũ Đình D – Chủ hộ kinh doanh Ngọc B thanh toán cho Ngân hàng thương mại cổ phần C số tiền tạm tính đến ngày 29/11/2024:
    • - Số tiền nợ khoản vay ngắn hạn: 6.831.920.963 đồng (Sáu tỷ tám trăm ba mươi mốt triệu chín trăm hai mươi nghìn chín trăm sáu mươi ba đồng). Trong đó:
      • + Số tiền nợ gốc: 5.890.000.000 đồng;
      • + Số tiền nợ lãi: 769.572.876 đồng;
      • + Lãi phạt: 172.348.087 đồng.
    • - Nợ thẻ tín dụng: 62.278.257 đồng (Sáu mươi hai triệu hai trăm bảy mươi tám nghìn hai trăm năm mươi bảy đồng).
    • Tổng cộng: 6.894.199.220 đồng (Sáu tỷ, tám trăm chín mươi bốn triệu, một trăm chín mươi chín nghìn, hai trăm hai mươi đồng).
  • * Buộc bà Lê Thị Minh K – Chủ hộ kinh doanh cơ sở xay xát Ngọc B thanh toán cho Ngân hàng thương mại cổ phần C số tiền tạm tính đến ngày 29/11/2024:
    • - Số tiền nợ khoản vay ngắn hạn: 10.337.746.541 đồng (Mười tỷ ba trăm ba mươi bảy triệu bảy trăm bốn mươi sáu nghìn năm trăm bốn mươi mốt đồng). Trong đó:
      • + Số tiền nợ gốc: 8.880.000.000 đồng;
      • + Số tiền nợ lãi: 1.035.675.617 đồng;
      • + Lãi phạt: 422.070.924 đồng.
    • - Nợ thẻ tín dụng: 62.714.484 đồng (Sáu mươi hai triệu bảy trăm mười bốn nghìn bốn trăm tám mươi bốn đồng).
    • Tổng cộng: 10.400.461.025 đồng (Mười tỷ, bốn trăm triệu, bốn trăm sáu mươi mốt nghìn, không trăm hai mươi lăm đồng).

Ngoài ra, ông D, bà K còn phải thanh toán cho Ngân hàng thương mại cổ phần C tiền lãi quá hạn phát sinh theo quy định tại hợp đồng đã ký kết kể từ ngày 30/11/2024 cho đến khi thanh toán xong toàn bộ nợ vay.

Trường hợp ông Vũ Đình D và bà Lê Thị Minh K không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ thanh toán khoản nợ nêu trên thì Ngân hàng TMCP C có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án có thẩm quyền thi hành bản án tiến hành kê biên, phát mãi tài sản bảo đảm sau để thu hồi nợ:

  • + Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất thuộc thửa đất số 3054, tờ bản đồ số 3, tọa lạc tại xã A, huyện T, tỉnh Đồng Nai theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CS 957671 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp ngày 04/10/2019 cho ông Vũ Đình D và bà Lê Thị Minh K.
  • + Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất thuộc thửa đất số 162, tờ bản đồ số 121, tọa lạc tại thôn F, xã M, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CH 354638 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 11/7/2017 cho ông Vũ Đình D và bà Lê Thị Minh K.
  • + Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất thuộc thửa đất số 620, tờ bản đồ số 3, tọa lạc tại xã Đ, huyện T, tỉnh Đồng Nai theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số C0 171279 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp ngày 24/5/2018 cho ông Vũ Đình D và bà Lê Thị Minh K.

Ông Vũ Đình D và bà Lê Thị Minh K phải chịu chi phí tố tụng và án phí theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ pháp luật, tư cách đương sự: Ngân hàng thương mại cổ phần C (do bà Hoàng Đức Hồng N và bà Bùi Ngọc A là đại diện theo ủy quyền) yêu cầu ông Vũ Đình D – Chủ hộ kinh doanh Ngọc B và bà Lê Thị Minh K - Chủ hộ kinh doanh cơ sở xay xát Ngọc B trả số tiền nợ trong hợp đồng tín dụng các bên đã ký kết. Căn cứ vào Điều 30 Bộ luật tố tụng dân sự xác định quan hệ pháp luật tranh chấp của vụ án là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”; Ngân hàng thương mại cổ phần C là nguyên đơn, ông Vũ Đình D – Chủ hộ kinh doanh Ngọc B và bà Lê Thị Minh K - Chủ hộ kinh doanh xay xát Ngọc B là bị đơn.

[2] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Ngân hàng thương mại cổ phần C – Chi nhánh Khu công nghiệp B ký kết hợp đồng tín dụng với ông Vũ Đình D – Chủ hộ kinh doanh Ngọc B và bà Lê Thị Minh K - Chủ hộ kinh doanh xay xát Ngọc B. Ngân hàng thương mại cổ phần C (do bà Hoàng Đức Hồng N và bà Bùi Ngọc A là đại diện theo ủy quyền) có văn bản lựa chọn Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa là nơi tranh chấp phát sinh từ hoạt động của chi nhánh giải quyết. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 40 Bộ luật tố tụng dân sự, thẩm quyền giải quyết thuộc Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.

[3] Về thủ tục tố tụng: Bị đơn – ông Vũ Đình D đã được tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt không rõ lý do nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt ông D theo quy định tại Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[4] Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc yêu cầu ông Vũ Đình D trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần C số tiền 6.894.199.220 đồng (Sáu tỷ, tám trăm chín mươi bốn triệu, một trăm chín mươi chín nghìn, hai trăm hai mươi đồng), trong đó số tiền nợ khoản vay ngắn hạn bao gồm tiền nợ gốc, tiền lãi, lãi phạt là: 6.831.920.963 đồng (Sáu tỷ tám trăm ba mươi mốt triệu chín trăm hai mươi nghìn chín trăm sáu mươi ba đồng); tiền nợ thẻ tín dụng: 62.278.257 đồng (Sáu mươi hai triệu hai trăm bảy mươi tám nghìn hai trăm năm mươi bảy đồng). Ngân hàng yêu cầu bà Lê Thị Minh K trả cho Ngân hàng số tiền 10.400.461.025 đồng (Mười tỷ, bốn trăm triệu, bốn trăm sáu mươi mốt nghìn, không trăm hai mươi lăm đồng), trong đó số tiền nợ khoản vay ngắn hạn bao gồm tiền nợ gốc, tiền lãi, lãi phạt là: 10.337.746.541 đồng (Mười tỷ ba trăm ba mươi bảy triệu bảy trăm bốn mươi sáu nghìn năm trăm bốn mươi mốt đồng); tiền nợ thẻ tín dụng: 62.714.484 đồng (Sáu mươi hai triệu bảy trăm mười bốn nghìn bốn trăm tám mươi bốn đồng). Ngoài ra, ông D, bà K còn phải thanh toán cho Ngân hàng thương mại cổ phần C tiền lãi quá hạn phát sinh theo quy định tại hợp đồng cho vay kể từ ngày 30/11/2024 cho đến khi thanh toán xong toàn bộ nợ vay.

Về tài sản bảo đảm:

  • + Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất thuộc thửa đất số 3054, tờ bản đồ số 3, tọa lạc tại xã A, huyện T, tỉnh Đồng Nai theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CS 957671 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp ngày 04/10/2019 cho ông Vũ Đình D và bà Lê Thị Minh K.
  • + Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất thuộc thửa đất số 162, tờ bản đồ số 121, tọa lạc tại thôn F, xã M, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CH 354638 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 11/7/2017 cho ông Vũ Đình D và bà Lê Thị Minh K.
  • + Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất thuộc thửa đất số 620, tờ bản đồ số 3, tọa lạc tại xã Đ, huyện T, tỉnh Đồng Nai theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số C0 171279 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp ngày 24/5/2018 cho ông Vũ Đình D và bà Lê Thị Minh K.

Ngân hàng thương mại cổ phần C yêu cầu được phát mãi các tài sản trên để đảm bảo cho việc thi hành án trong trường hợp ông Vũ Đình D và bà Lê Thị Minh K không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ thanh toán khoản nợ nêu trên.

Hội đồng xét xử xét thấy:

Theo Hợp đồng tín dụng số 01-DUNGVĐ/2023-HĐCVHM/NHCT682 ngày 10/05/2023 thể hiện Ngân hàng thương mại cổ phần C cho ông Vũ Đình D – Chủ hộ kinh doanh Ngọc B vay số tiền 5.890.000.000 đồng (Năm tỷ tám trăm chín mươi triệu đồng). Mục đích vay: Bổ sung vốn lưu động phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh. Lãi suất cho vay: 9%/năm. Thời hạn vay: thời hạn cho vay của từng khoản nợ được tính từ ngày tiếp theo của ngày bên cho vay giải ngân khoản nợ đến ngày bên vay phải trả toàn bộ nợ gốc và lãi vay. Thời hạn cho vay của khoản nợ được ghi trên giấy nhận nợ nhưng tối đa không quá 12 tháng. Ngoài ra, Ngân hàng thương mại cổ phần C đã cấp cho ông Vũ Đình D thẻ tín dụng theo Hợp đồng số 01/DUNGVĐ/TTD ngày 01/06/2021 có hạn mức: 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng).

Theo Hợp đồng tín dụng số 01- KIMLTM/2022-HĐCVHM/NHCT682 ngày 13/07/2022 thể hiện Ngân hàng thương mại cổ phần C cho bà Lê Thị Minh K – Chủ hộ kinh doanh cơ sở xay xát Ngọc B vay số tiền 9.000.000.000 đồng (Chín tỷ đồng). Mục đích vay: Bổ sung vốn lưu động phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh. Lãi suất cho vay: 9%/năm. Thời hạn vay: thời hạn cho vay của từng khoản nợ được tính từ ngày tiếp theo của ngày bên cho vay giải ngân khoản nợ đến ngày bên vay phải trả toàn bộ nợ gốc và lãi vay. Thời hạn cho vay của khoản nợ được ghi trên giấy nhận nợ nhưng tối đa không quá 06 tháng.

Ngoài ra, Ngân hàng thương mại cổ phần C đã cấp cho bà Lê Thị Minh K thẻ tín dụng theo 01/KIMLTM/TTD ngày 22/6/2022 có hạn mức: 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng).

Quá trình thực hiện hợp đồng, ông D và bà Kim

Ngày 20/6/2023, đến kỳ hạn trả nợ ông Vũ Đình D và bà Lê Thị Minh K đều không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng theo đúng kỳ hạn đã ký trong Giấy nhận nợ và Hợp đồng cho vay. Do đó xác định ông D và bà K đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng thương mại cổ phần C từ ngày 20/6/2023.

Tại biên bản xác minh ngày 05/6/2024 của Công an xã A, huyện T, tỉnh Đồng Nai xác nhận: Ông Vũ Đình D và bà Lê Thị Minh K có đăng ký hộ khẩu thường trú tại địa chỉ: tổ A, ấp C, xã A, huyện T, tỉnh Đồng Nai nhưng không thường xuyên có mặt tại nơi cư trú (thường xuyên đi về tại tổ A, ấp C, xã A, huyện T, tỉnh Đồng Nai). Hiện nay ông D, bà K đang sinh sống tại Nhà M, thôn F, xã M, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận (bút lục 157).

Bị đơn – bà Lê Thị Minh K có mặt tại phiên tòa và đồng ý với phần trình bày của nguyên đơn về toàn bộ khoản vay. Bị đơn – ông Vũ Đình D đã được Tòa án triệu tập hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng vẫn không đến Tòa án làm việc và không có ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần C. Vì vậy xem như ông D đã từ chối cung cấp tài liệu, chứng cứ để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình và mặc nhiên thừa nhận nợ. Từ đó có đủ cơ sở xác định việc ông Vũ Đình D – Chủ hộ kinh doanh Ngọc Bích vay của Ngân hàng thương mại cổ phần C số tiền 5.890.000.000 đồng (Năm tỷ tám trăm chín mươi triệu đồng) và đề nghị cấp Thẻ tín dụng hạn mức 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng); bà Lê Thị Minh K – Chủ hộ kinh doanh cơ sở xay xát N2 vay của Ngân hàng thương mại cổ phần C số tiền 9.000.000.000 đồng (Chín tỷ đồng) và đề nghị cấp Thẻ tín dụng hạn mức 50.000.000

đồng (Năm mươi triệu đồng). Ông D, bà K đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán từ ngày 20/6/2023. Tính đến ngày xét xử sơ thẩm, ông D còn nợ bao gồm nợ gốc, nợ lãi, lãi phạt, thẻ tín dụng số tiền 6.894.199.220 đồng (Sáu tỷ, tám trăm chín mươi bốn triệu, một trăm chín mươi chín nghìn, hai trăm hai mươi đồng), bà K còn nợ bao gồm nợ gốc, nợ lãi, lãi phạt, thẻ tín dụng số tiền 10.400.461.025 đồng (Mười tỷ, bốn trăm triệu, bốn trăm sáu mươi mốt nghìn, không trăm hai mươi lăm đồng), đồng thời việc thế chấp quyền sử dụng đất của các thửa đất nêu trên là có thật.

Từ đó, có căn cứ chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

Buộc ông Vũ Đình D – Chủ hộ kinh doanh Ngọc B và bà Lê Thị Minh K – Chủ hộ kinh doanh xay xát Ngọc B phải thanh toán cho Ngân hàng TMCP C:

  1. Đối với khoản vay của ông Vũ Đình D:
    • - Số tiền nợ khoản vay ngắn hạn: 6.831.920.963 đồng (Sáu tỷ tám trăm ba mươi mốt triệu chín trăm hai mươi nghìn chín trăm sáu mươi ba đồng). Trong đó:
      • + Số tiền nợ gốc: 5.890.000.000 đồng;
      • + Số tiền nợ lãi: 769.572.876 đồng;
      • + Lãi phạt: 172.348.087 đồng.
    • - Nợ thẻ tín dụng: 62.278.257 đồng (Sáu mươi hai triệu hai trăm bảy mươi tám nghìn hai trăm năm mươi bảy đồng).
    • Tổng cộng: 6.894.199.220 đồng (Sáu tỷ, tám trăm chín mươi bốn triệu, một trăm chín mươi chín nghìn, hai trăm hai mươi đồng).
  2. Khoản vay của bà Lê Thị Minh K:
    • - Số tiền nợ khoản vay ngắn hạn: 10.337.746.541 đồng (Mười tỷ ba trăm ba mươi bảy triệu bảy trăm bốn mươi sáu nghìn năm trăm bốn mươi mốt đồng). Trong đó:
      • + Số tiền nợ gốc: 8.880.000.000 đồng;
      • + Số tiền nợ lãi: 1.035.675.617 đồng;
      • + Lãi phạt: 422.070.924 đồng.
    • - Nợ thẻ tín dụng: 62.714.484 đồng (Sáu mươi hai triệu bảy trăm mười bốn nghìn bốn trăm tám mươi bốn đồng).
    • Tổng cộng: 10.400.461.025 đồng (Mười tỷ, bốn trăm triệu, bốn trăm sáu mươi mốt nghìn, không trăm hai mươi lăm đồng).

Trường hợp ông D, bà K không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng thương mại cổ phần C các khoản vay nêu trên, các tài sản bảo đảm sau đây sẽ được phát mãi để đảm bảo cho việc thi hành án:

  • + Quyền sử dụng đất tại Thửa đất số: 3054, tờ bản đồ số 3, xã A, huyện T, tỉnh Đồng Nai theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, Quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CS 957671 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp ngày 04/10/2019; chủ sở hữu: ông Vũ Đình D và bà Lê Thị Minh K, theo Hợp đồng thế chấp tài sản số 02-DUNGVĐ/2021/HĐBĐ/NHCT682 ngày 06/5/2021 và Hợp đồng thế chấp sửa đổi bổ sung số 02-DUNGVD/2021/HĐBĐ/NHCT682/SĐBS2021 ngày 08/11/2021.
  • + Quyền sử dụng đất tại Thửa đất số: 620, tờ bản đồ số 3, Xã Đ, huyện T, tỉnh Đồng Nai theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, Quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CO 171279 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp ngày 24/5/2018, số vào sổ cấp GIẤY CHỨNG NHẬN: CS 04727; chủ sở hữu: ông Vũ Đình D – bà Lê Thị Minh K theo hợp đồng thế chấp tài sản số 01-KIMLTM/2022/HĐBĐ/NHCT682 ngày 29/6/2022.
  • + Quyền sử dụng đất tại Thửa đất số: 162 – Tờ bản đồ số: 121, Thôn F, xã M, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận và Tài sản gắn liền với đất: Nhà máy X, Nhà máy X1; Diện tích xây dựng: 805,5 m2; Diện tích sàn (công suất): 805,5 m2; Hình thức sở hữu: Sở hữu riêng; Cấp công trình: 4 theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, Quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CH 354638 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 11/7/2017, số vào số cấp GIẤY CHỨNG NHẬN: CS 19056; cập nhật biến động ngày 16/11/2021; chủ sở hữu: ông Vũ Đình D – bà Lê Thị Minh K theo Hợp đồng thế chấp tài sản số 01-KIMLTM/2021/HĐBĐ/NHCT682 ngày 26/11/2021 và Hợp đồng thế chấp sửa đổi bổ sung số 01-KIMLTM/2021/HDBD/NHCT682/SĐBS2022 ngày 17/6/2022.

[5] Nhận định của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

[6] Về chi phí tố tụng: Chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ đối với tài sản thế chấp là các thửa đất và tài sản trên đất tọa lạc tại các xã A, huyện T; xã Đ, huyện T và xã M, tỉnh Bình Thuận là 15.000.000 đồng (Mười lăm triệu đồng). Do yêu cầu của nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần C được chấp nhận nên bị đơn – ông Vũ Đình D, bà Lê Thị Minh K phải chịu theo quy định.

[7] Về án phí: ông Vũ Đình D và bà Lê Thị Minh K phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm theo quy định. Hoàn trả cho nguyên đơn số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ Điều 30, Điều 35, điểm b khoản 1 Điều 40, Điều 220, Điều 227, Điều 266 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015;

- Căn cứ Điều 463, Điều 466 Bộ luật Dân sự năm 2015;

- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần C.
    1. Buộc ông Vũ Đình D – Chủ hộ kinh doanh Ngọc B trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần C số tiền 6.894.199.220 đồng (Sáu tỷ, tám trăm chín mươi bốn triệu, một trăm chín mươi chín nghìn, hai trăm hai mươi đồng), bao gồm:
      • - Số tiền nợ khoản vay ngắn hạn: 6.831.920.963 đồng (Sáu tỷ tám trăm ba mươi mốt triệu chín trăm hai mươi nghìn chín trăm sáu mươi ba đồng). Trong đó:
        • + Số tiền nợ gốc: 5.890.000.000 đồng;
        • + Số tiền nợ lãi: 769.572.876 đồng;
        • + Lãi phạt: 172.348.087 đồng.
      • - Nợ thẻ tín dụng: 62.278.257 đồng (Sáu mươi hai triệu hai trăm bảy mươi tám nghìn hai trăm năm mươi bảy đồng).
    2. Buộc bà Lê Thị Minh K – Chủ hộ kinh doanh cơ sở xay xát Ngọc B trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần C số tiền 10.400.461.025 đồng (Mười tỷ, bốn trăm triệu, bốn trăm sáu mươi mốt nghìn, không trăm hai mươi lăm đồng), bao gồm:
      • - Số tiền nợ khoản vay ngắn hạn: 10.337.746.541 đồng (Mười tỷ ba trăm ba mươi bảy triệu bảy trăm bốn mươi sáu nghìn năm trăm bốn mươi mốt đồng). Trong đó:
        • + Số tiền nợ gốc: 8.880.000.000 đồng;
        • + Số tiền nợ lãi: 1.035.675.617 đồng;
        • + Lãi phạt: 422.070.924 đồng.
      • - Nợ thẻ tín dụng: 62.714.484 đồng (Sáu mươi hai triệu bảy trăm mười bốn nghìn bốn trăm tám mươi bốn đồng).
    3. Ông Vũ Đình D và bà Lê Thị Minh K phải thanh toán cho Ngân hàng thương mại cổ phần C tiền lãi quá hạn phát sinh theo quy định tại các hợp đồng tín dụng đã ký kết kể từ ngày 30/11/2024 cho đến khi thanh toán xong toàn bộ nợ vay.
    4. Trường hợp ông Vũ Đình D và bà Lê Thị Minh K không thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ các khoản tiền nêu trên cho Ngân hàng thương mại cổ phần C, các tài sản bảo đảm sau đây được phát mãi để đảm bảo cho việc thi hành án:
      • + Quyền sử dụng đất tại thửa đất số 3054, tờ bản đồ số 3, xã A, huyện T, tỉnh Đồng Nai theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CS 957671 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp ngày 04/10/2019; chủ sở hữu: ông Vũ Đình D bà Lê Thị Minh K theo Hợp đồng thế chấp tài sản số 02-DUNGVĐ/2021/HĐBĐ/NHCT682 ngày 06/05/2021 và Hợp đồng thế chấp sửa đổi bổ sung số 02-DUNGVD/2021/HĐBĐ/NHCT682/SĐBS2021 ngày 08/11/2021.
      • + Quyền sử dụng đất tại thửa đất số 620, tờ bản đồ số 3, Xã Đ, huyện T, tỉnh Đồng Nai theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CO 171279 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp ngày 24/5/2018, số vào sổ cấp GIẤY CHỨNG NHẬN: CS 04727; chủ sở hữu: ông Vũ Đình D – bà Lê Thị Minh K theo Hợp đồng thế chấp tài sản số 01-KIMLTM/2022/HĐBĐ/NHCT682 ngày 29/6/2022.
      • + Quyền sử dụng đất tại thửa đất số 162, tờ bản đồ số 121, Thôn F, xã M, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận và tài sản gắn liền với đất: Nhà máy X, Nhà máy X1; Diện tích xây dựng: 805,5 m²; Diện tích sàn (công suất): 805,5 m²; Hình thức sở hữu: Sở hữu riêng; Cấp công trình: 4 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CH 354638 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 11/7/2017, số vào số cấp GIẤY CHỨNG NHẬN: CS 19056; cập nhật biến động ngày 16/11/2021; chủ sở hữu: ông Vũ Đình D – bà Lê Thị Minh K theo hợp đồng thế chấp tài sản số 01-KIMLTM/2021/HĐBĐ/NHCT682 ngày 26/11/2021 và hợp đồng thế chấp sửa đổi bổ sung số 01-KIMLTM/2021/HDBD/NHCT682/SĐBS2022 ngày 17/6/2022.
  2. Về chi phí tố tụng: Bị đơn – ông Vũ Đình D, bà Lê Thị Minh K phải chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ là 15.000.000 đồng (Mười lăm triệu đồng). Do Ngân hàng thương mại cổ phần C đã tạm nộp nên ông Vũ Đình D, bà Lê Thị Minh K phải thanh toán số tiền 15.000.000 đồng (Mười lăm triệu đồng) cho Ngân hàng thương mại cổ phần C.
  3. Về án phí:
    • - Ông Vũ Đình D phải chịu 114.894.199 đồng (Một trăm mười bốn triệu tám trăm chín mươi bốn nghìn một trăm chín mươi chín đồng) án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm.
    • - Bà Lê Thị Minh K phải chịu 118.400.461 đồng (Một trăm mười tám triệu bốn trăm nghìn bốn trăm sáu mươi mốt đồng) án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm.
    • - Hoàn trả cho nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần C:
      • + Số tiền 57.125.984 đồng (Năm mươi bảy triệu một trăm hai mươi lăm nghìn chín trăm tám mươi bốn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0003042 ngày 27/3/2024 của Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.
      • + Số tiền 58.782.000 đồng (Năm mươi tám triệu bảy trăm tám mươi hai nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0006947 ngày 22/4/2024 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai.
  4. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần C, bị đơn – bà Lê Thị Minh K – Chủ hộ kinh doanh cơ sở xay xát Ngọc B được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn – ông Vũ Đình D – Chủ hộ kinh doanh Ngọc B được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

Trường hợp Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014).

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Hội thẩm nhân dân

Thẩm phán

Chủ tọa phiên tòa

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai;
  • - VKS nhân dân T;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự TP Biên Hòa;
  • - Lưu hồ sơ; văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Thị P

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 47/2024/KDTM-ST ngày 29/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA - TỈNH ĐỒNG NAI về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 47/2024/KDTM-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/11/2024
  • Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA - TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng Công Thương tranh chấp hợp đồng tín dụng với Vũ Đình Dũng - Lê Thị Minh Kim
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger