Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ ĐÔNG TRIỀU

TỈNH QUẢNG NINH

Bản án số: 47/2024/HNGĐ-ST

Ngày 30 - 9 - 2024

“V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐÔNG TRIỀU - TỈNH QUẢNG NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Như Quỳnh.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lương Xuân Sớm

Ông Trần Văn Nam

- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Lan Anh - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh.

- Đại diện viện kiểm sát nhân dân thị xã Đông Triều tham gia phiên toà: Bà Dương Thị Nhàn - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 12 tháng 9 và 30 tháng 9 năm 2024, tại Phòng xử án, Tòa án nhân dân thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 105/2024/TLST- HNGĐ, ngày 27 tháng 5 năm 2024 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 38/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 13 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 32/2024/QĐST-HNGĐ ngày 28 tháng 8 năm 2024; Quyết định tạm ngừng phiên tòa số 06/2024/QĐST - HNGĐ ngày 12 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân thị xã Đông Triều, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: chị Phạm Minh N, sinh năm 1991; địa chỉ: tổ dân phố Đ, phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng; vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.
  2. Bị đơn: anh Lưu Văn H, sinh năm 1987; địa chỉ: thôn T, xã T, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh; vắng mặt không có lý do

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 22 tháng 5 năm 2024 và bản tự khai ngày 27 tháng 5 năm 2024, quá trình tố tụng, nguyên đơn chị Phạm Minh N trình bày:

Chị và anh Lưu Văn H tự do tìm hiểu và đăng ký kết hôn năm 2015 tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện Đ (nay là thị xã Đ), tỉnh Quảng Ninh. Sau khi kết hôn, anh chị về chung sống tại thôn T, xã T, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh sau đó chuyển về sinh sống tại thôn H, xã T, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh. Quá trình chung sống vợ chồng hạnh phúc đến năm 2021 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm, không có tiếng nói chung, không còn quan tâm đến nhau. Anh chị sống ly thân từ tháng 4 năm 2022 cho đến nay, anh H về nhà bố mẹ đẻ tại xã T, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh sinh sống còn chị N chuyển về sống cùng bố mẹ đẻ tại địa chỉ Tổ dân phố Đ, phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng. Kể từ sau khi anh chị sống ly thân, anh H không có trách nhiệm với gia đình, không quan tâm vợ con. Chị N đã tìm cách để liên lạc và hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng không có kết quả. Nay chị thấy tình cảm giữa hai người không còn, cuộc sống chung vợ chồng không còn hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được nên làm đơn đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Lưu Văn H.

Về con chung: anh chị có 02 con chung là Lưu Hà P, sinh ngày 24/01/2016 và Lưu Quỳnh C, sinh ngày 29/9/2022. Sau khi ly hôn, chị đề nghị được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục các con chung, anh H không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung và nợ chung: không có.

Trong quá trình giải quyết vụ án, anh Lưu Văn H không thể hiện ý kiến của mình về yêu cầu khởi kiện của chị Phạm Minh N, không đến làm việc cũng như không tham gia các phiên tòa, mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các tài liệu tố tụng theo quy định của pháp luật.

* Khi tiến hành xác minh, bố đẻ của anh H là ông Lưu Văn L cung cấp thông tin như sau:

Anh Lưu Văn H và chị Phạm Minh N tự do tìm hiểu và đăng ký kết hôn năm 2015 tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện Đ (nay là thị xã Đ), tỉnh Quảng Ninh. Sau khi kết hôn, anh chị chung sống tại thôn T, xã T, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh. Đến khoảng năm 2016 thì chuyển về thôn T, xã T, thị xã Đ sinh sống cùng với ông. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, nhưng sau đó đến khoảng năm 2021 - 2022 thì anh chị phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do vấn đề kinh tế chung của vợ chồng dẫn đến thường xuyên xảy ra cãi vã, bất đồng quan điểm sống. Hiện anh H đang đi làm ăn xa, thỉnh thoảng có liên lạc về nhà. Các văn bản, tài liệu Tòa án gửi cho anh H bản thân ông đã nhận được và thông tin đầy đủ cho anh H. Về con chung, anh H và chị N có hai con chung, con lớn sinh năm 2016, con nhỏ sinh năm 2022. Hiện tại hai cháu đang ở với mẹ tại địa chỉ Tổ dân phố Đ, phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng. Về tài sản chung, nợ chung của vợ chồng anh chị ông không nắm rõ. Đối với yêu cầu xin ly hôn và nuôi con chung của chị N, ông đề nghị giải quyết theo quy định pháp luật.

* Khi tiến hành xác minh về nơi thường trú của anh Lưu Văn H, đại diện chính quyền địa phương cung cấp thông tin như sau:

Anh Lưu Văn H, sinh năm 1987; nơi thường trú: thôn T, xã T, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh.

Trong quá trình giải quyết vụ án, cháu Lưu Hà P mong muốn được ở cùng chị Phạm Minh N nếu bố mẹ ly hôn.

* Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa:

  • Về tố tụng: trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán đã thực hiện đúng quy định tại Điều 196, 203 của Bộ luật tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử và Thư ký tại phiên tòa thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án. Nguyên đơn đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng. Bị đơn chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, 72 Bộ luật tố tụng dân sự.
  • Ý kiến về việc giải quyết vụ án: căn cứ tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào các Điều 51, 56, 81, 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình, đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Phạm Minh N về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét, thẩm tra tại phiên tòa và ý kiến của các đương sự, đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ tranh chấp: chị Phạm Minh N có đơn khởi kiện đề nghị được ly hôn với anh Lưu Văn H. Bị đơn có nơi cư trú tại thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về thủ tục tố tụng: trong quá trình giải quyết vụ án, Toà án tiến hành tống đạt các tài liệu, quyết định tố tụng của Tòa án cho các đương sự; tiến hành thu thập tài liệu chứng cứ; tổ chức phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải theo đúng trình tự và thủ tục của Bộ luật Tố tụng dân sự quy định. Tại các buổi làm việc và tại phiên tòa, bị đơn đều vắng mặt không có lý do mặc dù đã được tống đạt hợp lệ. Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với nguyên đơn và bị đơn.

[3] Về quan hệ hôn nhân: anh Lưu Văn H và chị Phạm Minh N tự do tìm hiểu và đăng ký kết hôn năm 2015 tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện Đ (nay là thị xã Đ), tỉnh Quảng Ninh. Sau khi kết hôn, anh chị về chung sống tại thôn T, xã T, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh. Đến khoảng năm 2016 thì chuyển về thôn H, xã T, thị xã Đ sinh sống. Quá trình chung sống anh chị có phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng quan điểm, không có tiếng nói chung; anh H và chị N đã sống ly thân từ tháng 4 năm 2022 đến nay. Kể từ đó anh H không còn quan tâm đến vợ con nên vợ chồng không còn tình cảm với nhau. Chị N đã tìm nhiều biện pháp để hàn gắn nhưng đều không có kết quả. Như vậy, thực tế cuộc hôn nhân của anh chị đã mâu thuẫn trầm trọng không thể hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt. Căn cứ vào khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, yêu cầu của chị Phạm Minh N đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Lưu Văn H có căn cứ pháp luật, cần chấp nhận.

[4] Về con chung: quá trình chung sống, chị N và anh H có 02 con là Lưu Hà P, sinh ngày 24/01/2016 và Lưu Quỳnh C, sinh ngày 29/9/2022. Trong quá trình giải quyết vụ án, chị Phạm Minh N có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu anh H phải cấp dưỡng nuôi con chung. Hội đồng xét xử thấy, anh Lưu Văn H và chị Phạm Minh N đã ly thân từ năm 2022, từ thời điểm anh chị ly thân, một mình chị N nuôi dưỡng và chăm sóc con, anh H không quan tâm đến gia đình. Trong quá trình giải quyết vụ án, anh H không đến Tòa án cũng như không thể hiện quan điểm của mình về ly hôn, nuôi con chung sau khi ly hôn. Mặt khác, nguyện vọng của chị Phạm Minh N phù hợp với nguyện vọng của cháu Lưu Hà P, còn cháu Lưu Quỳnh C vừa tròn 02 (hai) tuổi nên cần chấp nhận yêu cầu của chị N về việc trực tiếp nuôi dưỡng hai con chung, không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con.

[5] Về tài sản chung và nợ chung: các đương sự không có, không đề nghị Tòa án giải quyết.

[6] Về án phí: chị Phạm Minh N là nguyên đơn trong vụ án ly hôn nên phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[7] Về quyền kháng cáo: các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ: khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56; Điều 57; khoản 1, 2 Điều 81; Điều 82; Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; Điều 238; Điều 271; Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.

Tuyên xử: chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Phạm Minh N về việc ly hôn.

  1. Về quan hệ hôn nhân: chị Phạm Minh N được ly hôn với anh Lưu Văn H.
  2. Về con chung: giao cho chị Phạm Minh N trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con là Lưu Hà P, sinh ngày 24/01/2016 và Lưu Quỳnh C, sinh ngày 29/9/2022, kể từ tháng 10 năm 2024 cho đến khi thành niên (đủ 18 tuổi); anh Lưu Văn H không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Anh Lưu Văn H có quyền thăm nom con chung theo quy định của pháp luật. Chị Phạm Minh N cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở anh Lưu Văn H trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.
  3. Về án phí: chị Phạm Minh N phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số 0003600 ngày 27/5/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh. Chị Phạm Minh N đã nộp đủ tiền án phí.
  4. Về quyền kháng cáo: chị Phạm Minh N và anh Lưu Văn H có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - TAND tỉnh Quảng Ninh
  • - VKSND cùng cấp;
  • - Chi cục THADS cùng cấp;
  • - UBND xã Tân Việt;
  • - Lưu hồ sơ./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(đã ký)

Trần Thị Như Quỳnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 47/2024/HNGĐ-ST ngày 30/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐÔNG TRIỀU - TỈNH QUẢNG NINH về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 47/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐÔNG TRIỀU - TỈNH QUẢNG NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phạm Minh N - Lê Văn H
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger