Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN QUẢNGXƯƠNG

TỈNH THANH HÓA

Bản án số: 47/2024/HS-ST

Ngày: 25 - 9 - 2024

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG XƯƠNG, TỈNH THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đào Thị Thu Thủy

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Bùi Sỹ Thắng

Ông Lê Văn Lợi

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thu - Là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Quảng Xương.

- Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Xương tham gia phiên tòa:

Ông Đỗ Công Hoàng - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 47/2024/HSST ngày 04/9/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 48/2024/HSST - QĐ ngày 10 tháng 9 năm 2024 đối với các bị cáo:

1. Trần Văn H - sinh ngày 14/8/1995.

Nơi ĐKNKTT và nơi ở hiện tại: xã C, huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Công giáo; quốc tịch: Việt Nam; giới tính: Nam; con ông Trần Văn T và bà Lê Thị X; Có vợ là Lê Thị Hồng N và 01 con; tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 28/3/2024 đến ngày 04/4/2024 chuyển tạm giam. Hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

2. Nguyễn Đức T - sinh ngày 01/9/1999.

Nơi ĐKNKTT và nơi ở hiện tại: xã G, huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; giới tính: Nam; con ông Nguyễn Đức V và bà Hoàng Thị D; vợ con: Chưa có; tiền sự: Không.

Tiền án: 01

Năm 2021 bị Tòa án nhân dân huyện Dĩ An, tỉnh Bình Dương xử phạt 01 năm tù về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Chấp hành xong hình phạt ngày 03/4/2022; chấp hành xong án phí ngày 04/4/2022.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 28/3/2024 đến ngày 04/4/2024 chuyển tạm giam. Hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

* Người làm chứng:

  • - Anh Nguyễn Đức S - sinh ngày 01/01/1997 (vắng mặt).
  • Địa chỉ: xã G, huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa.
  • - Chị Nguyễn Thị N - sinh ngày 15/09/2001 (vắng mặt).
  • Địa chỉ: xã N, huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa.
  • - Chị Uông Thị T1 - sinh ngày 03/10/2003 (vắng mặt).
  • Địa chỉ: xã B, huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 03giờ 20 phút ngày 28/03/2024 tổ công tác Đội CSĐT tội phạm về Kinh tế - Ma tuý Công an huyện Quảng Xương cùng Đội QLHC về TTXH và Công an xã Quảng Khê đang làm việc tại địa bàn xã Quảng Khê thì nhận được tin báo của quần chúng nhân dân với nội dung: Tại quán Karaoke Oxy ở thôn 6, xã Quảng Khê, huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa có nhóm nam, nữ có biểu hiện sử dụng trái phép chất ma tuý. Tổ công tác triển khai lực lượng xác minh và phát hiện tại phòng Vip 2 quán Karaoke Oxy có 06 người (03 nam, 03 nữ) gồm: Trần Văn H (ở xã C, huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hoá); Nguyễn Đức T (ở xã G, huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa); Nguyễn Đức S (ở xã G, huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa); Nguyễn Thị N (ở xã N, huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa); Uông Thị T1 (ở, xã B, huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa) và Nguyễn Thị T2 (ở xã C, huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa) đang sử dụng trái phép chất ma tuý.

Tại chỗ phát hiện: Trên mặt bàn giữa phòng có 01 tờ tiền mệnh giá 5000₫, một mặt tờ tiền có bám dính chất bột màu trắng (nghi Ketamine); 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long. Ngoài ra, lực lượng Công an còn thu giữ của Trần Văn H 01 điện thoại di động hiệu Iphone 12 Pro max, gắn sim số 0966028295; thu giữ của Nguyễn Đức T 01 điện thoại di động hiệu Iphone 14 Pro Max, gắn sim số 0335009456; thu giữ của Nguyễn Đức S 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11 Pro, gắn sim số 0879034790; thu giữ của Nguyễn Thị N 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11 Pro, gắn sim số 0975268574; thu giữ của Uông Thị T1 01 điện thoại di động hiệu Iphone 14 Pro, gắn sim số 0967031003; thu giữ của Nguyễn Thị T2 01 điện thoại di động hiệu Iphone 12 Pro max, gắn sim số 0937482003. Sau đó, tổ công tác đã tiến hành lập biên bản, thu giữ và niêm phong vật chứng theo quy định.

Quá trình điều tra xác định: Khoảng 23giờ 30 phút ngày 27/03/2024, sau khi ăn uống tại quán Zozo ở xã Tiên Trang, huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa; Trần Văn H, Nguyễn Đức T, Nguyễn Đức S, Nguyễn Thị N, Uông Thị T1 và Nguyễn Thị T2 đến quán Karaoke Oxy ở thôn 6, xã Quảng Khê, huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa hát Karaoke. Khi đến quán, cả nhóm được Dương Văn T3 (ở xã T, huyện Quảng Xương) là quản lý quán, sắp xếp vào phòng Vip 2 của quán để hát. Đến khoảng 23giờ 50 phút cùng ngày; H nói với T, S, N, T1 là “lấy kẹo về chơi” (ý là rủ T, S, N, T1 mua thuốc lắc về sử dụng); T nghe và cười đồng ý. Thấy S, N, T1 không nói gì, H cho là mọi người đồng ý nên gọi cho Nguyễn Văn H1 (ở xã C, huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa) qua ứng dụng Messenger nhờ H1 mua hộ 03 viên thuốc lắc. H1 đồng ý và bảo H đến cầu Sông Lý thuộc xã Quảng Chính, huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa sẽ có người đến bán ma túy. H một mình đi đến khu vực cầu Sông Lý, tại đây H gặp một nam thanh niên khoảng 20 tuổi, dáng người nhỏ gầy, đi xe mô tô Wave Alpha (H không nhớ biển kiểm soát) và mua được của nam thanh niên này 03 viên thuốc lắc với giá 1.200.000₫ (H đưa tiền mặt). H cầm số ma túy mua được mang về phòng Vip 2 quán Karaoke Oxy rồi lấy 01 viên thuốc lắc đưa cho T; T cầm viên thuốc lắc bẻ đôi sử dụng một nửa, nửa còn lại T đưa cho N sử dụng. H bẻ đôi 01 viên thuốc lắc đưa cho S, T1 mỗi người một nửa để sử dụng, còn 01 viên thuốc lắc H bẻ đôi sử dụng một nửa bằng cách uống chung với nước lọc; nửa viên thuốc lắc còn lại để trên bàn.

Sau khi sử dụng thuốc lắc, cả nhóm ngồi nghe nhạc đến khoảng 01 giờ ngày 28/03/2024, H lại nói với mọi người trong phòng mua thêm Ketamine về sử dụng, T gật đầu đồng ý. Sau đó H tiếp tục gọi điện qua ứng dụng Messenger cho Nguyễn Văn H1, hỏi H1 biết chỗ nào mua được nửa chỉ Ketamine không?; H1 nói với H đến cầu Sông Lý sẽ có người đến bán ma túy cho H. Sau đó, H đi đến khu vực cầu Sông Lý gặp được một người đàn ông khoảng 30 tuổi (H không biết tên, tuổi, địa chỉ) và mua được của người đàn ông trên nửa chỉ Ketamine với giá 1.500.000₫ (H đưa tiền mặt) được bọc trong tờ tiền 5000đ bỏ trong vỏ bao thuốc lá Thăng Long. H cầm số ma túy mua được mang về phòng Vip 2 để lên bàn trong phòng. T chủ động mở vỏ bao thuốc lá Thăng Long ra thấy Ketamine bọc trong tờ tiền 5000đ đã được “xào” sẵn. T dùng móng tay xúc Ketamine lần lượt cho H, T1, S, T sử dụng bằng hình thức hít trực tiếp, rồi để tờ tiền 5000đ có Ketamine lên bàn. Sau đó, cả nhóm nằm nghe nhạc đến khoảng 03giờ 45 phút cùng ngày thì lực lượng Công an vào kiểm tra phát hiện sự việc.

* Kết quả trưng cầu giám định:

Cơ quan CSĐT Công an huyện Quảng Xương đã trưng cầu Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa giám định chất ma túy trong mẫu nước tiểu của 06 đối tượng trên và chất nghi là ma túy bám dính trên tờ tiền thu được. Tại bản Kết luận giám định số 1131,1132/KL - KTHS ngày 02/4/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa kết luận:

  • - Chất bột màu trắng bám dính trên bề mặt tờ tiền mệnh giá 5.000đ (Năm nghìn đồng) của phong bì niêm phong ký hiệu M1 gửi giám định là ma tuý, có tổng khối lượng 0,007g (Không phẩy không không bảy gam) loại: Ketamine.
  • - Tìm thấy chất ma túy, loại: Ketamine, MDMA trong mẫu nước tiểu thu của Trần Văn H, Nguyễn Đức T, Nguyễn Đức S và Uông Thị T1.
  • - Tìm thấy chất ma túy, loại: MDMA trong mẫu nước tiểu thu được của Nguyễn Thị N.
  • - Không tìm thấy chất ma túy, loại: Ketamine, Methamphetamine, MDMA, Amphetamine trong mẫu nước tiểu thu được của Nguyễn Thị T2.

* Vật chứng của vụ án gồm:

  • - 01 tờ tiền mệnh giá 5000đ (Năm nghìn đồng).
  • - 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long không còn giá trị sử dụng.
  • - 01 điện thoại di động hiệu Iphone 12 Pro max, gắn sim số 0966028295 thu giữ của Trần Văn H là phương tiện phạm tội.
  • - 01 điện thoại di động hiệu Iphone 14 Pro Max, gắn sim số 0335009456 thu giữ của Nguyễn Đức T, không liên quan đến vụ án, Cơ quan CSĐT Công an huyện đã ra quyết định xử lý đồ vật, tài liệu trả lại cho bà Hoàng Thị D (ở xã G, huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa - Là người được T ủy quyền nhận lại) là đúng quy định.
  • - Đối với 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11 Pro, gắn sim số 0879034790 thu giữ của Nguyễn Đức S; 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11 Pro, gắn sim số 0975268574 thu giữ của Nguyễn Thị N; 01 điện thoại di động hiệu Iphone 14 Pro, gắn sim số 0967031003 thu giữ của Uông Thị T1; 01 điện thoại di động hiệu Iphone 12 Pro max, gắn sim số 0937482003 thu giữ của Nguyễn Thị T2, không liên quan đến vụ án, Cơ quan CSĐT Công an huyện Quảng Xương đã ra quyết định xử lý đồ vật tài liệu trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp là đúng quy định.

* Các tình tiết khác của vụ án:

  • - Đối với nam thanh niên khoảng 20 tuổi bán 03 viên thuốc lắc (MDMA) lấy 1.200.000đ và người đàn ông khoảng 30 tuổi đã bán nửa chỉ Ketamine cho H lấy 2.000.000đ tại khu vực cầu Sông Lý (theo H khai báo là do Nguyễn Văn H1 giới thiệu). Cả hai người này H lần đầu tiên gặp, không biết tên, tuổi địa chỉ cụ thể của những người này. Cơ quan CSĐT Công an huyện Quảng Xương đã nhiều lần triệu tập Nguyễn Văn H1 đến làm việc. Tuy nhiên, H1 vắng mặt tại địa phương, gia đình và địa phương hiện không biết H1 đang ở đâu nên Cơ quan CSĐT chưa xác định được 02 người đàn ông đã bán ma túy cho H vào ngày 28/3/2024 để xử lý. Do hết thời hạn điều tra nên CQCSĐT Công an huyện Quảng Xương đã tách hành vi của H1, sẽ tiếp tục điều tra, xác minh và xử lý các đối tượng khi có căn cứ.
  • - Đối với Nguyễn Đức S, Nguyễn Thị N, Uông Thị T1 đã có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, Cơ quan CSĐT Công an huyện Quảng Xương đã chuyển hồ sơ cùng tài liệu liên quan đề nghị Công an huyện Quảng Xương ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính theo quy định tại khoản 1 Điều 23 Nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021.
  • - Đối với Đỗ Viết T4 (có HKTT: xã T, TX.Nghi S, tỉnh Thanh Hóa) là chủ quán, Dương Văn T3 (ở xã T, huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa) là quản lý quán Karaoke Oxy. T4 và T3 không biết việc Trần Văn H cùng đồng phạm tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy nên hành vi của T4, T3 không cấu thành tội phạm. Cơ quan CSĐT Công an huyện Quảng Xương đã chuyển hồ sơ cùng tài liệu liên quan đề nghị Công an huyện Quảng Xương ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Người đứng đầu, người đại diện theo pháp luật, người được giao quản lý cơ sở kinh doanh, dịch vụ để xảy ra hoạt động tàng trữ, mua bán, sử dụng trái phép chất ma túy trong khu vực do mình quản lý” theo quy định tại điểm a, khoản 4, Điều 23 Nghị định 144/2021/NĐ - CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ là phù hợp.

Tại bản Cáo trạng số 48/CTr - VKSQX ngày 04/9/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Xương đã truy tố các bị cáo Trần Văn H và Nguyễn Đức T về tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 BLHS.

Tại phiên tòa đại diện VKSND huyện Quảng Xương giữ nguyên quyết định truy tố các bị cáo Trần Văn H và Nguyễn Đức T về tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 BLHS và đề nghị HĐXX:

Căn cứ: Điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 17; Điều 58 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Trần Văn H; xử phạt bị cáo Trần Văn H từ 07 năm 06 tháng đến 07năm 09 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 28/3/2024.

Căn cứ: Điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 17; Điều 58 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Đức T; xử phạt bị cáo Nguyễn Đức T từ 07 năm 06 tháng đến 07năm 09 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 28/3/2024.

Về hình phạt bổ sung: Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

Về xử lý vật chứng của vụ án:

  • - Tịch thu tiêu hủy 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long là công cụ thực hiện hành vi phạm tội.
  • - Tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước 01 tờ tiền mệnh giá 5.000đ (bọc Ketamine đã được “xào” sẵn), tờ tiền còn nguyên giá trị.
  • - Tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Iphone 12 Pro Max của Trần Văn H gắn sim số 0966028295; số IMEI 1: 352850792939722; số IMEI 2: 352850792942833 là công cụ phạm tội.

Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Các bị cáo nhận tội, không có ý kiến tranh luận, chỉ xin HĐXX xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi và quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Quảng Xương, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Xương, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục và tuân thủ đúng quy định của pháp luật. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Xét về hành vi của các bị cáo thấy rằng: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai của các bị cáo phù hợp với lời khai của người làm chứng, Biên bản khám xét, kết luận giám định, vật chứng thu giữ được, cùng các tài liệu khác phản ánh trong hồ sơ vụ án. Đủ cơ sở xác định: Ngày 28/3/2024 tại quán Karaoke Oxy ở thôn 6, xã Quảng Khê, huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa; Trần Văn H và Nguyễn Đức T đã có hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy MDMA và Ketamine cho H, T và 03 người khác là Nguyễn Đức S, Nguyễn Thị N và Uông Thị T1.

Như vậy các bị cáo Trần Văn H và Nguyễn Đức T đã có hành vi tổ chức đưa trái phép chất ma túy vào cơ thể của chính mình và của 03 người. Hành vi nêu trên của các bị cáo đã phạm vào tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” với tình tiết định khung là “Đối với 02 người trở lên” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật hình sự. Vì vậy Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Xương truy tố các bị cáo về tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 255 của BLHS là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[3] Đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo:

Tính chất vụ án là rất nghiêm trọng; hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những trực tiếp xâm phạm đến chế độ quản lý của Nhà nước về chất ma túy mà còn gây mất trật tự an toàn xã hội, gây tâm lý hoang mang, bất bình trong nhân dân. Tệ nạn ma túy không những làm hủy hoại đến sức khỏe, làm mất khả năng lao động, học tập của con người mà còn là điều kiện làm nảy sinh, lan truyền đại dịch HIV/AIDS. Các bị cáo tuổi đời còn trẻ, nhưng không chịu khó học tập, rèn luyện bản thân mà ham chơi, thích hưởng thụ, sống buông thả, bất chấp pháp luật để phạm tội. Vì vậy cần phải xử lý nghiêm, cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục và phòng ngừa chung.

Trong vụ án này, các bị cáo phạm tội thuộc trường hợp đồng phạm giản đơn, trong đó Trần Văn H có vai trò tích cực, là người khởi xướng, rủ rê trực tiếp đi mua ma túy nên giữ vai trò thứ nhất trong vụ án. Nguyễn Đức T giúp sức cho H trong việc trực tiếp đưa ma túy cho mọi người sử dụng nên giữ vai trò thứ hai trong vụ án.

[4] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.

  • - Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo và tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
  • - Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo Trần Văn H không có tình tiết tăng nặng. Bị cáo Nguyễn Đức T đang có tiền án về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, chưa được xóa án tích nên lần phạm tội này của bị cáo T thuộc trường hợp tái phạm là tình tiết tăng nặng quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của BLHS.

[5] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy các bị cáo không có tài sản, không có nghề nghiệp ổn định và việc các bị cáo sử dụng trái phép chất ma túy không vì mục đích vụ lợi, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 255 của BLHS đối với các bị cáo.

[6] Về xử lý vật chứng của vụ án:

  • - Tịch thu tiêu hủy 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long là công cụ thực hiện hành vi phạm tội.
  • - Tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước 01 tờ tiền mệnh giá 5.000đ (tờ tiền bọc Ketamine đã được “xào” sẵn), tờ tiền còn nguyên giá trị.
  • - Tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Iphone 12 Pro Max của Trần Văn H gắn sim số 0966028295; số IMEI 1: 352850792939722; số IMEI 2: 352850792942833 là công cụ phạm tội.

[7] Về các tình tiết liên quan đến vụ án:

  • - 01 điện thoại di động hiệu Iphone 14 Pro Max, gắn sim số 0335009456 thu giữ của Nguyễn Đức T, không liên quan đến vụ án, Cơ quan CSĐT Công an huyện đã ra Quyết định xử lý đồ vật, tài liệu trả lại cho bà Hoàng Thị D (ở xã G, huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa - Là người được T ủy quyền nhận lại) là phù hợp.
  • - Đối với 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11 Pro, gắn sim số 0879034790 thu giữ của Nguyễn Đức S; 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11 Pro, gắn sim số 0975268574 thu giữ của Nguyễn Thị N; 01 điện thoại di động hiệu Iphone 14 Pro, gắn sim số 0967031003 thu giữ của Uông Thị T1; 01 điện thoại di động hiệu Iphone 12 Pro max, gắn sim số 0937482003 thu giữ của Nguyễn Thị T2, không liên quan đến vụ án, Cơ quan CSĐT Công an huyện Quảng Xương đã ra Quyết định xử lý đồ vật tài liệu trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp là phù hợp.
  • - Đối với nam thanh niên khoảng 20 tuổi bán 03 viên thuốc lắc (MDMA) lấy 1.200.000đ và người đàn ông khoảng 30 tuổi đã bán nửa chỉ Ketamine cho H lấy 2.000.000đ tại khu vực cầu Sông Lý (theo H khai báo là do Nguyễn Văn H1 giới thiệu). Cả hai người này H lần đầu tiên gặp, không biết tên, tuổi địa chỉ cụ thể của những người này. Cơ quan CSĐT Công an huyện Quảng Xương đã nhiều lần triệu tập Nguyễn Văn H1 đến làm việc. Tuy nhiên, H1 vắng mặt tại địa phương, gia đình và địa phương hiện không biết H1 đang ở đâu nên Cơ quan CSĐT chưa xác định được 02 người đàn ông đã bán ma túy cho H vào ngày 28/3/2024 để xử lý. Do hết thời hạn điều tra nên CQCSĐT Công an huyện Quảng Xương đã tách hành vi của H1, sẽ tiếp tục điều tra, xác minh và xử lý các đối tượng khi có căn cứ.
  • - Đối với Nguyễn Đức S, Nguyễn Thị N, Uông Thị T1 đã có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, Cơ quan CSĐT Công an huyện Quảng Xương đã chuyển hồ sơ cùng tài liệu liên quan đề nghị Công an huyện Quảng Xương ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính theo quy định tại khoản 1 Điều 23 Nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021.
  • - Đối với Đỗ Viết T4 (có HKTT: xã T, TX.Nghi S, tỉnh Thanh Hóa) là chủ quán, Dương Văn T3 (ở xã T, huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa) là quản lý quán Karaoke Oxy. T4 và T3 không biết việc Trần Văn H cùng đồng phạm tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy nên hành vi của T4, T3 không cấu thành tội phạm. Cơ quan CSĐT Công an huyện Quảng Xương đã chuyển hồ sơ cùng tài liệu liên quan đề nghị Công an huyện Quảng Xương ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Người đứng đầu, người đại diện theo pháp luật, người được giao quản lý cơ sở kinh doanh, dịch vụ để xảy ra hoạt động tàng trữ, mua bán, sử dụng trái phép chất ma túy trong khu vực do mình quản lý” theo quy định tại điểm a, khoản 4, Điều 23 Nghị định 144/2021/NĐ - CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ là phù hợp.

[8] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 17; Điều 58 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Trần Văn H.

Căn cứ: Điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 17; Điều 58 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Đức T.

Tuyên bố: Các bị cáo Trần Văn H và Nguyễn Đức T phạm tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Các bị cáo Trần Văn H và Nguyễn Đức T mỗi bị cáo 07 năm 06 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 28/3/2024.

Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46;điểm a,c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 89; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự 2015:

  • - Tịch thu tiêu hủy 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long là công cụ thực hiện hành vi phạm tội.
  • - Tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước 01 tờ tiền mệnh giá 5.000đ (tờ tiền bọc Ketamine đã được “xào” sẵn), tờ tiền còn nguyên giá trị.
  • - Tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Iphone 12 Pro Max của Trần Văn H gắn sim số 0966028295; số IMEI 1: 352850792939722; số IMEI 2: 352850792942833 là công cụ phạm tội.

(Vật chứng trên hiện đang tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quảng Xương theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 24/9/2024).

Về án phí: Căn cứ Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự 2015. Khoản 1 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng Án phí và Lệ phí Tòa án; Mục 1, Phần I Danh mục án phí Tòa án.

Các bị cáo Trần Văn H và Nguyễn Đức T mỗi bị cáo phải nộp 200.000₫ án phí HSST.

Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án Dân sự, thời hiệu thi hành được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án Dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Thanh Hóa;
  • - VKSND huyện Quảng Xương;
  • - THADS huyện Quảng Xương;
  • - Công an huyện Quảng Xương;
  • - Các bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Đào Thị Thu Thủy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 47/2024/HS-ST ngày 25/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG XƯƠNG, TỈNH THANH HÓA về hình sự (tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy)

  • Số bản án: 47/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG XƯƠNG, TỈNH THANH HÓA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trần Văn H + ĐP phạm tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger