TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MANG THÍT TỈNH VĨNH LONG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 47/2024/DS-ST
Ngày: 16/9/2024
V/v tranh chấp đòi lại tài sản
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MANG THÍT, TỈNH VĨNH LONG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thị Ngọc Bích
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Văn Phẩm
2. Ông Lê Thành Tam
Thư ký phiên toà: Bà Bùi Thị Kim Liên - Thư ký Toà án nhân dân huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mang Thít tham gia phiên tòa: Ba Dương Thị Ngọc Hương – Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 87/2024/TLST-DS ngày 04 tháng 6 năm 2024 về “Tranh chấp đòi lại tài sản”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 69/2024/QĐXXST-DS, ngày 14 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị P, sinh năm 1949 (có mặt)
Địa chỉ: Khóm F, thị trấn C, huyện M, tỉnh Vĩnh Long.
2. Bị đơn:
2.1. Ông Võ Văn T, sinh năm 1976 (vắng mặt)
2.2. Bà Trần Thị Thanh H, sinh năm 1976 (có mặt)
Cùng địa chỉ: Khóm F, thị trấn C, huyện M, tỉnh Vĩnh Long.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 23/5/2024, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, cũng như tại phiên tòa sơ thẩm nguyên đơn bà Nguyễn Thị P trình bày:
Vợ chồng ông Võ Văn T và bà Trần Thị Thanh H có mượn của bà Nguyễn Thị P tiền và vàng, cụ thể như sau:
- Ngày 05/8/2008 ông T và bà Hồng mượn của bà P 02 chỉ vàng 24K.
- Năm 2011 ông T và bà Hồng M của bà P 15.000.000 đồng, số tiền này do bà P hốt hụi mà có.
- Năm 2016 ông T và bà H thiếu tiền lãi của bà P 3.000.000 đồng.
- Năm 2016 ông T và bà Hồng mượn của bà P 1,5 chỉ vàng 24K.
- Năm 2017 ông T và bà Hồng M của bà P 7.000.000 đồng.
Các lần ông T và bà Hồng M đều có ghi giấy nợ.
Tổng cộng ông T và bà H mượn tiền gốc là 22.000.000 đồng và 3,5 chỉ vàng 24K, ông T và bà H thiếu tiền lãi là 3.000.000 đồng.
Vì vậy, nay bà Nguyễn Thị P yêu cầu Tòa án giải quyết: Buộc ông Võ Văn T và bà Trần Thị Thanh H có nghĩa vụ liên đới trả cho bà Nguyễn Thị P số tiền gốc là 22.000.000 đồng (Hai mươi hai triệu đồng) và 3,5 chỉ vàng 24K. Bà P không yêu cầu trả tiền lãi.
Trong quá trình giải quyết vụ án, cũng như tại phiên tòa sơ thẩm bị đơn bà Trần Thị Thanh H trình bày:
Ông Võ Văn T và bà Trần Thị Thanh H là vợ chồng, trước đây ông T và bà H có mượn của bà Nguyễn Thị P tiền và vàng, cụ thể như sau:
- Ngày 05/8/2008 ông T và bà Hồng mượn của bà P 02 chỉ vàng 24K.
- Năm 2011 ông T và bà Hồng M của bà P 15.000.000 đồng.
- Năm 2016 ông T và bà H thiếu tiền lãi của bà P 3.000.000 đồng.
- Năm 2016 ông T và bà Hồng mượn của bà P 1,5 chỉ vàng 24K (bà P tự ghi vào sổ tên là Võ Thị H1)
- Năm 2017 ông T và bà Hồng M của bà P 7.000.000 đồng.
Tổng cộng ông T và bà H1 mượn tiền gốc của bà P là 22.000.000 đồng và 3,5 chỉ vàng 24K, ông T và bà H1 thiếu tiền lãi là 3.000.000 đồng. Các lần mượn tiền và vàng của bà P, bà H1 sử dụng vào mục đích chi tiêu trong gia đình.
Nay qua yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị P, bà H1 đồng ý cùng ông Võ Văn T trả cho bà Nguyễn Thị P số tiền gốc là 22.000.000 đồng (Hai mươi hai triệu đồng) và 3,5 chỉ vàng 24K. Tuy nhiên, do điều kiện gia đình khó khăn nên bà H1 xin trả dần đối với số tiền mỗi tháng là 1.000.000 đồng; đối với số vàng thì 03 tháng trả 0,5 chỉ vàng 24K cho đến khi hết nợ.
Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án có thông báo cho bị đơn ông Võ Văn T biết việc thụ lý vụ án cũng như yêu cầu của nguyên đơn. Nhưng ông T không có văn bản trả lời, không có yêu cầu phản tố và vắng mặt tại tất cả các phiên họp về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; vắng mặt tại các phiên tòa, mặc dù đã được Toà án triệu tập hợp lệ nhưng bị đơn vắng mặt không lý do.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mang Thít tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến như sau:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đúng theo quy định của pháp luật. Việc chấp hành của những người tham gia tố tụng: Đối với các đương sự từ khi thụ lý vụ án cũng như tại phiên tòa các đương sự đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật.
- Về việc giải quyết vụ án: Sau khi phân tích nội dung vụ án, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
+ Buộc bị đơn ông Võ Văn T và bà Trần Thị Thanh H có nghĩa vụ liên đới trả cho nguyên đơn bà Nguyễn Thị P số tiền gốc là 22.000.000 đồng (Hai mươi hai triệu đồng) và 3,5 chỉ vàng 24K.
+ Về án phí: Lấy giá vàng: 01 chỉ vàng 24K = 7.500.000 đồng để làm căn cứ tính án phí. Buộc bị đơn ông Võ Văn T và bà Trần Thị Thanh H phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch là 2.412.500 đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
- Về tố tụng:
- Các đương sự tranh chấp đòi lại tài sản là tranh chấp hợp đồng dân sự; bị đơn có nơi cư trú tại thị trấn C, huyện M, tỉnh Vĩnh Long. Vì vậy, Tòa án nhân dân huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
- Quá trình tiến hành tố tụng giải quyết vụ án, mặc dù đã được triệu tập tống đạt hợp lệ nhưng bị đơn ông Võ Văn T đều vắng mặt không lý do. Do đó, Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bị đơn ông Võ Văn T là đúng theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
- Về nội dung: Xét, nguyên đơn bà Nguyễn Thị P yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bị đơn ông Võ Văn T và bà Trần Thị Thanh H có nghĩa vụ liên đới trả cho bà Nguyễn Thị P số tiền gốc là 22.000.000 đồng (Hai mươi hai triệu đồng) và 3,5 chỉ vàng 24K.
- Xét thấy, nguyên đơn bà P và bị đơn bà Trần Thị Thanh H đều thừa nhận từ năm 2008 đến năm 2017 bà H và ông T có mượn bà P nhiều lần với tổng số tiền gốc là 22.000.000 đồng và 3,5 chỉ vàng 24K. Đây là tình tiết, sự kiện không phải chứng minh theo quy định tại khoản 2 Điều 192 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
- Xét, ý kiến bà H đồng ý cùng ông Võ Văn T trả cho bà Nguyễn Thị P số tiền gốc là 22.000.000 đồng (Hai mươi hai triệu đồng) và 3,5 chỉ vàng 24K. Tuy nhiên, do điều kiện gia đình khó khăn nên bà H xin trả dần đối với số tiền mỗi tháng là 1.000.000 đồng; đối với số vàng thì 03 tháng trả 0,5 chỉ vàng 24K cho đến khi hết nợ, lời trình bày của bà H là không có căn cứ chấp nhận. Bởi lẽ, bà P không đồng ý, đồng thời theo quy định tại khoản 1 Điều 466 của Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: “Bên vay tài sản là tiền thì phải trả đủ tiền khi đến hạn; nếu tài sản là vật thì phải trả vật cùng loại đúng số lượng, chất lượng”.
- Từ những nhận định trên, xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị P yêu cầu bị đơn ông Võ Văn T và bà Trần Thị Thanh H phải có nghĩa vụ liên đới trả cho nguyên đơn bà Nguyễn Thị P số tiền gốc là 22.000.000 đồng (Hai mươi hai triệu đồng) và 3,5 chỉ vàng 24K là có căn cứ, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Lấy giá vàng: 01 chỉ vàng 24K = 7.500.000 đồng để làm căn cứ tính án phí. Buộc bị đơn ông Võ Văn T và bà Trần Thị Thanh H phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch là 2.412.500 đồng.
- Xét, quan điểm giải quyết vụ án của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ, phù hợp với nhận định trên, nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Căn cứ vào các Điều 166, 463, 466, 470 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
Căn cứ vào khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị P.
Buộc bị đơn ông Võ Văn T và bà Trần Thị Thanh H phải có nghĩa vụ liên đới trả cho nguyên đơn bà Nguyễn Thị P số tiền gốc là 22.000.000 đồng (Hai mươi hai triệu đồng) và 3,5 chỉ vàng 24K.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
- Về án phí: Buộc bị đơn ông Võ Văn T và bà Trần Thị Thanh H phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch là 2.412.500 đồng (Hai triệu bốn trăm mười hai nghìn năm trăm đồng).
Trường hợp bản án, quyết định, được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được qui định theo Điều 30 Luật Thi hành án dân sự đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014.
Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo là 15 (Mười lăm) ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ./.
Nơi nhận:
- - TAND tỉnh VL;
- - VKSND huyện;
- - Chi cục THADS huyện;
- - Đương sự;
- - Lưu: VT, hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Ngọc Bích |
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Ngọc Bích |
Bản án số 47/2024/DS-ST ngày 16/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MANG THÍT, TỈNH VĨNH LONG về tranh chấp đòi lại tài sản
- Số bản án: 47/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp đòi lại tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MANG THÍT, TỈNH VĨNH LONG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: tranh chấp hợp đồng vay tài sản
