|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 47/2024/HSPT Ngày 13 - 11 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Sinh
Các Thẩm phán: Ông Võ Văn Bình và ông Nguyễn Tiến Sỹ
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Trà My - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Thị Hòa - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 81/2024/TLPT-HS ngày 01 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo Trần Quốc Đ do có kháng cáo của bị hại Nguyễn Thị H đối với bản án hình sự sơ thẩm số 32/2024/HSST ngày 21 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Krông Pa, tỉnh Gia Lai.
* Bị cáo: Trần Quốc Đ, sinh ngày 26 tháng 7 năm 1992 tại tỉnh Gia Lai. Nơi cư trú: Tổ dân phố B, thị trấn P, huyện K, tỉnh Gia Lai; Nghề nghiệp: Tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn M và bà Nguyễn Thị L; có vợ là Huỳnh Thị Kim U và 02 người con, lớn nhất sinh năm 2015, nhỏ nhất sinh năm 2022; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo tại ngoại. Có mặt.
* Bị hại có kháng cáo: Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1991; địa chỉ: Số C H, thị trấn I, huyện I, tỉnh Gia Lai. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trần Quốc Đ kết hôn và chung sống với bà Nguyễn Thị H tại thị trấn P, huyện K từ năm 2013 và có 01 con chung sinh năm 2015, đến tháng 3 năm 2022, Trần Quốc Đ và bà Nguyễn Thị H ly hôn.
Do mâu thuẫn trong việc nuôi con chung nên vào lúc 12 giờ ngày 04/9/2022, Trần Quốc Đ sử dụng tài khoản Facebook “Gia Lai” đăng nhập trên chiếc điện thoại 1 Phone 7 Plus, số Imei 356695080106443 của mình vào nhóm “vk kết noi Some” đăng 03 bài viết kèm theo hình ảnh nhạy cảm của Nguyễn Thị H, cụ thể: 04 (bốn) hình ảnh một người nữ mặc quần lót kèm theo nội dung “Gái dakdoa, 0975330003, Nhận mọi kèo dâm"; 02 (hai) hình chụp người nữ
mặc quần lót màu đen đang nằm ngủ kèm nội dung “Càng dâm càng kích thích, 0975330003, Cân các thể loại kèo dâm”; 01 (một) hình ảnh người phụ nữ mặc quần lót và 01 (một) Video quay là đang mặc quần lót nằm trên giường kèm theo nội dung “kiếm đối tác dâm, Thỏa mãn đam mê, 0975330003".
Đến ngày 05/09/2022, Trần Quốc Đ đổi tên Facebook thành “Chư Sê” vào nhóm S, tiếp tục đăng hình ảnh kèm số điện thoại 0975.330.xxx của chị H cho các thành viên xem.
Sau khi các bài viết được đăng tải, có rất nhiều người like, bình luận, nhắn tin và gọi điện thoại vào số điện thoại của bà Nguyễn Thị H hỏi về việc bán dâm.
Sự việc xảy ra khiến Nguyễn Thị H cảm thấy xấu hổ với bạn bè, gia đình và hàng xóm. Nhận thấy bị xúc phạm nghiêm trọng về danh dự, nhân phẩm của bản thân nên ngày 21/09/2022, bà Nguyễn Thị H đã làm đơn tố giác lên Công an huyện K. Biết bị tố cáo, Trần Quốc Đ đã xoá hình ảnh và huỷ tài khoản Facebook của mình.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện đã tiến hành thu giữ chiếc điện thoại 1 Phone 7 Plus, số Imei 356695080106443, tiến hành làm việc với Trần Quốc Đ. Tại Cơ quan điều tra, Trần Quốc Đ khai nhận đã thực hiện hành vi như trên. Tất cả các hình ảnh và video mà Trần Quốc Đ đăng tải đều được chụp và quay trong thời gian hai người còn là vợ chồng.
Tại Bản Kết luận giám định số 2043/KL-STTTT ngày 27/12/2022 của Sở thông tin và truyền thông tỉnh G kết luận: “Giám định viên đã tiến hành phục hồi dữ liệu trên điện thoại giám định nêu trên nhưng không phục hồi được dữ liệu video và hình ảnh mà đối tượng Trần Quốc Đ đã xóa nên không thể xác định thời gian chụp ảnh, video, thời diểm xóa dữ liệu hình ảnh và video”.
Tại Bản Kết luận giám định số 280/KL-KTIIS ngày 30/3/2023 của V kết luận: “Dữ liệu tìm kiếm theo nội dung yêu cầu giám định trong điện thoại di động gửi giám định: Tìm thấy và trích xuất được 815 file hình ảnh; Tìm thấy và trích xuất được 793 file video; Không xác định được tên các tài khoản G đã đăng nhập trong điện thoại di động. Dữ liệu file hình ảnh và file video trích xuất được lưu trữ trong USB gửi kèm theo kết luận”.
Ngày 19/10/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã làm công văn yêu cầu Tạo đoàn Viễn thông Quân đội V1 cung cấp thông tin chủ thuê bao, dữ liệu các cuộc gọi đi, gọi đến của số thuê bao 0975330003 trong thời gian từ ngày 05/9/2022 đến ngày 23/9/2022.
Ngày 29/11/2022, Tập đoàn V2 cung cấp thông tin chủ thuê bao 0975330003 là của bà Nguyên Thị H, sinh ngày 08/01/1991, trú tại huyện Đ, tỉnh Gia Lai, kèm theo danh sách dữ liệu các cuộc gọi đi, gọi đến trong thời gian trên.
* Giải quyết của Tòa án cấp sơ thẩm:
Tại bản án hình sơ thẩm số 32/2024/HS-ST ngày 21 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Krông Pa, tỉnh Gia Lai đã quyết định:
Tuyên bố bị cáo Trần Quốc Đ phạm tội “Làm nhục người khác”.
- - Áp dụng điểm a, c khoản 2 Điều 155; Điều 38; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của BLIIS:
- Xử phạt bị cáo Trần Quốc Đ 03 (Ba) tháng tù, thời hạn phạt tù được tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.
- - Áp dụng khoản 1 Điều 48 của Bộ luật Hình sự; Điều 584, 585, 586, 589 và 592 của Bộ luật Dân sự:
- Buộc bị cáo Trần Quốc Đ phải bồi thường tổn thất tinh thần cho bị hại bà Nguyễn Thị H 08 tháng lương cơ sở (mức lương cơ sở 1.490.000 đồng) thành tiền là 11.920.000 đồng (Mười một triệu chín trăm hai mươi nghìn đồng), được trừ trong số tiền 18.000.000 đồng (Mười tám triệu đồng) bị cáo đã tạm nộp theo biên lai thu số 0002667 ngày 22/7/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Krông Pa, tỉnh Gia Lai.
- Trả lại cho bị cáo Trần Quốc Đ1 số tiền là 18.000.000 đông - 11.920.000 đồng = 6.080.000 đồng (Sáu triệu không trăm tám mươi nghìn đồng) chênh lệch mà bị cáo đã tạm nộp thừa theo biên lai thu số 0002667 ngày 22/7/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Krông Pa, tỉnh Gia Lai.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên quyền, nghĩa vụ thi hành án, xử lý vật chứng, nghĩa vụ chịu án phí và quyền kháng cáo theo luật định.
* Kháng cáo của bị hại Nguyễn Thị H:
Các ngày 30/8/2024 và 04/9/2024, bị cáo Nguyễn Thị H kháng cáo đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm hủy Bản án hình sự sơ thẩm để xét xử theo đúng quy định pháp luật.
* Diễn biến tại phiên tòa phúc thẩm:
- - Tại phiên tòa phúc thẩm bị hại Nguyễn Thị H kháng cáo yêu cầu tăng hình phạt đối với bị cáo và buộc bị cáo tăng mức bồi thường.
- - Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử:
- + Không chấp nhận kháng cáo của bị hại về tăng hình phạt đối với bị cáo. Áp dụng điểm a, e khoản 2 Điều 155; Điều 38; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Trần Quốc Đ 03 tháng tù.
- + Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm b khoản 2 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự,
- Chấp nhận một phần kháng cáo của bị hại và sửa bản án hình sự sơ thẩm về phần bồi thường dân sự. Buộc bị cáo Trần Quốc Đ phải bồi thường tổn thất tinh thần cho bị hại bà Nguyễn Thị H 08 tháng lương cơ sở (mức lương cơ sở 2.340.000đ/ tháng) thành tiền là 18.720.000 đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Đơn kháng cáo của bị hại chị Nguyễn Thị H trong hạn luật định, nội dung kháng cáo thuộc phạm vi giải quyết của Toà án cấp phúc thẩm, nên được xem xét.
[2] Xét kháng cáo của bị hại Nguyễn Thị H thấy rằng:
[2.1] Về hành vi phạm tội của bị cáo:
Bị cáo Trần Quốc Đ khai nhận: Xuất phát từ mâu thuẫn nuôi con chung sau khi ly hôn, vào các ngày 04 và 05/9/2022, bị cáo Trần Quốc Đ đã nhiều lần sử dụng điện thoại di động đăng tải những hình ảnh, video chứa nội dung nhạy cảm của chị Nguyễn Thị H lên mạng xã hội Facebook xúc phạm nghiêm trọng đến nhân phẩm, danh dự của chị H.
Lời khai của bị cáo phù hợp với các tài liệu chứng cứ có tại hồ sơ vụ án. Tòa án cấp sơ thẩm tuyên xử bị cáo về tội “Làm nhục người khác” theo điểm a, e khoản 2 Điều 155 Bộ luật Hình sự là có căn cứ.
[2.2] Về hình phạt:
Quá trình xét xử Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét, đánh giá đúng tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo. Xét thấy trước khi phạm tội bị cáo là người có nhân thân tốt; phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; sau phạm tội đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã tự nguyện nộp 18.000.000đ tại cơ quan thi hành án để bồi thường cho bị hại; được chính quyền địa phương xác nhận có hoàn cảnh kinh tế khó khăn là lao động chính trong gia đình. Áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại tại điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của BLHS, tuyên xử bị cáo Trần Quốc Đ 3 tháng tù là phù hợp, đủ để răn đe, giáo dục, cải tạo riêng đối với bị cáo và phòng ngừa chung.
Kháng cáo của bị hại đề nghị tăng hình phạt đối với bị cáo là không có cơ sở chấp nhận
[2.3] Về trách nhiệm bồi thường dân sự:
- - Đối với yêu cầu của bị hại buộc bị cáo bồi thường chi phí để hạn chế khắc phục thiệt hại 10.000.000đ; thu nhập thực tế bị mất hoặc giảm sút là 46.000.000đ, nhưng bị hại không cung cấp được chứng cứ để chứng minh nên Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận đối với yêu cầu này là có căn cứ.
- - Đối với yêu cầu bồi thường thiệt hại tổn thất tinh thần do danh dự nhân phẩm uy tín bị xâm phạm. Giữa bị cáo và bị hại không thỏa thuận được với nhau về mức bồi thường. Bị hại yêu cầu bị cáo bồi thường 10 tháng lương cơ cơ sở với số tiền 23.400.000đ. Theo qui định tại Điều 592 Bộ luật Dân sự 2015mức bồi thường tối đa cho một người có danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm không quá mười lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định. Xét thấy bị cáo đã có hành vi xâm phạm ảnh hưởng nghiêm trọng đến danh dự, nhân phẩm của bị hại, nhưng Tòa án cấp sơ thẩm chỉ buộc bị cáo bồi thường với mức 08 tháng lương cơ sở theo mức lương cũ 1.490.000đ/ tháng tại thời điểm bị cáo phạm tội là chưa phù hợp với hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo gây và chưa phù hợp với mức lương cơ sở tại thời điểm xét xử. Cần chấp nhận kháng cáo của bị
hại, buộc bị cáo phải bồi thường tiền tổn thất tinh thần cho bị hại 10 tháng lương cơ sở với mức 2.340.000đ/tháng . Tổng số tiền 23.400.000đ.
Từ nhận định nêu trên chấp nhận một phần kháng cáo của bị hại sửa Bản án sơ thẩm về phần bồi thường dân sự.
[3] Về án phí:
Do Bản án sửa tăng mức bồi thường dân sự nên sửa phần án phí dân sự sơ thẩm mà bị cáo phải chịu cho phù hợp qui định pháp luật
Bị hại Nguyễn Thị H không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
- Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355, điểm b khoản 2 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự,
- Chấp nhận một phần kháng cáo của bị hại Nguyễn Thị H, sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 32/2024/HSST ngày 21 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Krông Pa, tỉnh Gia Lai.
- Áp dụng điểm a, e khoản 2 Điều 155; Điều 38; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
- Xử phạt bị cáo Trần Quốc Đ 03 (Ba) tháng tù về tội “Làm nhục người khác”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt đi chấp hành án.
- Áp dụng khoản 1 Điều 48 của Bộ luật Hình sự; Điều 592 của Bộ luật Dân sự:
- Buộc bị cáo Trần Quốc Đ phải bồi thường tổn thất tinh thần cho bị hại bà Nguyễn Thị H 10 tháng lương cơ sở (mức lương cơ sở 2.340.000 đồng) thành tiền là 23.400.000 đồng (Hai mươi ba triệu bốn trăm ngàn đồng), được khấu trừ số tiền 18.000.000 đồng (Mười tám triệu đồng) bị cáo đã tạm nộp theo biên lai thu số 0002667 ngày 22/7/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Krông Pa, tỉnh Gia Lai. Bị cáo còn phải bồi thường 5.400.000đ (Năm triệu bốn trăm ngàn đồng).
- Bảo thủ số tiền 18.000.000 đồng (Mười tám triệu đồng) bị cáo đã nộp theo biên lai thu số 0002667 ngày 22/7/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Krông Pa, tỉnh Gia Lai để thi hành án bồi thường cho bị hại chị Nguyễn Thị H.
- Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất được quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
- Căn cứ vào Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về án phí, lệ phí tòa án:
- Buộc bị cáo Trần Quốc Đ phải chịu 300.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm.
5. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán - chủ tọa phiên toà Nguyễn Văn Sinh |
Bản án số 47/2024/HSPT ngày 13/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI về vụ án hình sự phúc thẩm (tội làm nhục người khác)
- Số bản án: 47/2024/HSPT
- Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự phúc thẩm (Tội Làm nhục người khác)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 13/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: sửa dân sự
