Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN KRÔNG NÔ

TỈNH ĐẮK NÔNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 47/2024/HS-ST

Ngày 07-11-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG NÔ, TỈNH ĐẮK NÔNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lại Hồng Duy.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Quang Châu (Nguyên giáo viên nghỉ hưu) và ông Hồ Quang Hiển.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Hải Thương – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Krông Nô, tỉnh Đắk Nông.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Nô, tỉnh Đắk Nông tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Vũ Hồng Hoa – Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Krông Nô, tỉnh Đắk Nông xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 48/2024/TLST-HS ngày 07 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 41/2024/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 10 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số: 128/2024/HSST-QĐ ngày 22 tháng 10 năm 2024, đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Phùng Văn H, sinh ngày:15/5/2004, tại tỉnh Đắk Nông; nơi thường trú tại: Thôn P, xã Q, huyện K, tỉnh Đắk Nông; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ học vấn: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phùng Văn N và bà Phạm Thị H1; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày 21/01/2024, đến ngày 26/01/2024 chuyển sang tạm giam, hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện K; có mặt.

2. Họ và tên: Nguyễn Công T, sinh ngày: 05/8/2006, tại tỉnh Đắk Nông; nơi thường trú tại: Thôn P, xã Q, huyện K, tỉnh Đắk Nông; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn M và bà Lưu Thị Thúy D; tiền án: Không, tiền sự: Ngày 25/7/2023, bị Ủy ban nhân dân phường N, thành phố G, tỉnh Đắk Nông xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền với số tiền 750.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy theo Quyết định số: 93/QĐ-XPVPHC, đã chấp hành xong vào ngày 10/8/2023; bị tạm giam ngày 04/5/2024, hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện K; có mặt.

- Người đại diện hợp pháp của bị cáo Nguyễn Công T: Bà Lưu Thị Thúy D, ông Nguyễn Văn M - địa chỉ: Thôn P, xã Q, huyện K, tỉnh Đắk Nông, là cha mẹ của bị cáo Nguyễn Công T; đều có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Công T:

Ông Phạm Quang L, Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Đ, có đơn xin vắng mặt.

Ông Hoàng Ngọc T1, Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Đ, có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

Anh Nguyễn Văn M1, sinh năm: 2000; Địa chỉ: Thôn P, xã Q, huyện K, tỉnh Đắk Nông, vắng mặt.

Anh Nguyễn Thành L1, sinh năm: 2000; Địa chỉ: Thôn P, xã Q, huyện K, tỉnh Đắk Nông, vắng mặt.

Anh Hoàng Văn T2, sinh năm: 2001; Địa chỉ: Thôn P, xã Q, huyện K, tỉnh Đắk Nông, vắng mặt.

Chị Lê Thị Ngọc H2, sinh năm: 1993; Địa chỉ: Thôn P, xã Q, huyện K, tỉnh Đắk Nông, có mặt.

Chị Nguyễn Hồng Quỳnh N1, sinh năm 2008; Địa chỉ: Thôn X, xã Đ, huyện K, tỉnh Đắk Nông, vắng mặt.

- Người đại diện hợp pháp của Nguyễn Hồng Q Như: Ông Nguyễn Hồng T3 (vắng mặt), bà Phạm Thị N2 (có mặt) - địa chỉ: Thôn X, xã Đ, huyện K, tỉnh Đắk Nông – là bố mẹ của Nguyễn Hồng Quỳnh N1.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Phùng Văn H, Nguyễn Công T và Nguyễn Hồng Quỳnh N1 là người nghiện ma túy. Khoảng thời gian từ giữa tháng 11/2023 đến ngày 21/01/2024, H đã nhiều lần mua ma túy của những người lạ mặt (chưa xác định được nhân thân, lai lịch) tại khu vực cây xăng xã Q, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông để bán lại cho người khác kiếm lời và chuẩn bị ma túy, công cụ điều chế ma túy để H, T và N1 cùng sử dụng tại phòng số 04 nhà trọ T thôn P, xã Q, huyện K, tỉnh Đắk Nông do Nguyễn Hồng Quỳnh N1 thuê.

Ngày 16/01/2024, Phùng Văn H mua 02 gói ma túy với giá 500.000 đồng của một người phụ nữ (chưa xác định được nhân thân, lai lịch) tại khu vực cây xăng Q1, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông. Sau đó, H về phòng số 04 nhà trọ Tâm Á lấy một phần của 01 gói ma túy cho vào bộ D1 để sử dụng cho bản thân, phần còn lại H hàn lại và cất trong người. Đến ngày 19/01/2024, H tiếp tục lấy bộ dụng cụ đã sử dụng, bên trong còn chứa ma túy để H và N1 cùng sử dụng. Khi đang sử dụng, Nguyễn Công T đến và sử dụng cùng.

Trưa ngày 21/01/2024, H và N1 đi ăn về thì gặp Nguyễn Công T tại phòng số 04 nhà T, nên H mở cửa cho cả ba cùng vào. Khi vào phòng, H cất 01 gói ma túy dưới chân cầu thang, còn 01 gói ma túy (đã sử dụng một phần vào ngày 16/01/2024) đặt ra nệm, lấy ống thuỷ tinh và bình gas mini để tạo ra “cóong". Thấy vậy, T hỏi H "có hả anh" (H hiểu là có ma túy không), nên H trả lời là “có một ít". T đổ nước vào chai nước Sting, rồi lấy phần nắp chai (H đã đục lỗ và gắn sẵn ống hút và cóong) để ráp thành bộ dụng cụ sử dụng ma tuý. Tiếp đó, T dùng kéo cắt gói ma tuý để trên nệm và đổ vào cóong. H dùng quẹt gas đốt ma tuý lên để T, H và N1 cùng sử dụng. Đến 15 giờ 15 phút, Nguyễn Thành L1 đến gọi cửa, T cầm bộ D1 giấu dưới chân cầu thang, H ra mở cửa thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K bắt quả tang.

Thông qua mạng xã hội messenger, Phùng Văn H đã bán ma túy cho Nguyễn Văn M1 02 lần và bán cho Nguyễn Thành L1 02 lần, cụ thể:

Ngày 18/12/2023, M1 liên lạc để mua 500.000 đồng ma túy, H đồng ý. M1 chuyển số tiền 500.000 đồng từ tài khoản ngân hàng T5 số 4848533333 của M1 đến tài khoản ngân hàng M2 0972951043 của H. Sau khi chuyển tiền, H giao gói thuốc lá, bên trong có 01 (một) gói ma túy cho M1 tại nhà trọ T6. M1 đến khu vực lò gạch bỏ hoang thuộc xã Q và sử dụng hết.

Ngày 16/01/2024, M1 tiếp tục liên lạc để mua ma túy và H đồng ý, M1 chuyển 500.000 đồng từ số tài khoản của M1 đến số tài khoản ngân hàng của H. Sau khi chuyển tiền, H giao 01 (một) gói ma túy cho M1 tại nhà trọ T6. M1 đến khu vực lò gạch bỏ hoang thuộc xã Q và sử dụng hết.

Ngày 03/01/2024, L1 liên lạc để mua 500.000 đồng ma túy và H đồng ý. L1 đưa số tiền 500.000 đồng cho bà Lê Thị Ngọc H2 – chủ quán trà sữa P để chuyển 500.000 đồng đến số tài khoản ngân hàng của H. Sau khi chuyển tiền, H giao 01 (một) gói ma túy cho L1 tại nhà trọ T6. L1 đến khu vực nghĩa địa thuộc thôn P, xã Q và sử dụng hết.

Ngày 12/01/2024, L1 tiếp tục liên lạc để mua ma túy và H đồng ý. L1 nhờ Hoàng Văn T2 chuyển số tiền 500.000 đồng từ tài khoản ngân hàng T7 số 51511875578 của T2 đến tài khoản ngân hàng M2 của H. Sau khi chuyển tiền, H giao cho L1 01 gói ma túy tại quán I thuộc thôn P, xã Q, huyện K. Sau đó, L1 đến khu vực nghĩa địa và sử dụng hết.

Trong quá trình điều tra cũng xác định: Tại phòng số 04 nhà nghỉ T8 vào ngày 07/01/2024, Nguyễn Công T xăm một hình vòng tròn trên chân của Nguyễn Hồng Quỳnh N1, giá thỏa thuận là 300.000 đồng. T đang xăm cho Như thì bị run tay, nên H rủ T góp tiền mua ma túy về đề cả ba cùng sử dụng. T đồng ý và thỏa thuận trích 100.000 đồng tiền xăm. Sau đó, H đến khu vực cây xăng Q1 mua 500.000 đồng ma tuý, lấy bộ dụng cụ điều chế ma tuý cho H, T và N1 cùng sử dụng hết. Sau khi sử dụng ma tuý xong T tiếp tục xăm cho N1 rồi đi về. Vài ngày sau, Như trả cho T số tiền xăm còn lại là 200.000 đồng.

Tại Bản kết luận giám định số: 74/KL- KTHS ngày 26/01/2024 của Phòng K Công an tỉnh Đ kết luận:

- Chất rắn dạng tinh thể màu trắng trong 01 gói nhựa trong suốt, hàn kín các cạnh (được niêm phong trong bì thư ký hiệu “MT") gửi giám định là ma túy; loại Methamphetamine, có khối lượng mẫu là 0,1209 gam, hoàn lại sau giám định có khối lượng là 0,1065 gam.

- Chất rắn màu trắng bám dính bên trong ống thủy tinh một đầu uốn cong có hình cầu được niêm phong trong hộp giấy giám định là ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng mẫu là 0,0315 gam, hoàn lại sau giám định có khối lượng là 0,0169 gam.

- Chất rắn dạng tinh thể màu trắng trong 01 gói nhựa, hàn kín (được niêm phong trong bì thư ký hiệu “MTKX") gửi giám định là ma túy; loại Methamphetamine, có khối lượng mẫu là 0,0078 gam, đã sử dụng hết cho công tác giám định.

Các tài liệu, đồ vật đã thu giữ, tạm giữ gồm: 01 (một) bộ dụng cụ sử dụng trái phép chất ma túy, gồm: một chai nhựa có gắn chữ STING, nắp chai màu xanh được đục thủng 02 lỗ, 01 lỗ được gắn ống hút nhựa trong suốt, một lỗ được gắn ống thủy tinh uốn cong có một đầu được thổi phồng hình cầu, bên trong ống thủy tinh còn bám dính chất màu trắng, được niêm phong trong hộp giấy; 01 (một) gói nhựa trong suốt, hình chữ nhật, kích thước (1,6x2,2) cm, được hàn kín, bên trong có chứa các hạt tinh thể màu trắng, được niêm phong trong bì thư ký hiệu “MT"; 01 (một) gói nhựa hàn kín, bên trong có chứa các hạt tinh thể màu trắng, kích thước (2,3x1,2) cm, được niêm phong trong bì thư ký hiệu “MTKX"; 01 (một) kéo đã qua sử dụng (loại kéo y tế); 01 (một) bật lửa màu đỏ đã bị tháo bộ phận đánh lửa, ở trên được gắn bằng ống kim loại quấn giấy bạc bên ngoài; 01 (một) bật lửa màu đỏ đã qua sử dụng; 01 (một) bình gar mini màu đỏ có dòng chữ MAX, trên đầu gắn ống khỏ màu trắng; 01 (một) gói nhựa trong suốt hình chữ nhật có kích thước (1,8x2) cm một đầu được cắt hở; 07 (bảy) ống thủy tinh (trong đó 05 ống thẳng hình trụ dài 20 cm; 02 ống một đầu thẳng, một đầu cong, đầu cong gắn với khối hình cầu); 12 (mười hai) ống hút nhựa hai đầu trong suốt dài 20cm.

01 (một) điện thoại di động đã qua sử dụng hiệu S1, loại Galaxy A03 màu xanh có số IMEI1: 350165824343492/01; số IMEI2: 350393174343496/01 của Phùng Văn H; 01 (một) điện thoại di động IPHONE 5S màu xám – đen đã qua sử dụng có số IMEI: 355676070630932 của Nguyễn Hồng Quỳnh N1; 01 (một) điện thoại di động IPHONE 6S Plus màu hồng đã qua sử dụng có số IMEI: 354991074612633 của Nguyễn Công T.

Bản Cáo trạng số: 47/CTr-VKS-KrN ngày 07/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Nô đã truy tố: Phùng Văn H về các tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy", "Mua bán trái phép chất ma túy" quy định tại điểm a, b, c khoản 2 Điều 255 và điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự; Nguyễn Công T về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Nô sau khi đã phân tích hành vi phạm tội cũng như các tình tiết của vụ án, giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Phùng Văn H và bị cáo Nguyễn Công T, đề nghị Hội đồng xét xử:- Về hình phạt:

Áp dụng điểm a, b, c khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Phùng Văn H từ 09 năm 06 tháng đến 10 năm 06 tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Phùng Văn H từ 8 năm đến 09 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Áp dụng Điều 55 của Bộ luật Hình sự để tổng hợp hình phạt hai tội đối với bị cáo Phùng Văn H từ 17 năm 06 tháng đến 19 năm 06 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ ngày 21/01/2024.

Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 90; Điều 91; Điều 98; Điều 101 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Công T từ 07 năm đến 08 năm về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam ngày 04/5/2024.

- Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị: Tịch thu tiêu hủy 0,1234 gam ma tuý, loại Methamphetamine hoàn lại sau giám định; 01 hộp giấy được dán kín các mép và niêm phong, gồm: ống thủy tinh có dính chất ma túy; 01 (một) vỏ chai nhựa có dán nhãn “STING”, nắp chai màu xanh có 02 lỗ tròn, trong đó: 01 lỗ gắn ống hút nhựa trong suốt, 01 lỗ gắn ống thủy tinh một đầu uốn cong có hình cầu đựng mẫu gửi giám định; các gói nhựa và hộp nhựa đựng mẫu gửi giám định; 01 (một) kéo đã qua sử dụng; 01 (một) bật lửa màu đỏ đã bị tháo bộ phận đánh lửa, ở trên được gắn bằng ống kim loại quấn giấy bạc bên ngoài; 01 (một) bật lửa màu đỏ đã qua sử dụng; 01 (một) bình gar mini màu đỏ có dòng chữ MAX, trên đầu gắn ống khò màu trắng; 01 (một) gói nhựa trong suốt hình chữ nhật có kích thước (1,8x2)cm một đầu được cất hở; 07 (bảy) ống thủy tinh (trong đó 05 ống thẳng hình trụ dài 20cm; 02 ống một đầu thẳng, một đầu cong, đầu cong gắn với khối hình cầu); 12 (mười hai) ống hút nhựa hai đầu trong suốt dài 20cm.

Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước: 01 (một) điện thoại di động hiệu S1, loại Galaxy A03 màu xanh đã qua sử dụng có số IMEI: 350165824343492/01; số IMEI2: 350393174343496/01 của Phùng Văn H dùng vào việc phạm tội.

Trả lại: 01 (một) điện thoại di động IPHONE 5S màu xám – đen đã qua sử dụng có số IMEI: 355676070630932 cho chủ sở hữu Nguyễn Hồng Quỳnh N1; 01 (một) điện thoại di động IPHONE 6S Plus màu hồng đã qua sử dụng có số IMEI: 354991074612633 cho chủ sở hữu Nguyễn Công T do không liên quan đến hành vi phạm tội.

Trong vụ án còn có các vấn đề:

Đối với Nguyễn Hồng Quỳnh N1 trong khoảng thời gian từ giữa tháng 11/2023 đến ngày 21/01/2024, Như có hành vi nhiều lần sử dụng địa điểm đang do mình quản lý để cùng H, T sử dụng trái phép chất ma túy. Tại thời điểm thực hiện hành vi Như 15 tuổi 10 tháng (chưa đủ 16 tuổi) nên không phải chịu trách nhiệm hình sự đối với tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” theo quy định tại khoản 2 Điều 12 Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên, hành vi trên của Như thuộc trường hợp rất nghiêm trọng quy định tại Bộ luật Hình sự, nên căn cứ khoản 2 Điều 92 Luật Xử lý vi phạm hành chính 2012 (sửa đổi 2020), Công an huyện K đã lập hồ sơ đề nghị và bị Toà án nhân dân áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào trường giáo dưỡng đối với N1 là đúng quy định của pháp luật. Như không biết việc H mua bán trái phép chất ma túy cho M1, L1 và cất giấu ma túy tại nhà trọ Tâm A để bán cho người khác, nên không xem xét xử lý đối với N1 là đúng quy định.

Đối với Lê Thị Ngọc H2 và Hoàng Văn T2 có hành vi chuyển tiền giúp Nguyễn Thành L1 để mua ma túy của H: do H2 và T2 không biết L1 chuyển tiền mua ma túy nên không xem xét xử lý là đúng quy định pháp luật.

Đối với những người bán ma tuý cho H để tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và mua bán trái phép chất ma túy, do chưa xác định được nhân thân, lai lịch nên Cơ quan CSĐT Công an huyện K tiếp tục xác minh làm rõ và xử lý khi có đủ căn cứ.

Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Nguyễn Văn M1 và Nguyễn Thành L1 đã bị Công an huyện K ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính là có căn cứ, đúng pháp luật.

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Công T, bị cáo Phùng Văn H đã khai nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng và thừa nhận việc truy tố và xét xử là đúng người, đúng tội và không oan. Các bị cáo không bào chữa, không tranh luận mà chỉ xin giảm nhẹ hình phạt để các bị cáo một cơ hội sửa chữa những lỗi lầm, sớm trở thành người công dân tốt, sống có ích.

Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Công T: Phân tích hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết nặng và giảm nhẹ trách nhiệm sự, khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo dưới 18 tuổi nên nhận thức còn hạn chế. Đồng ý với đại diện Viện kiểm sát về việc áp dụng pháp luật và mức đề xuất, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng hình phạt thấp nhất của khung hình phạt cho bị cáo T.

Người đại diện hợp pháp của bị cáo Nguyễn Công T: Bà Lưu Thị Thúy D, ông Nguyễn Văn M xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo T, để bị cáo sớm được hòa nhập với cộng đồng, trở thành người công dân tốt, sống có ích.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện K, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Nô, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, những người tham gia tố tụng không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, thực hiện hành vi đúng như diễn biến sự việc nêu trong Bản cáo trạng. Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với các chứng cứ, tài liệu thu thập có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra công khai.

[3] Hội đồng xét xử xét thấy: Phùng Văn H đã chuẩn bị ma túy, công cụ, điều chế ma túy cho Nguyễn Công T và Nguyễn Hồng Quỳnh N1 (tại thời điểm thực hiện hành vi 15 tuổi 10 tháng) cùng mình sử dụng trái phép chất ma túy 03 lần vào các ngày: Ngày 07/01/2024, khi đang xăm cho N1, T đồng ý góp 100.000 đồng để H mua ma túy, H chuẩn bị bộ dụng cụ và điều chế ma túy cho H, T và N1 cùng sử dụng hết. Ngày 19/01/2024, H lấy bộ dụng cụ, trong đó có chứa ma túy (do H mua và sử dụng một phần vào ngày 16/01/2024), rồi điều chế cho H, T và N1 cùng sử dụng. Ngày 21/01/2024, H tiếp tục lấy ma túy đã mua vào ngày 16/01/2024, chuẩn bị công cụ và điều chế ma túy cho H, T và N1 sử dụng. Đến 15 giờ 15 phút ngày cùng ngày bị bắt quả tang về hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, thu giữ 0,0315 gam ma túy, loại Methamphetamine bám dính trong bộ dụng cụ mà H, T, N1 đang sử dụng và 0,1287 gam ma túy, loại Methamphetamine Phùng Văn H cất giấu để bán cho người khác. Do đó, Phùng Văn H phải chịu các tình tiết định khung “Phạm tội 02 lần trở lên”, “Đối với 02 người trở lên” và “Đối với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 18 tuổi” được quy định tại a, b, c khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự.

Ngày 07/01/2024, Nguyễn Công T đã góp tiền để H mua ma túy cho T, H và N1 cùng sử dụng nên T phải chịu tình tiết định khung “Đối với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 18 tuổi” được quy định tại c khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự.

Thông qua mạng xã hội messenger, Phùng Văn H đã bán ma túy cho Nguyễn Văn M1 02 lần, mỗi lần 500.000 đồng, vào ngày 18/12/2023 và ngày 16/01/2024; bán ma túy cho Nguyễn Thành L1 02 lần, mỗi lần 500.000 đồng, vào ngày 03/01/2024 và ngày 12/01/2024. Hào phải chịu tình tiết định khung “Phạm tội 02 lần trở lên” được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.

Hành vi nêu trên của bị cáo Phùng Văn H đã phạm vào các tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại điểm a, b, c khoản 2 Điều 255 và điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự. Hành vi của bị cáo Nguyễn Công T đã phạm vào tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự.

Điều 255 Bộ luật Hình sự quy định:

“1. Người nào tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy dưới bất kỳ hình thức nào, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

  1. Phạm tội 02 lần trở lên;
  2. Đối với 02 người trở lên;
  3. Đối với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 18 tuổi;
  4. ..."

Điều 251 Bộ luật Hình sự quy định:

“1. Người nào mua bán trái phép chất ma tuý, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

  1. ...
  2. Phạm tội 02 lần trở lên;
  3. "

[4] Xét tính chất hành vi do các bị cáo gây ra là rất nghiêm trọng, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, các bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước về các chất ma túy, góp phần làm gia tăng tệ nạn xã hội, ảnh hưởng đến đời sống cộng đồng. Trong thời gian gần đây, nổi nên tình trạng tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép, sử dụng và tổ chức sử dụng chất ma túy một cách rất nghiêm trọng, đây là vấn nạn của xã hội, chính từ ma túy mà nảy sinh nhiều tệ nạn xã hội khác. Vì vậy, cần phải có một hình phạt nghiêm khắc để răn đe, giáo dục bị cáo, đồng thời làm gương cho những ai đã và đang có ý định phạm tội, nhằm nhanh chóng loại bỏ loại tội phạm này ra khỏi xã hội.

[5] Bị cáo Nguyễn Công T thực hiện hành vi phạm tội mới 17 tuổi 05 tháng 02 ngày, nhận thức còn hạn chế, suy nghĩ đơn giản. Nên cần áp dụng những quy định đối với người dưới 18 tuổi phạm tội. Các bị cáo tham gia với vai trò đồng phạm giản đơn, không có sự phân công, không có cấu kết chặt chẽ. Nên các bị cáo cùng nhau chịu trách nhiệm hình sự về hành vi đã gây ra. Do đó, Hội đồng xét xử sẽ cân nhắc mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội và vai trò của từng bị cáo.

[6] Nhân thân bị cáo: Bị cáo Phùng Văn H có nhân thân tốt. Bị cáo Nguyễn Công T bị Ủy ban nhân dân phường N, thành phố G, tỉnh Đắk Nông xử phạt vi phạm hành chính với số tiền 750.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy theo Quyết định số: 93/QĐ-XPVPHC ngày 25/7/2023, đã chấp hành xong vào ngày 10/8/2023, chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính.

[7] Tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo: Không có tình tiết tăng nặng. Tại phiên tòa các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Do đó cần áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

[8] Xét quan điểm và đề nghị của Viện kiểm sát tại phiên tòa là có cơ sở, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật nên cần chấp nhận. Xét quan điểm của người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Công T là có cơ sở nên khi lượng hình đối với bị cáo Nguyễn Công T được xem xét.

[9] Về hình phạt chính: Căn cứ vào quy định của Bộ luật Hình sự, cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của các bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy, cần phải áp dụng một mức án nghiêm khắc và cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội.

[10] Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo Phùng Văn H và Nguyễn Công T không có tài sản riêng, hiện đang sống phụ thuộc vào bố mẹ. Hình phạt chính áp dụng cũng đủ giáo dục, cải tạo các bị cáo, qua đó các bị cáo ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của xã hội, ngăn ngừa họ phạm tội mới, nhận thức được những sai lầm khuyết điểm của bản thân. Do đó, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

[11] Về vật chứng của vụ án: Căn cứ điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự:

- Tịch thu tiêu hủy 0,1234 gam ma tuý, loại Methamphetamine hoàn lại sau giám định (Bì thư có ký hiệu 74/KL-KTHS và nghi mẫu MT và ghi mẫu MT hoàn trả; bì thư có ký hiệu 74/KL – KTHS và ghi mẫu MTKX hoàn trả); 01 hộp giấy được dán kín các mép và niêm phong, gồm: ống thủy tinh có dính chất ma túy; 01 (một) vỏ chai nhựa có dán nhãn “STING”, nắp chai màu xanh có 02 lỗ tròn, trong đó: 01 lỗ gắn ống hút nhựa trong suốt, 01 lỗ gắn ống thủy tinh một đầu uốn cong có hình cầu đựng mẫu gửi giám định; các gói nhựa và hộp nhựa đựng mẫu gửi giám định; 01 (một) kéo đã qua sử dụng; 01 (một) bật lửa màu đỏ đã bị tháo bộ phận đánh lửa, ở trên được gắn bằng ống kim loại quấn giấy bạc bên ngoài; 01 (một) bật lửa màu đỏ đã qua sử dụng; 01 (một) bình gar mini màu đỏ có dòng chữ MAX, trên đầu gắn ống khò màu trắng; 01 (một) gói nhựa trong suốt hình chữ nhật có kích thước (1,8x2)cm một đầu được cất hở; 07 (bảy) ống thủy tinh (trong đó 05 ống thẳng hình trụ dài 20cm; 02 ống một đầu thẳng, một đầu cong, đầu cong gắn với khối hình cầu); 12 (mười hai) ống hút nhựa hai đầu trong suốt dài 20cm.

- Tịch thu sung ngân sách Nhà nước 01 (một) điện thoại di động hiệu S1, loại Galaxy A03 màu xanh đã qua sử dụng có số IMEI: 350165824343492/01; số IMEI2: 350393174343496/01 của Phùng Văn H dùng vào việc phạm tội.

- Trả lại trả lại: 01 (một) điện thoại di động IPHONE 5S màu xám – đen đã qua sử dụng có số IMEI: 355676070630932 cho chủ sở hữu Nguyễn Hồng Quỳnh N1; 01 (một) điện thoại di động IPHONE 6S Plus màu hồng đã qua sử dụng có số IMEI: 354991074612633 cho chủ sở hữu Nguyễn Công T do không liên quan đến hành vi phạm tội.

[12] Về án phí: Các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

[13] Trong vụ án còn có vấn đề: Đối với Nguyễn Hồng Quỳnh N1, trong khoảng thời gian từ giữa tháng 11/2023 đến ngày 21/01/2024, Như có hành vi nhiều lần sử dụng địa điểm đang do mình quản lý để cùng H, T sử dụng trái phép chất ma túy. Tại thời điểm thực hiện hành vi Như 15 tuổi 10 tháng nên không phải chịu trách nhiệm hình sự đối với tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” theo quy định tại khoản 2 Điều 12 Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên, hành vi trên của Như thuộc trường hợp rất nghiêm trọng quy định tại Bộ luật Hình sự, nên căn cứ khoản 2 Điều 92 Luật Xử lý vi phạm hành chính 2012 (sửa đổi 2020), Công an huyện K đã lập hồ sơ đề nghị và bị Toà án áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào Trường giáo dưỡng đối với N1 là đúng quy định của pháp luật. Như không biết việc H mua bán trái phép chất ma túy cho M1, L1 và cất giấu ma túy tại nhà trọ Tâm Á để bán cho người khác, nên không xem xét xử lý đối với N1 là đúng quy định.Đối với Lê Thị Ngọc H2 và Hoàng Văn T2 có hành vi chuyển tiền giúp Nguyễn Thành L1 để mua ma túy của H, do H2 và T2 không biết L1 chuyển tiền mua ma túy nên không xem xét xử lý là đúng quy định pháp luật.

Đối với những người bán ma tuý cho H để tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và mua bán trái phép chất ma túy, do chưa xác định được nhân thân, lai lịch nên Cơ quan CSĐT Công an huyện K tiếp tục xác minh làm rõ và xử lý khi có đủ căn cứ.

Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Nguyễn Văn M1 và Nguyễn Thành L1 đã bị Công an huyện K ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính là có căn cứ, đúng pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố: Bị cáo Phùng Văn H phạm các tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy", "Mua bán trái phép chất ma túy". Bị cáo Nguyễn Công T phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
    1. Áp dụng điểm a, b, c khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Phùng Văn H 10 (Mười) năm 06 (S) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
    2. Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Phùng Văn H 08 (Tám) năm 06 (S) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
    3. Áp dụng Điều 55 của Bộ luật Hình sự để tổng hợp hình phạt: Bị cáo Phùng Văn H phải chấp hành hình phạt của hai tội là 19 (Mười chín) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, ngày 21/01/2024.
    4. Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 90; Điều 91; Điều 98; Điều 101 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Công T 8 (T4) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam, ngày 04/5/2024.
  2. Về vật chứng trong vụ án: Căn cứ điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự:
    • Tịch thu tiêu hủy 0,1234 gam ma tuý, loại Methamphetamine hoàn lại sau giám định (Bì thư có ký hiệu 74/KL-KTHS và nghi mẫu MT và ghi mẫu MT hoàn trả; bì thư có ký hiệu 74/KL – KTHS và ghi mẫu MTKX hoàn trả); 01 hộp giấy được dán kín các mép và niêm phong, gồm: ống thủy tinh có dính chất ma túy; 01 (một) vỏ chai nhựa có dán nhãn “STING”, nắp chai màu xanh có 02 lỗ tròn, trong đó: 01 lỗ gắn ống hút nhựa trong suốt, 01 lỗ gắn ống thủy tinh một đầu uốn cong có hình cầu đựng mẫu gửi giám định; các gói nhựa và hộp nhựa đựng mẫu gửi giám định; 01 (một) kéo đã qua sử dụng; 01 (một) bật lửa màu đỏ đã bị tháo bộ phận đánh lửa, ở trên được gắn bằng ống kim loại quấn giấy bạc bên ngoài; 01 (một) bật lửa màu đỏ đã qua sử dụng; 01 (một) bình gar mini màu đỏ có dòng chữ MAX, trên đầu gắn ống khò màu trắng; 01 (một) gói nhựa trong suốt hình chữ nhật có kích thước (1,8x2)cm một đầu được cất hở; 07 (bảy) ống thủy tinh (trong đó 05 ống thẳng hình trụ dài 20cm; 02 ống một đầu thẳng, một đầu cong, đầu cong gắn với khối hình cầu); 12 (mười hai) ống hút nhựa hai đầu trong suốt dài 20cm.
    • Tịch thu sung ngân sách Nhà nước 01 (một) điện thoại di động hiệu S1, loại Galaxy A03 màu xanh đã qua sử dụng có số IMEI: 350165824343492/01; số IMEI2: 350393174343496/01 của Phùng Văn H dùng vào việc phạm tội.
    • Trả lại trả lại: 01 (một) điện thoại di động IPHONE 5S màu xám – đen đã qua sử dụng có số IMEI: 355676070630932 cho chủ sở hữu Nguyễn Hồng Quỳnh N1; 01 (một) điện thoại di động IPHONE 6S Plus màu hồng đã qua sử dụng có số IMEI: 354991074612633 cho chủ sở hữu Nguyễn Công T do không liên quan đến hành vi phạm tội.

    (Theo biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K với Chi cục thi hành án dân sự huyện Krông Nô vào ngày 07/8/2024)

  3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; áp dụng điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Phùng Văn H phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn) và bị cáo Nguyễn Công T phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn) án phí hình sự sơ thẩm.
  4. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo; người đại diện và người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Công T có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án liên quan đến quyền và lợi ích hợp của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo bản án liên quan đến quyền và lợi ích hợp của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc niêm yết bản án theo quy định pháp luật.

Trường hợp bản án, Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án Dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Đắk Nông;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Đắk Nông;
  • - VKSND tỉnh Đắk Nông;
  • - VKSND huyện Krông Nô;
  • - Đội điều tra Công an huyện Krông Nô;
  • - Cơ quan THAHS Công an huyện Krông Nô;
  • - Bộ phận HSNV CA huyện Krông Nô;
  • - Chi cục THADS huyện Krông Nô;
  • - Bị cáo;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Lại Hồng Duy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 47/2024/HS-ST ngày 07/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG NÔ, TỈNH ĐẮK NÔNG về tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và mua bán trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 47/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và Mua bán trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 07/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG NÔ, TỈNH ĐẮK NÔNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: 10 năm tù
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger