Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN Q. HẢI CHÂU

NAM

THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc Lập - Tự Do - Hạnh Phúc

NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU - TP. ĐÀ NẴNG

Bản án số: 47/2024/KDTM-ST

Ngày 27 - 9 - 2024

V/v “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Văn Diện

Hội thẩm nhân dân: Ông Huỳnh Thanh Tràông Phạm Xoa

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kiều Trang - Thư ký Tòa án nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Bà Hà Thị Thu Hiếu - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 49/2024/TLST-KDTM ngày 24.5.2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 33/2024/QĐXXST-KDTM ngày 19.8.2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 11/2024/QĐST-KDTM ngày 10.9.2024, giữa:

1. Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP C. Địa chỉ: Số A T, quận H, thành phố Hà Nội. Người đại diện theo ủy quyền: Bà Trần Thùy D. Chức vụ: Phó Giám đốc; ông Lương Quang V. Chức vụ: Trưởng P1; bà Huỳnh Như Đoan T. Chức vụ: Nhân viên Phòng KTTH. Địa chỉ: Tầng trệt và Tầng A - Tòa nhà số C T, phường H, quận H, thành phố Đà Nẵng (Văn bản ủy quyền số: 029/UQ-HĐQT-NHCT-PCTT3 ngày 10.01.2024), có mặt.

2. Bị đơn: Hộ kinh doanh Đại lý D1 - Chủ hộ kinh doanh là ông Hoàng Thế L. Địa chỉ: H K Hồ X, phường K, quận N, thành phố Đà Nẵng. Nơi ở: A H, phường P, quận S, thành phố Đà Nẵng, có mặt.

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Bà Trần Thị H. Địa chỉ: H K Hồ X, phường K, quận N, thành phố Đà Nẵng, vắng mặt.

- Ông Nguyễn Xuân Đbà Nguyễn Phước Thu H1. Địa chỉ: H K Hồ X, phường K, quận N, thành phố Đà Nẵng, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 25.9.2023 và lời khai trong quá trình tố tụng, nguyên đơn Ngân hàng TMCP C trình bày:

Vào ngày 09.8.2022, Ngân hàng TMCP C và ông Hoàng Thế L - Chủ hộ kinh doanh đại lý Dừa Minh P đã ký Hợp đồng cho vay hạn mức số: 3017763035/2022/HĐCVHM/NHCT490, với hạn mức là 5.000.000.000 đồng; mục đích sử dụng là bổ sung vốn lưu động phục vụ kinh doanh; thời hạn duy trì hạn mức 12 tháng. Thực hiện hợp đồng, Ngân hàng TMCP C đã giải ngân tổng số tiền là 5.000.000.000 đồng, thời hạn vay là 06 tháng; lãi suất vay trong hạn là 9%/năm; trả gốc khi đến hạn, trả lãi 01 tháng/lần vào ngày 25 của tháng, bắt đầu từ tháng 02.2023; lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn.

Tài sản đảm bảo cho khoản vay trên theo Hợp đồng thế chấp bất động sản số: 3017763035/2021/HĐBĐ/NHCT490 ngày 04.8.2021 là: Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất (nhà ở) tại thửa đất số 165, tờ bản đồ số 04, tổ B, phường K, quận N, thanh phố Đ; Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: A; số vào số cấp GCN: H07311 do Ủy ban nhân dân quận N cấp ngày 12.6.2009 đứng tên ông Hoàng Thế L.

Kể từ khi vay tiền, Hộ kinh doanh đại lý D1 chưa thanh toán được khoản tiền nào. Mặc dù Ngân hàng TMCP C đã nhiều lần nhắc nhở, yêu cầu nhưng H2 kinh doanh đại lý Dừa Minh P không thực hiện nghĩa vụ trả nợ. Vì vậy, Ngân hàng TMCP C khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc Hộ kinh doanh đại lý D1 do ông Hoàng Thế L là chủ hộ phải thanh toán số tiền còn nợ tạm tính đến ngày 27.9.2024 là 5.993.770.914 đồng (nợ gốc 5.000.000.000 đồng, tiền lãi trong hạn 714.735.209 đồng, tiền lãi quá hạn 279.035.705 đồng) và phải tiếp tục trả tiền lãi phát sinh theo hợp đồng tín dụng và giấy nhận nợ đã ký kết, kể từ ngày 28.9.2024 cho đến khi thanh toán xong nợ. Trường hợp Hộ kinh doanh đại lý Dừa Minh P không thực hiện nghĩa vụ trả nợ thì đề nghị xử lý tài sản đảm bảo để thu hồi nợ cho Ngân hàng TMCP C.

Trong quá trình tố tụng, bị đơn Hộ kinh doanh đại lý D1 - Chủ hộ là ông Hoàng Thế L trình bày:

Ông Hoàng Thế L - Chủ Hộ kinh doanh D1 xác nhận có vay của Ngân hàng TMCP C số tiền 5.000.000.000 đồng. Đồng thời xác nhận còn nợ số tiền theo như yêu cầu khởi kiện Ngân hàng TMCP C là đúng. Do gặp khó khăn trong việc kinh doanh nên ông Hoàng Thế L không thể thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ như đã thỏa thuận. Vì vậy, ông Hoàng Thế L đề nghị Ngân hàng TMCP C tạo điều kiện cho ông Hoàng Thế L một khoảng thời gian để tìm cách xử lý tài sản bảo đảm nhằm trả nợ cho Ngân hàng.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Trần Thị H, ông Nguyễn Xuân Đ và bà Nguyễn Phước Thu H1 đã được Tòa án thực hiện việc thông báo thụ lý vụ án, yêu cầu cung cấp bản tự khai, tham gia phiên họp công khai chứng cứ và hòa giải nhưng không có ý kiến phản hồi.

Tại phiên tòa:

Nguyên đơn Ngân hàng TMCP C giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và tự nguyện chịu chi phí, xem xét thẩm định tại chỗ đối với tài sản thế chấp.

Bị đơn Hộ kinh doanh đại lý D1 giữ nguyên ý kiến;

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là các ông (bà) Trần Thị H, Nguyễn Xuân Đ, Nguyễn Phước Thu H1 đã được triệu tập để tham gia tố tụng nhưng vắng mặt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu phát biểu ý kiến:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm mở phiên tòa và tại phiên tòa: Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về việc chấp hành pháp luật tố tụng: Các đương sự đã được đảm bảo các quyền, nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung giải quyết: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP C. Buộc Hộ kinh doanh đại lý D1 do ông Hoàng Thế L làm chủ hộ phải trả cho Ngân hàng TMCP C số tiền tạm tính đến ngày 27.9.2025 tổng cộng là 5.993.770.914 đồng (nợ gốc 5.000.000.000 đồng, tiền lãi trong hạn 714.735.209 đồng, tiền lãi quá hạn 279.035.705 đồng) và phải trả tiền lãi phát sinh theo hợp đồng đã ký kết, kể từ ngày 28.9.2024 cho đến khi thanh toán xong nợ. Trường hợp Hộ kinh doanh đại lý Dừa Minh P không thực hiện nghĩa vụ trả nợ thì đề nghị xử lý tài sản đảm bảo để thu hồi nợ cho Ngân hàng TMCP C.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Về quan hệ tranh chấp: Ngân hàng TMCP C khởi kiện yêu cầu Hộ kinh doanh đại lý D1 - Chủ hộ là ông Hoàng Thế L (cá nhân) phải thanh toán nợ theo Hợp đồng tín dụng. Các bên tham gia quan hệ tín dụng đều là tổ chức, cá nhân có đăng ký kinh doanh, hoạt động vì mục đích lợi nhuận. Căn cứ khoản 1 Điều 30 Bộ luật Tố tụng dân sự, đây là tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh, thương mại thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân cấp huyện theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[1.2] Về thẩm quyền giải quyết: Hộ kinh doanh đại lý Dừa Minh P đăng ký trụ sở tại quận S, thành phố Đà Nẵng và chủ hộ kinh doanh cũng cư trú tại quận S, thành phố Đà Nẵng. Tại khoản 10.5 Điều 10 của Hợp đồng cho vay hạn mức số: 3017763035/2022/HĐCVHM/NHCT490 ngày 09.8.2022, các bên cũng không thỏa luận lựa chọn Tòa án có thẩm quyền giải quyết tranh chấp theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự. Tuy nhiên, khoản vay theo hợp đồng nói trên được giải ngân tại Ngân hàng TMCP C - Chi nhánh S có địa chỉ tại quận H, thành phố Đà Nẵng. Căn cứ điểm g khoản 1 Điều 40 của Bộ luật Tố tụng dân sự và Hướng dẫn tại Văn bản số: 212/TANDTC-PC ngày 13.9.2019 của Tòa án nhân dân tối cao thì Ngân hàng TMCP C lựa chọn Tòa án nơi thực hiện hợp đồng giải quyết và Tòa án nhân dân quận Hải Châu thụ lý vụ án là đúng thẩm quyền.

[1.3] Về sự vắng mặt của đương sự: Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là các ông (bà) Trần Thị H, Nguyễn Xuân Đ và Nguyễn Phước Thu H1 đã được đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để tham gia tố tụng tại phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ các Điều 227 và 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan theo thủ tục chung.

[2] Về nội dung:

[2.1] Về việc xác lập hợp đồng:

Hợp đồng cho vay hạn mức số: 3017763035/2022/HĐCVHM/NHCT490 mà Hộ kinh doanh đại lý D1 ký với Ngân hàng TMCP C ngày 09.8.2022 thỏa mãn các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng dân sự theo quy định tại các Điều 117, 119 của Bộ luật Dân sự năm 2015 và phù hợp với quy định của Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) nên có hiệu lực pháp luật đối với các bên tham gia quan hệ hợp đồng.

[2.2] Về nghĩa vụ thanh toán, xét thấy:

Hợp đồng cho vay hạn mức số: 3017763035/2022/HĐCVHM/NHCT490 ngày 09.8.2022, giữa Ngân hàng TMCP C và Hộ kinh doanh đại lý D1 có mục đích cho vay là bổ sung vốn lưu động phục vụ kinh doanh; phương thức cho vay trả gốc cuối kỳ và trả lãi hàng tháng. Tổng số tiền đã giải ngân theo các Giấy nhận nợ số: 3017763056223 ngày 06.02.2023; 3017763058223 ngày 08.02.2023; 3017763059223 ngày 09.02.2023; 30177630514223 ngày 14.02.2023 và 30177630521223 ngày 21.02.2023 là 5.000.000.000 đồng; thời hạn vay là 06 tháng; lãi suất vay trong hạn là 9%/năm; lãi suất được cố định trong suốt thời gian vay; lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn. Tại Điều 3 của Hợp đồng cho vay hạn mức số: 3017763035/2022/HĐCVHM/NHCT490 ngày 09.8.2022 và các Giấy nhận nợ đã quy định về trả nợ gốc và lãi, cụ thể là: “Trả nợ gốc khi đến hạn; trả nợ lãi 01 tháng/lần vào ngày 25 hàng tháng, ngày trả nợ đầu tiên là ngày 25.02.2023”. Quá trình thực hiện hợp đồng, H2 kinh doanh đại lý Dừa Minh P chưa thanh toán được khoản tiền nào. Do Hộ kinh doanh đại lý D1 vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên Ngân hàng TMCP C đã chuyển khoản vay sang nợ quá hạn là đúng với quy định tại Điều 5 của Hợp đồng cho vay hạn mức nói trên. Tính đến ngày 27.9.2024, Hộ kinh doanh đại lý D1 còn nợ Ngân hàng TMCP C số tiền là 5.993.770.914 đồng (nợ gốc 5.000.000.000 đồng, tiền lãi trong hạn 714.735.209 đồng, tiền lãi quá hạn 279.035.705 đồng).

Căn cứ quy định tại các Điều 100, 103 và 209 Luật các Tổ chức tín dụng năm 2024 và Điều 463, 466 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì Ngân hàng TMCP C khởi kiện yêu cầu bên vay thanh toán nợ là có căn cứ cần được chấp nhận. Do đó, buộc H2 kinh doanh đại lý Dừa Minh P phải trả cho Ngân hàng TMCP C số tiền tạm tính đến ngày 27.9.2024 là 5.993.770.914 đồng và phải tiếp tục trả tiền lãi phát sinh, kể từ ngày 28.9.2024 cho đến khi thanh toán xong nợ theo mức lãi suất mà các bên đã thỏa thuận tại Hợp đồng cho vay hạn mức số: 3017763035/2022/HĐCVHM/NHCT490 ngày 09.8.2022.

[2.3] Về xử lý tài sản bảo đảm:

Để bảo đảm khoản vay của Hộ kinh doanh đại lý D1, ông Hoàng Thế L đã thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất là nhà ở tại thửa đất số 165, tờ bản đồ số 04, tổ B, phường K, quận N, thành phố Đà Nẵng (nay là số H Hồ X, phường K, quận N, thành phố Đà Nẵng). Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: A; số vào sổ cấp GCN: H07311 do Ủy ban nhân dân quận N cấp ngày 12.6.2009 đứng tên ông Hoàng Thế L theo Hợp đồng thế chấp bất động sản số: 3017763035/2021/HĐBĐ/NHCT490 ngày 04.8.2021. Tại thời điểm thế chấp quyền sử dụng đất, trên đất đã có nhà ở (số tầng: 01 tầng + lửng; diện tích sàn: 69,70 m²; cấu trúc: móng, cột, khung dầm sàn bê tông cốt thép, tường xây, mái lợp tôn + lợp ngói) được xây dựng theo Giấy phép xây dựng số: 1053/GPXD do Ủy ban nhân dân quận N cấp ngày 23.7.2015 nhưng chưa làm thủ tục công nhận tài sản gắn liền với đất. Tuy nhiên, khi ký hợp đồng thế chấp bất động sản, các bên đã thỏa thuận: Các tài sản gắn liền với thửa đất cho dù tài sản đó đang được bên thế chấp sở hữu hay sẽ sở hữu trong tương lai cũng đều thuộc tài sản thế chấp. Xét thấy, tài sản thế chấp đã được đăng ký theo đúng quy định của pháp luật nên có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký. Hộ kinh doanh đại lý D1 do cá nhân ông Hoàng Thế L là chủ thể thành lập. Trường hợp Hộ kinh doanh đại lý D1 không trả được nợ, thì tài sản đã thế chấp sẽ được xử lý để thu hồi nợ như đề nghị của Ngân hàng TMCP C là phù hợp với quy định tại Điều 298, 299, 318, 319 và 323 Bộ luật Dân sự cần được chấp nhận.

[3] Về chi phí tố tụng: Chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ đối với tài sản thế chấp là 2.000.000 đồng, Ngân hàng TMCP C tự nguyện chịu và đã thực hiện xong nên không đề cập giải quyết.

[4] Về án phí: Căn cứ Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30.12.2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu và quản lý sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Do yêu cầu của Ngân hàng TMCP C được chấp nhận nên Hộ kinh doanh đại lý D1 phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm theo quy định.

[5] Xét ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu về việc giải quyết vụ án là phù hợp với quy định của pháp luật cũng như nhận định của Hội đồng xét xử cần được chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 30; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm g khoản 1 Điều 40; Điều 147, 157, 158, 227, 228, 266, 269 và 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

- Căn cứ vào Điều 100, 103 và 209 Luật các Tổ chức tín dụng năm 2024;

- Căn cứ vào Điều 298, 299, 317, 318, 319, 323, 463 và 466 Bộ luật Dân sự năm 2015;

- Căn cứ Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30.12.2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” của Ngân hàng TMCP C đối với Hộ kinh doanh đại lý D1.

Xử:

1. Về nghĩa vụ thanh toán: Buộc Hộ kinh doanh đại lý D1 - Chủ hộ là ông Hoàng Thế L phải trả cho Ngân hàng TMCP C số tiền tính đến ngày 27.9.2024 là 5.993.770.914 đồng (Trong đó: nợ gốc là 5.000.000.000 đồng, tiền lãi trong hạn là 714.735.209 đồng, tiền lãi quá hạn là 279.035.705 đồng).

Tiền lãi tiếp tục được tính, kể từ ngày 28.9.2024 cho đến khi H3 nợ theo mức lãi suất mà các bên đã thỏa thuận tại Hợp đồng cho vay hạn mức số: 3017763035/2022/HĐCVHM/NHCT490 ngày 09.8.2022.

Sau khi H2 kinh doanh đại lý Dừa Minh P thực hiện xong nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng TMCP C phải trả lại cho ông Hoàng Thế L bản gốc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: A; số vào sổ cấp GCN: H07311 do Ủy ban nhân dân quận N cấp ngày 12.6.2009 đứng tên ông Hoàng Thế L (trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác).

2. Về xử lý tài sản bảo đảm: Trường hợp Hộ kinh doanh đại lý D1 không trả được nợ thì tài sản đã thế chấp là quyền sử dụng đất (diện tích 93,00 m²) và tài sản gắn liền với đất (nhà ở: 01 tầng + lửng; diện tích sàn: 69,70 m²; cấu trúc: móng, cột, khung dầm sàn bê tông cốt thép, tường xây, mái lợp tôn + lợp ngói) tại thửa đất số 165; tờ bản đồ số 04; địa chỉ H Hồ X, phường K, quận N, thành phố Đà Nẵng. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: A; số vào sổ cấp GCN: H07311 do Ủy ban nhân dân quận N cấp ngày 12.6.2009 đứng tên ông Hoàng Thế L sẽ được xử lý để thu hồi nợ cho Ngân hàng TMCP C theo quy định của pháp luật.

3. Về án phí: Buộc Hộ kinh doanh đại lý D1 - Chủ hộ là ông Hoàng Thế L phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm là 113.993.770 đồng.

4. Về quyền kháng cáo:

Nguyên đơn Ngân hàng TMCP C, bị đơn Hộ kinh doanh đại lý D1 có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị H, ông Nguyễn Xuân Đ, bà Nguyễn Phước Thu H1 vắng tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - VKSND quận Hải Châu;
  • - Chi cục THADS quận Hải Châu;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Phạm Văn Diện

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 47/2024/KDTM-ST ngày 27/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU - TP. ĐÀ NẴNG về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 47/2024/KDTM-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/09/2024
  • Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU - TP. ĐÀ NẴNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Về nghĩa vụ thanh toán: Buộc Hộ kinh doanh đại lý Dừa Minh Phát - Chủ hộ là ông Hoàng Thế Long phải trả cho Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam số tiền tính đến ngày 27.9.2024 là 5.993.770.914 đồng (Trong đó: nợ gốc là 5.000.000.000 đồng, tiền lãi trong hạn là 714.735.209 đồng, tiền lãi quá hạn là 279.035.705 đồng)
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger