Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỒ SƠN

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

Bản án số: 47/2024/HS-ST

Ngày 20-11-2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỎ SƠN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Minh Phương

Các Hội thẩm nhân dân:

  • Bà Lê Thị Mai Hương;
  • Bà Đỗ Thị Viện;

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Phúc Bình - Thư ký Tòa án nhân dân quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Ông Vũ Duy Ninh - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 48/2024/TLST-HS ngày 29 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 46/2024/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 10 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 16/2024/HSST-QĐ ngày 14 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:

Phạm Tiến Đ, sinh ngày 23 tháng 01 năm 2000 tại Hải Phòng. Nơi cư trú: Tổ dân phố C, phường N, quận Đ, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: Lớp 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Tiến C và bà Đinh Thị L; chưa có vợ, con; tiền án: có 01 tiền án tại Bản án số 43/2019/HS-ST ngày 28-5-2019 của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xử phạt Phạm Tiến Đ 07 (B) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” (chưa được xóa án tích); tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày 11-6-2024 đến ngày 19-6-2024 chuyển tạm giam; có mặt.

- Người làm chứng: Anh Lê Tuấn A (hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an thành phố H); anh Nguyễn Anh D; anh Đỗ Sơn B1; bà Nguyễn Thị Thanh P; đều vắng mặt; anh Lê Tuấn A có đơn xin xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng đầu tháng 6-2024, Đỗ Sơn B1 biết Phạm Tiến Đ có biết chỗ mua bán ma túy nên đã nói với Đ: “Tôi có người bạn thân khi nào người này gọi điện thoại nhờ thì Đ mua ma túy giúp”, Đ đồng ý. B1 cho Đ số điện thoại 0334.106.xxx bạn của B1, Đ lưu trong danh bạ điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 Plus, màu xanh đen của Đ là “Bạn A B2”. Tối ngày 07-6-2024, bạn của B2 sử dụng số điện thoại 0334.106.xxx gọi đến số điện thoại của Đ 0397.482.xxx giới thiệu là bạn của B2 nhờ Đ mua 01 gam ma túy Ketamine, 01 viên ma túy tổng hợp. Đ đồng ý và báo giá 1.400.000đồng/01 gam ma túy Ketamine, 400.000đồng/01 viên ma túy tổng hợp. Bạn của B2 đồng ý và hẹn Đ đến quán B3 ở khu vực dốc G thuộc khu I, phường V, quận Đ, Hải Phòng để nhận tiền và giao ma túy. Đ đi xe mô tô Biển kiểm soát 15AM-013.71 đến nơi thì bạn của B2 đưa cho Đ 1.800.000đồng. Đ nhắn tin qua mạng xã hội Facebook Messenger cho Lê Tuấn A từ tài khoản của Đ có tên là “Phạm Đ” đến tài khoản của Tuấn A có tên là “Tuấn Mỏng M” hỏi mua của Tuấn A 01 gam ma túy Ketamine và 01 viên ma túy tổng hợp. Tuấn A nảy sinh ý định chiếm đoạt tiền bằng cách bán ma túy giả cho Đ nên đã báo giá cho Đ là 200.000đồng/01 viên ma túy tổng hợp và 1.200.000đồng/01 gam ma túy Ketamine, đồng thời hẹn Đ đến nhà mình để nhận ma túy, Đ đồng ý. Sau đó, Tuấn A đi vào phòng ngủ của bà Nguyễn Thị Thanh P (là mẹ đẻ, chung sống cùng Tuấn A tìm được 01 lọ thuốc ghi nhãn Holista FOOD SUPPLEMENT, loại Selenium bên trong có nhiều viên nén màu vàng nhạt (là thực phẩm chức năng bổ sung dưỡng chất) và 01 gói giấy màu trắng-vàng cam, ghi nhãn THUỐC CỐM SỦI BỌT Parazacol 250 (là thuốc giảm đau, hạ sốt). Tuấn A lấy một viên nén màu vàng nhạt giả làm ma túy tổng hợp và xé gói giấy thì thấy bên trong có chất bột màu trắng nên đã lấy một phần chất bột cho vào mảnh nilon màu trắng rồi sử dụng bật lửa hàn kín lại để giả làm ma túy Ketamine. Tuấn A cho viên nén và túi nilon vào một mảnh giấy bạc dùng băng dính đen quấn lại rồi cho vào túi quần đang mặc. Khoảng 21 giờ cùng ngày, Đ đi xe mô tô Biển kiểm soát 15AM-013.71 đến nhà Tuấn A. Tuấn A nói dối với Đ, bảo Đ chở đi mua ma túy, Đ đồng ý. Tuấn A chỉ cho Đ đi đến một ngõ ở khu vực gần cổng Trường Cao đẳng kinh tế và công nghệ thực thẩm thuộc phường N, quận Đ, Hải Phòng thì dừng lại ở đầu ngõ. Đ đưa cho Tuấn A 1.400.000đồng, Tuấn A cầm tiền rồi đi bộ vào trong ngõ đến đoạn Đ bị khuất tầm nhìn thì lấy gói ma túy giả từ trong túi quần ra cầm ở tay. Khoảng 01 - 02 phút sau, Tuấn A quay lại chỗ Đ và đưa cho Đ gói ma túy giả, Đ cầm lấy rồi đi xe mô tô chở Tuấn A về nhà.

Khoảng 22 giờ 30 phút ngày 09-6-2024, bạn của B2 gọi điện cho Đ hỏi mua 01 gam ma túy Ketamine và 02 viên ma túy tổng hợp. Đ đồng ý và báo giá 1.400.000đồng/01 gam ma túy Ketamine, 400.000đồng/01 viên ma túy tổng hợp, bạn của B2 đồng ý. Đ đi xe mô tô Biển kiểm soát 15AM-013.71 đến quán B3 ở khu vực dốc 79 gặp bạn của B2. Bạn của B2 đưa cho Đ 2.200.000đồng tiền mua ma túy và cho Đ thêm 200.000đồng chi phí đi lại. Đ nhắn tin qua mạng xã hội Facebook Messenger cho Tuấn A hỏi mua 01 gam ma túy Ketamine và 02 viên ma túy tổng hợp. Với cách thức tương tự, Tuấn A nảy sinh ý định chiếm đoạt tiền bằng cách bán ma túy giả cho Đ nên đã bán cho Đ 02 viên ma túy tổng hợp và 01 gam ma túy Ketamine giả chiếm đoạt số tiền 1.600.000đồng. Khoảng 23 giờ 15 phút cùng ngày, Đ đi xe mô tô đến khu vực dốc 79 để đưa ma túy cho bạn của B2 thì bị Công an quận Đ kiểm tra bắt quả tang, thu giữ: 01 gói giấy bạc bên ngoài được bọc bằng băng dính đen, bên trong có 02 viên nén màu vàng và 01 túi nilon bên trong có chứa chất bột màu trắng; số tiền 800.000đồng (04 tờ polyme mệnh giá 200.000đồng); chiếc xe mô tô Biển kiểm soát 15AM-013.71 và giấy đăng ký xe mô tô mang tên Phạm Tiến Đ; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 Plus, màu xanh đen.

Ngày 10-6-2024, Lê Tuấn A đến Công an quận Đ đầu thú và tự nguyện giao nộp chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 màu vàng.

Tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Lê Tuấn A thu giữ: 01 hộp thuốc vỏ bằng giấy màu trắng-vàng cam, ghi nhãn holista FOOD SUPPLEMENT, loại Selenium, bên trong có 01 lọ thuốc, bên trong có 63 viên nén màu vàng nhạt, kích thước đồng đều nhau (01 x 0,5)cm; 01 gói giấy màu trắng-vàng cam, ghi nhãn THUỐC CỐM SỦI BỌT Parazacol 250, bên trong có chứa chất bột màu trắng; 01 chai nhựa hình trụ, kích thước (14,3 x 05)cm.

Kết luận giám định số 717/KL-KTHS ngày 13-6-2024 của Phòng K - Công an thành phố H kết luận đối với số ma túy thu giữ trong quá trình bắt quả tang Phạm Tiến Đ:

  • “Chất bột màu trắng gửi giám định có khối lượng: 0,36gam, không phải là chất ma túy và tiền chất.
  • 02 (hai) viên nén màu vàng nhạt gửi giám định có khối lượng: 0,79gam, không phải là chất ma túy và tiền chất.
  • H lại: 0,19gam chất bột; 0,37gam viên nén cùng toàn bộ vỏ bao gói của mẫu vật, được niêm phong trong một phong bì giấy, dấu niêm phong số: 717MT/PC09 và chữ ký những người liên quan”.

Kết luận giám định số 912/KL-KTHS ngày 31-7-2024 của Phòng K - Công an thành phố H đối với vật chứng thu giữ tại nơi ở của Lê Tuấn A:

  • “Chất bột đựng trong gói giấy màu trắng-vàng cam, ghi nhãn THUỐC CỐM SỦI BỌT Parazacol 250 của mẫu giám định là đồng nhất với mẫu chất bột của mẫu so sánh (0,19gam mẫu chất bột hoàn lại).
  • 63 (sáu mươi ba) viên nén màu vàng nhạt đựng trong lọ nhựa ghi nhãn “holista FOOD SUPPLEMENT, loại Selenium” của mẫu giám định là đồng nhất với viên nén của mẫu so sánh (0,37gam mẫu viên nén hoàn lại)”.

Kết luận giám định số 2588/KL-KTHS ngày 04-9-2024 của Phòng K - Công an thành phố H đối với chiếc điện thoại thu giữ của Phạm Tiến Đ: “Trong mẫu giám định ký hiệu A: Tìm thấy 1187 cuộc gọi, 55 tin nhắn tức thì, 68 cuộc hội thoại Facebook, 61 cuộc hội thoại Native Messages, 75 tin nhắn Recents, 01 cuộc hội thoại Tinder, 07 cuộc hội thoại WeChat, 69 cuộc hội thoại Zalo, 11685 tập tin hình ảnh được lưu trong máy”.

Kết luận giám định số 2591/KL-KTHS ngày 04-9-2024 của Phòng K - Công an thành phố H đối với chiếc điện thoại thu giữ của Lê Tuấn A: “Trong mẫu gửi giám định ký hiệu A: Tìm thấy: 3315 cuộc gọi, 112 tin nhắn tức thì, 109 cuộc hội thoại dạng riêng, 335 cuộc hội thoại Facebook, 180 cuộc hội thoại Native Messages, 61 tin nhắn Recents, 126 cuộc gọi Telegram, 238 cuộc hội thoại Zalo, 36260 tập tin hình ảnh được lưu trong máy”.

Tại Cơ quan điều tra, Phạm Tiến Đ khai nhận trong cả hai lần mua ma túy của Lê Tuấn A, Đ đều nghi ngờ số ma túy của Tuấn A bán cho Đ là ma túy giả nhưng do hám lợi Đ vẫn lấy số ma túy đó bán cho người khác để kiếm lời. Số tiền Đ được hưởng lợi từ việc mua bán trái phép chất ma túy là 1.200.000 đồng.

Tại Cáo trạng số: 45/CT-VKSÐS ngày 25-10-2024, Viện kiểm sát nhân dân quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng truy tố Phạm Tiến Đ về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b, q khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Đối với hành vi “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” của Lê Tuấn A ngày 31-10-2024 Tòa án nhân dân quận Đồ Sơn đã xử phạt Lê Tuấn A 33 (Ba mươi ba) tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” tại bản án số 44/2024/HS-ST.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Đồ Sơn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo như nội dung bản cáo trạng, đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm b, q khoản 2, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự: xử phạt bị cáo Phạm Tiến Đ từ 09 năm 06 tháng đến 10 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

- Phạt tiền đối với bị cáo mức 5.000.000đồng đến 10.000.000đồng.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, b khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

  • + Tịch thu số tiền 800.000đồng theo Chứng từ ghi sổ số CTK2024/108 ngày 15 tháng 10 năm 2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Đồ Sơn; truy thu số tiền 400.000đồng là tiền bị cáo thu lợi bất chính để nộp vào Ngân sách Nhà nước.
  • + Tịch thu, tiêu hủy 02 phong bì niêm phong sau giám định có số 912MT/PC09 và 912MT-A/PC09; 01 chai nhựa hình trụ, kích thước (14,3x0,5)cm.
  • + Giao cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Đ tiếp nhận, quản lý 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7, màu vàng mặt trước nứt vỡ, đã qua sử dụng, tình trạng không lên nguồn, không kiểm tra I (thu giữ của Lê Tuấn A) do có liên quan trong vụ án Đinh Xuân T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
  • + Tịch thu, phát mại nộp vào Ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14Plus màu xanh đen, đã qua sử dụng, tình trạng lên nguồn, có số Imei: 350320343932131, Imei2: 350320344209877 (thu giữ của Phạm Tiến Đ).
  • + Trả lại bị cáo Phạm Tiến Đ 01 xe môtô nhãn hiệu HONDA SH, màu sơn đen, đã qua sử dụng, BKS 15AM-013.71; số máy: JK18E0406738, số khung: RLHJF9533PY103080, có chìa khóa xe và giấy đăng ký xe mang tên Phạm Tiến Đ.

Về án phí và quyền kháng cáo: Căn cứ vào khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo phải nộp 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm và được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội và tội danh như Viện kiểm sát nhân dân quận Đồ Sơn đã truy tố là đúng. Bị cáo ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm được trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tài liệu, chứng cứ Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Đ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Đồ Sơn, Kiểm sát viên thu thập; bị cáo, người tham gia tố tụng khác cung cấp đều thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về những chứng cứ, tài liệu đã thu thập, cung cấp. Do đó các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án đều hợp pháp.

[2] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Đ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Đồ Sơn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng là hợp pháp.

[3] Về chứng cứ xác định bị cáo có tội: Tại phiên tòa bị cáo khai báo thành khẩn về hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người làm chứng, vật chứng thu giữ, bản kết luận giám định cùng với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra và công bố công khai tại phiên tòa có đủ cơ sở xác định: Ngày 07-6-2024 và ngày 09-6-2024, tại khu vực quận Đ, thành phố Hải Phòng, bị cáo đã có hành vi bán trái phép chất ma túy cho người khác thu lợi bất chính được 1.200.000đồng. Bị cáo là người có đầy đủ khả năng điều khiển hành vi và nhận thức được việc mua, bán ma túy để bán lại là vi phạm pháp luật nhưng do mục đích kiếm lời nhanh chóng bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Mặc dù bị cáo có nghi ngờ việc Lê Tuấn A bán ma túy giả cho bị cáo và trên thực tế qua giám định chất đó không phải ma túy nhưng khi mua ma túy của Tuấn A bị cáo vẫn ý thức đó là ma túy để bán lại kiếm lời. Do vậy hành vi phạm tội của bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại Điều 251 Bộ luật Hình sự.

[4] Về tình tiết định khung hình phạt:

Bị cáo có hành vi hai lần bán trái phép chất ma túy cho người khác. Bị cáo đã có 01 tiền án về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý, chưa được xóa án tích mà lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý theo điểm a khoản 2 Điều 53 Bộ luật Hình sự. Do vậy bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b “Phạm tội hai lần trở lên”; điểm q “Tái phạm nguy hiểm” khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự như kết luận của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ, đúng pháp luật.

[5] Đánh giá tính chất vụ án là rất nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy. Ma túy là hiểm họa của toàn xã hội, nó không những hủy hoại sức khỏe mà còn làm băng hoại đạo đức con người, là nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm khác. Việc bài trừ tận gốc tệ nạn ma túy trong toàn xã hội đang được Đảng và Nhà nước quan tâm thực hiện, tuy nhiên loại tội phạm này vẫn đang có chiều hướng gia tăng, diễn biến phức tạp, gây mất trật tự an toàn xã hội. Bị cáo là người có đầy đủ khả năng nhận thức được việc mua bán ma túy là trái pháp luật nhưng vì siêu lợi nhuận từ ma túy mang lại mà bị cáo Phạm Tiến Đ vẫn bất chấp mua bán. Bản thân bị cáo đã có 01 tiền án về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự là tội phạm rất nghiêm trọng, mới ra trại ngày 05-5-2023 thì đến ngày 07-6-2023 và ngày 09-6-2023 lại tiếp tục phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Điều đó thể hiện bị cáo không có ý thức cải tạo, tu dưỡng để trở thành người công dân lương thiện. Bởi vậy cần phải áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc, tương xứng với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo.

[6] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[7] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình do đó bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[8] Về hình phạt chính: Xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo thấy bị cáo phạm tội rất nghiêm trọng do cố ý, nhân thân đã có 01 tiền án cũng về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” (chưa được xóa án tích), điều đó chứng tỏ bị cáo có nhân thân rất xấu nên cần phải buộc bị cáo cách ly khỏi xã hội một thời gian, xét xử bị cáo trên khởi điểm của khung hình phạt để cải tạo, giáo dục bị cáo và đấu tranh phòng ngừa chung như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có cơ sở.

[9] Về hình phạt bổ sung:

Bị cáo mua bán trái phép chất ma tuy để thu lợi cho bản thân, có điều kiện để áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền, vì vậy áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự số tiền 10.000.000đồng là phù hợp.

[10] Về xử lý vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra đã thu giữ:

  • + Đối với 02 phong bì niêm phong sau giám định có số 912MT/PC09 và 912MT-A/PC09; 01 chai nhựa hình trụ, kích thước (14,3x0,5)cm. Xét thấy đây là công cụ, phương tiện bị cáo sử dụng vào việc phạm tội, không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu, tiêu hủy.
  • + Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7, màu vàng mặt trước nứt vỡ, đã qua sử dụng, tình trạng không lên nguồn, không kiểm tra I (thu giữ của Lê Tuấn A). Xét thấy đây là công cụ, phương tiện Lê Tuấn A sử dụng vào việc phạm tội tuy nhiên do còn liên quan đến vụ án Đinh Xuân T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” nên cần giao cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Đ tiếp nhận, quản lý theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 15-10-2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Đ và Chi cục Thi hành án dân sự quận Đồ Sơn.
  • + Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14Plus màu xanh đen, đã qua sử dụng, tình trạng lên nguồn, có số Imei: 350320343932131, Imei2: 350320344209877 (thu giữ của Phạm Tiến Đ). Xét thấy đây là công cụ, phương tiện Phạm Tiến Đ sử dụng vào việc phạm tội nên tịch thu, phát mại nộp vào Ngân sách Nhà nước.
  • + Đối với 01 xe môtô nhãn hiệu HONDA SH, màu sơn đen, đã qua sử dụng, BKS 15AM-013.71; số máy: JK18E0406738, số khung: RLHJF9533PY103080, có chìa khóa xe và giấy đăng ký xe mang tên Phạm Tiến Đ. Xét thấy tiền mua xe là của bố mẹ bị cáo cho để bị cáo sử dụng làm phương tiện đi lại nên cần trả lại xe cho bị cáo. Đối với chìa khóa xe và giấy đăng ký xe mang tên Phạm Tiến Đ, đây là tài sản cá nhân của bị cáo nên cần trả lại cho bị cáo.
  • + Đối với số tiền 800.000đồng theo Chứng từ ghi sổ số CTK2024/108 ngày 15 tháng 10 năm 2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Đồ Sơn. Xét thấy đây là tiền bị cáo Phạm Tiến Đ thu lợi bất chính cần tịch thu, nộp vào Ngân sách Nhà nước.
  • + Truy thu số tiền 400.000đồng là tiền bị cáo Phạm Tiến Đ thu lợi bất chính để nộp vào Ngân sách Nhà nước.

[11] Về án phí và quyền kháng cáo đối với bản án:

Bị cáo Phạm Tiến Đ phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm và được quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b, q khoản 2, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự;

Tuyên bố: Bị cáo Phạm Tiến Đ phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Phạm Tiến Đ 10 (Mười) năm 6 (S) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ là ngày 11 tháng 6 năm 2024.

Phạt tiền đối với bị cáo Phạm Tiến Đ số tiền 10.000.000đ (Mười triệu) đồng.

- Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, b khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự; tuyên xử:

  • + Tịch thu số tiền 800.000đồng theo Chứng từ ghi sổ số CTK2024/108 ngày 15 tháng 10 năm 2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Đồ Sơn; truy thu số tiền 400.000đồng là tiền bị cáo Phạm Tiến Đ thu lợi bất chính để nộp vào Ngân sách Nhà nước.
  • + Tịch thu, tiêu hủy 02 phong bì niêm phong sau giám định có số 912MT/PC09 và 912MT-A/PC09; 01 chai nhựa hình trụ, kích thước (14,3x0,5)cm.
  • + Giao cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Đ tiếp nhận, quản lý 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7, màu vàng mặt trước nứt vỡ, đã qua sử dụng, tình trạng không lên nguồn, không kiểm tra I (thu giữ của Lê Tuấn A) để giải quyết trong vụ án Đinh Xuân T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 15-10-2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Đ và Chi cục Thi hành án dân sự quận Đồ Sơn.
  • + Tịch thu, phát mại nộp vào Ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14Plus màu xanh đen, đã qua sử dụng, tình trạng lên nguồn, có số Imei: 350320343932131, Imei2: 350320344209877 (thu giữ của Phạm Tiến Đ).
  • + Trả lại bị cáo Phạm Tiến Đ 01 xe môtô nhãn hiệu HONDA SH, màu sơn đen, đã qua sử dụng, BKS 15AM-013.71; số máy: JK18E0406738, số khung: RLHJF9533PY103080, kèm theo có chìa khóa xe và giấy đăng ký xe mang tên Phạm Tiến Đ.

(Đặc điểm vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 15 tháng 10 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng với Công an quận Đ, thành phố Hải Phòng).

- Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Phạm Tiến Đ phải nộp 200.000₫ (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - TAND TP. Hải Phòng;
  • - Sở Tư pháp TP.Hải Phòng;
  • - VKSND TP. Hải Phòng;
  • - PV 06, PC10 Công an TP. Hải Phòng;
  • - Trại tạm giam Công an TP. Hải Phòng;
  • - CA quận Đồ Sơn;
  • - Cơ quan THAHS Công an quận Đồ Sơn;
  • - VKSND quận Đồ Sơn;
  • - Chi cục THADS quận Đồ Sơn;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án, HCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Minh Phương

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Thị Mai Hương

Đỗ Thị Viện

Nguyễn Thị Minh Phương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 47/2024/HS-ST ngày 20/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỒ SƠN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về mua bán trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 47/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỒ SƠN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bản án Phạm Tiến Đ mua bán trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger