Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN PHÚ TÂN

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 47/2024/HS-ST

Ngày 25 tháng 9 năm 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH AN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lý Thị Rỡ.
  • Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Ngân và ông Trương Thanh Nhàn.
  • - Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trung Hiếu- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh An Giang
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Cẩm Thi - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh An Giang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 35/2024/TLST-HS ngày 06 tháng 9 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 44/2024/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 9 năm 2024, đối với bị cáo:

Nguyễn Văn H (T),

sinh ngày 26/12/1973 tại huyện P, tỉnh An Giang; nơi đăng ký thường trú: Ấp P, xã P, huyện P, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa: 02/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Công giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T1 và bà Nguyễn Thị S.

Tiền án: có 01 tiền án

Tại bản án sơ thẩm số: 20/HSST ngày 21/10/2004, bị Toà án nhân dân huyện Phú Tân xử phạt 04 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” đến năm 2008 chấp hành xong hình phạt tù, chưa nộp án phí hình sự sơ thẩm.

Tiền sự: Không.

Nhân thân:

  • - Tại bản án sơ thẩm số: 17/HSST ngày 20/5/21995, bị Toà án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh An Giang xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản công dân” và 18 tháng tù về tội “trốn khỏi nơi giam”. Tổng hợp hình phạt là 27 tháng tù, chấp hành án đến ngày 13/02/1999 được trả tự do
  • - Tại bản án sơ thẩm số: 54/HSST ngày 20/3/2000, bị Toà án nhân dân tỉnh An Giang xử phạt 04 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản công dân”, chấp hành án đến ngày 08/8/2003 được trả tự do.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 09/9/2024 đến nay, hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ - Công an huyện P (có mặt).

Bị hại: Ông Huỳnh Ngọc B, sinh năm: 1973; Nơi cư trú: Ấp P, xã P, huyện P, tỉnh An Giang (vắng mặt).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

  1. Bà Lý Thị C, sinh năm 1950; Nơi cư trú: Ấp P, xã P, huyện P, tỉnh An Giang (vắng mặt).
  2. Ông Nguyễn Văn P, sinh năm 1975; Nơi cư trú: Ấp P, xã P, huyện P, tỉnh An Giang (vắng mặt).

Người làm chứng: Ông Nguyễn Kim Đ (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 23 giờ ngày 06 tháng 4 năm 2024, H đi bộ đến nhà ông Huỳnh Ngọc B trú tại ấp P, xã P, huyện P, tỉnh An Giang. Đến nơi, H leo rào vào nhà ông B rồi mở cửa rào (cửa chỉ móc không khóa). H vào nhà lén lút lấy trộm 01 mô tơ hiệu SKT-40 và 01 cây cân điện tử loại 100kg, hiệu XK3190-T7E và 02 camera hiệu KBONE và hiệu Yoosee, mang ra để trước sân nhà ông B. H về nhà lấy xe đẩy bằng gỗ của em ruột Nguyễn Văn Phương C1 nhà ông B 40 mét đẩy đến nhà ông B. H để 01 mô tơ, 01 cân điện tử và 02 camera đã lấy trộm lên xe và đẩy về nhà bà Lý Thị C để cất giấu. Ngay sau đó H tiếp tục đẩy xe đến nhà ông B lấy trộm thêm 01 mô tơ điện hiệu GM-LJB để lên xe đẩy. Khi H đẩy ra thì ông B phát hiện và đuổi theo, H đẩy xe được khoảng 60 mét, sợ bị bắt nên H bỏ lại xe đẩy cùng mô tơ và bỏ chạy, trốn khỏi địa phương đến ngày 22/5/2024 đầu thú.

Vật chứng thu giữ: 01 mô tơ hiệu SKT-40; 01 mô tơ điện hiệu GM-LJB; 01 cây cân điện tử loại 100kg, hiệu XK3190-T7E; 0 1 camera hiệu KBONE; 01 camera hiệu Yoosee và 01 xe đẩy bằng gỗ.

Tại Kết luận định giá tài sản số 21/KL-HĐĐG.TTHS ngày 10/6/2024 của Hội đồng định giá tài sản huyện P xác định: 01 mô tơ điện hiệu GM-LJB 05 ngựa loại 3 pha, có gắn nhông chuyền tải; 01 mô tơ hiệu SKT-40, 03 ngựa, loại 3 pha, có gắn nhông chuyền tải; 01 cây cân điện tử loại 100kg, hiệu XK3190-T7E; 01 camera hiệu KBONE; 01 camera hiệu Yoosee có tổng giá trị 10.200.000 đồng.

Về trách nhiệm dân sự: bị hại đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bị cáo bồi thường gì khác.

Tại Cáo trạng số: 42/CT-VKSPT ngày 06 tháng 9 năm 2024, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân đã truy tố Nguyễn Văn H về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo Nguyễn Văn H khai nhận hành vi phạm tội như nội dung vụ án nêu trên.

Bị hại vắng mặt tại phiên toà nhưng quá trình điều tra trình bày nội dung phù hợp với Cáo trạng nêu trên.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • - Bà Lý Thị C trình bày: sau khi nghe ông Huỳnh Ngọc B kể lại sự việc bị mất trộm tài sản, bà kiểm tra trong và sau nhà bà thấy có các tang vật mà H đã lấy trộm của ông B nên trả lại cho ông B. Việc H trộm cắp tài sản của ông B thì bà hoàn toàn không biết và cũng không nghe H nói lại.
  • - Ông Nguyễn Văn P trình bày: P là em ruột của H, tối ngày 06/4/2024 H lấy xe đẩy của P đi lấy trộm khi gia đình P đang ngủ nên hoàn toàn không biết và cũng không nghe H nói lại.
  • - Đại diện Viện kiểm sát luận tội đối với bị cáo, giữ nguyên quan điểm truy tố. Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng các điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H từ 04 (bốn) đến 5 (năm) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”.

Bị cáo không tranh luận, lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng:

  • - Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì. Do đó, về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều thực hiện đúng pháp luật.
  • - Tại phiên toà, bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt, dù đã được Toà án tống đạt giấy triệu tập hợp lệ. Xét thấy, sự vắng mặt của họ không gây trở ngại đến việc xét xử của vụ án. Căn cứ Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.

[2] Về nội dung: Quá trình điều tra cũng như tại phiên toà bị cáo Nguyễn Văn H đều khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng. Lời khai nhận tội của bị cáo tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của bị hại, lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan về thời gian, địa điểm, thủ đoạn, mục đích, động cơ phạm tội và hậu quả do tội phạm gây ra, cùng các tang vật đã thu giữ, các tài liệu chứng cứ khác được

thu thập khách quan đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ căn cứ để kết luận:

Khoảng 23 giờ ngày 06/4/2024, tại nhà ông Huỳnh Ngọc B, bị cáo Nguyễn Văn H đã có hành vi lén lút chiếm đoạt 01 mô tơ điện hiệu GM-LJB 05 ngựa loại 3 pha, có gắn nhông chuyền tải; 01 mô tơ hiệu SKT-40, 03 ngựa, loại 3 pha, có gắn nhông chuyền tải; 01 cây cân điện tử loại 100kg, hiệu XK3190-T7E; 01 camera hiệu KBONE; 01 camera hiệu Yoosee có tổng giá trị 10.200.000 đồng.

Xét thấy, ngày 21/10/2004 bị cáo H bị Toà án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh An Giang xử phạt 04 năm tù giam về tội “Trộm cắp tài sản”. Tại Bản án này, H đã bị áp dụng tình tiết định khung “Tái phạm nguy hiểm”. Bị cáo đã chấp hành án xong hình phạt tù nhưng chưa thực hiện đóng tiền án phí theo quy định. Đến ngày 06/4/2024 bị cáo H tiếp tục phạm tội “Trộm cắp tài sản”, đây là hành vi tái phạm nguy hiểm được quy định tại điểm g, khoản 2, Điều 173 Bộ luật hình sự.

Hành vi của bị cáo Nguyễn Văn H đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 có khung hình phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.

[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, gây mất trật tự trị an tại địa phương, dù đã nhiều lần bị xử phạt về tội trộm cắp tài sản nhưng vẫn tiếp tục vi phạm pháp luật. Vì vậy, cần phải xét xử thật nghiêm minh mới có tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.

[4] Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Bị cáo là người trưởng thành, có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Lẽ ra phải lao động tích cực, rèn luyện tu dưỡng để trở thành công dân tốt, sống có ích cho gia đình và xã hội. Nhưng ngược lại, vì muốn có tiền tiêu xài mà không phải lao động nên bị cáo đã nhiều lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản với lỗi cố ý. Do đó, cần phải có hình phạt tương xứng với mức độ nghiêm trọng của tội phạm.

Về các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.

Về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo đầu thú, thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải. Đây là các tình tiết để giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xét thấy: Bị cáo có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Về tính chất của vụ án là nghiêm trọng, bị cáo có nhân thân xấu, có 01 tiền án về hành vi cùng loại tội. Điều đó chứng tỏ bị cáo là người rất xem thường pháp luật nên việc áp dụng hình phạt tù nghiêm khắc là cần thiết nhằm giáo dục răn đe và phòng ngừa chung. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù cách ly khỏi xã hội một thời gian là có căn cứ, được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[5] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 thì “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”. Xét thấy, bị cáo không có tài sản và thu nhập ổn định, nên Hội đồng xét xử quyết định miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

[6] Về xử lý vật chứng: 01 mô tơ điện hiệu GM-LJB 05 ngựa loại 3 pha, có gắn nhông chuyền tải; 01 mô tơ hiệu SKT-40, 03 ngựa, loại 3 pha, có gắn nhông chuyền tải; 01 cây cân điện tử loại 100kg, hiệu XK3190-T7E; 01 camera hiệu KBONE; 01 camera hiệu Yoosee, quá trình điều tra đã trả lại cho bị hại. Đối với chiếc xe đẩy bằng gỗ là tài sản của ông Nguyễn Văn P bị cáo sử dụng vào việc phạm tội ông P không biết, quá trình điều tra đã trả lại cho ông P nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết tiếp.

[7] Về trách nhiệm dân sự: Các đương sự không có yêu cầu bồi thường thiệt hại gì nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[8] Về các vấn đề khác: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Căn cứ vào điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 09/9/2024).

Căn cứ vào Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Nguyễn Văn H phải chịu 200.000đ (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Đối với bị hại và có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh An Giang;
  • - VKSND tỉnh An Giang;
  • - Sở Tư pháp tỉnh An Giang;
  • - VKSND huyện Phú Tân;
  • - Công an huyện Phú Tân;
  • - CQTHAHS Công an huyện Phú Tân;
  • - Nhà tạm giữ - Công an huyện Phú Tân;
  • - Chi cục THADS huyện Phú Tân;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án, Hành chính tư pháp.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lý Thị Rỡ

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 47/2024/HS-ST ngày 25/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH AN GIANG về hình sự sơ thẩm về tội trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 47/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger