Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 47/2024/HS-ST

Ngày: 09-9-2024

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Khắc Thịnh.

Thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Mỹ.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Văn Tệt;
  2. Ông Huỳnh Ngọc Trước;
  3. Ông Lý Bảo Toại.

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Minh Châu - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Ông Phạm Quốc Tuấn - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 9 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 46/2024/TLST-HS ngày 24 tháng 7 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 55/2024/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 8 năm 2024, đối với bị cáo:

Họ và tên: Lê Minh N; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Ú; Sinh ngày: 16/05/1988, tại tỉnh Đồng Tháp; Nơi thường trú: Ấp F K, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 4/12; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Cha: Lê Văn V, sinh năm 1956; Mẹ: Nguyễn Thị Ngọc T, sinh năm 1957; Gia đình có 05 anh chị, bị cáo thứ năm; Vợ: Nguyễn Thị H, sinh năm 1989; Có 02 con, lớn nhất sinh năm 2011, nhỏ nhất sinh năm 2020; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Tạm giữ ngày 12/10/2022; Tạm giam ngày 20/10/2022; Hiện đang bị tạm giam tại trại tạm giam Công an tỉnh Đ (có mặt tại phiên tòa).

Người bào chữa cho bị cáo Lê Minh N theo yêu cầu: Luật sư Luật sư Nguyễn Văn V1 - Văn phòng Luật sư Nguyễn Văn V1 thuộc đoàn Luật sư tỉnh Đ (có mặt).

Bị hại:

  1. Phan Văn Ú, sinh năm 1993 (đã chết);

Người đại diện hợp pháp của bị hại Phan Văn Ú: Võ Thị V2, sinh năm 1954 và Nguyễn Thị Thùy L, sinh năm 1998 (có mặt);

Cùng nơi cư trú: Ấp F K, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.

  1. Võ Văn M, sinh năm 1978 (có mặt);

Nơi cư trú: Ấp F K, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.

  1. Phan Văn G, sinh năm 1990 (có mặt);

Cùng nơi cư trú: Ấp D, xã M, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

  1. Lê Văn V, sinh năm 1956 (có mặt);
  2. Lê Văn D, sinh năm 1982 (có mặt);
  3. Nguyễn Thị H, sinh năm 1989 (có mặt);

Cùng nơi cư trú: Ấp F K, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.

- Người làm chứng:

  1. Phan Văn H1, sinh năm 1979 (có mặt);

Nơi cư trú: Ấp F K, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.

  1. Đặng Bảo P, sinh năm 1975 (có mặt);

Nơi cư trú: Khóm M, Thị trấn M, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 11/10/2022 Lê Minh N, sau khi đã có uống rượu. Đến khoảng 17 giờ 30 phút cùng ngày, N tiếp tục uống rượu tiếp cùng anh Võ Văn M, Phan Văn H1 và Phan Văn G tại nhà N, uống rượu được khoảng 30 phút thì có Phan Văn Ú là nhân viên thủy nông của Trạm bơm hợp tác xã “Trường Phát” đi ngang qua nhà thì N kêu Ú ghé vào nhà ngồi uống rượu chung. Tất cả cùng ngồi uống rượu được khoảng 20 phút thì giữa N và Ú xảy ra mâu thuẩn cự cãi về việc N lên nhóm Zalo của T1 bơm chửi thề thô tục nên N hỏi “trên nhóm hợp tác xã làm trạm bơm Út L1 là thằng nào” Út trả lời “em là Út L1 nè, có gì không anh”, N chửi thề rồi nói “Út mày nhắn gì?” Ú nói “anh chửi mẹ ai”. Nhiều lúc này không nói gì đã say rượu, mà chồm người qua bàn dùng tay phải đánh Ú nhưng không trúng nên Ú tức giận đè vật đánh lại N nằm té ngã ngửa xuống nền gạch nơi anh M đang ngồi. H1 đến can ngăn thì N ngồi dậy được liền chồm người lên bàn nhậu dùng tay phải lấy 01 con dao bấm bằng kim loại dài 24cm, cán màu xanh đen dài 13cm, lưỡi màu đen trắng dài 11cm sắt nhọn để ở trên bàn nhậu dùng để gọt dưa hấu. Nhiểu cầm dao bấm tay phải, bấm liên tục 02 đến 03 cái nhưng phần lưỡi dao không bật ra khỏi phần cán dao, N dùng tay trái kéo phần lưỡi dao ra rồi dùng dao đâm H1 nhưng H1 né được. Không đâm được H1, N tiếp tục dùng dao đâm trúng vào đùi trái của Ú làm đứt toàn bộ bó cơ tứ đùi, động mạch và bó mạch thần kinh đùi trái của Ú chảy ra nhiều máu.

Lúc này, G thấy N đâm Ú ra nhiều máu, G nhảy vào định can ngăn giật lấy con dao bấm Nhiểu đang cầm thì bị N dùng dao đâm liên tiếp nhiều nhát trúng vào cẳng tay phải, đùi phải, đùi trái của G chảy ra nhiều máu nên G bỏ chạy. Lúc này có anh Lê Văn D là anh ruột của N cùng anh M đứng đối diện với N. Anh M nói “anh M mày nè, sau cưng đâm tụi nó dữ vậy”. Nhiểu không nói gì

mà vẫn liên tiếp dùng dao đâm trúng vào vùng bụng anh M làm thủng dạ dày, đứt tụy, rách gan ra nhiều máu anh M ôm bụng bỏ chạy ra đường bất tỉnh. Nhiểu không dừng lại mà tiếp tục dùng dao đâm tiếp trúng ngay trong kẻ bàn tay phải của anh D ra nhiều máu nên anh D nói “mày đâm anh hả Út N1, mày đâm anh đứt tay rồi”.

Sau khi sự việc xảy ra, N1 nghe anh D nói nên N1 đã ném bỏ con dao gây án tại hiện trường phía bên hông nhà N1 rồi đến Công an xã T, huyện T đầu thú.

Đối Phan Văn Ú, Phan Văn G, Võ Văn M khi xảy ra sự việc được anh H1 cùng quần chúng nhân dân đưa đi cấp cứu tại Trạm y tế xã T huyện T. Do vết thương quá nặng Ú đã chết trên đường đưa đi cấp cứu, còn anh M bị bất tỉnh, anh G được chuyển tiếp đến Bệnh viện Đ cấp cứu nằm điều trị. Đến ngày 20/10/2022 anh G xuất viện. Riêng anh M tiếp tục nằm điều trị tại Bệnh viện T3. Đến ngày 28/11/2022 xuất viện. Còn anh Lê Văn D đến y sĩ T2 ở khu dân cư K may khâu 04 vết thương rồi về nhà sau đó vết thương tự lành.

Kết quả khám nghiệm hiện trường hồi 00 giờ 40 phút ngày 12/10/2022 thể hiện: Hiện trường nơi xảy ra vụ án tại nhà Lê Minh N thuộc ấp F K, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp. Nhà cấp 4 kiên cố, hình chữ L. Khu vực nơi xảy ra tại hành lang bên phải của căn nhà dài 7,5m, rộng 2,5m. Dọc theo hành lang, lối đi ra đến đường nhựa nông thôn, trên nền gạch men, nền xi măng, nền đất có nhiều dấu vết màu nâu đỏ, dạng vũng, dạng tia dài 17,5m, rộng nhất 2,1m. Trên phần đất hướng T trồng mít phát hiện 01 con dao bấm bằng kim loại dài 24cm, cán màu xanh đen dài 13cm, rộng nhất 3,5cm, lưỡi dao màu đen trắng dài 11cm, rộng 2,5cm mũi sắt nhọn bén, trên lưỡi dao có dính chất màu đỏ.

Hiện cơ quan điều tra đang thu giữ gồm: 01 (một) con dao bấm bằng kim loại như đã nêu trên; 01 áo thun ngắn tay màu xám; 01 quần vải dài màu đen xám. Nhiều bận trong lúc gây án; 01 áo thun ngắn tay, màu xanh rêu; 01 quần short màu xám của Ú.

Biên bản khám nghiệm tử thi hồi 23 giờ 15 phút, ngày 11/10/2022 đối với nạn nhân Phan Văn Ú ghi nhận các vết thương như sau:

Vùng hông bên trái tương ứng bên dưới vết đứt vải áo có 02 vết đứt thượng bì. Vết thứ nhất hình vòng cung dài 10cm, rộng 0,2cm chiều hướng từ trái sang phải. Vết thứ hai dạng thẳng dài 5,5cm, rộng 0,1cm cách vết thứ nhất 02cm.

Mặt trước 1/3 đùi trái nơi tương ứng bên dưới vết đứt vải ống quần bên trái có vết đứt da cơ bờ mép sắt gọn, chiều hướng từ trước ra sau, từ dưới lên trên và từ ngoài vào trong dài 3cm, sâu 8,5cm, khi khép lại vết thương dài 3,7cm.

Mổ tử thi: Tụ máu dưới da cơ nơi vết thương vùng đùi trái. Đứt toàn bộ bó cơ tứ đùi bên trái. Đứt hoàn toàn động mạch đùi trái. Đứt toàn bộ bó mạch thần kinh đùi trái.

Bản giám định pháp y về tử thi số: 282/TTH-TTPY ngày 18/10/2022 của Trung tâm giám định pháp y tỉnh Đ. Kết luận: nạn nhân Phan Văn Ú chết do S mất máu cấp là nguyên nhân chính dẫn đến tử vong.

Bản kết luận giám định số 982/KL-KTHS, ngày 31/10/2022 của Phòng K Công an tỉnh Đ, kết luận nhóm máu của Phan Văn Ú thuộc nhóm máu O.

- Máu thu vị trí số 3 (trên nền nhà, góc nhà và ngoài sân) là máu người thuộc nhóm máu O.

- Dấu vết thu trên 2 mu bàn chân của Lê Minh N là máu người, thuộc nhóm máu O.

Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 30/TgT, ngày 22/12/2022 của Trung tâm Pháp y tỉnh Đ, kết luận bị hại Võ Văn M như sau:

Dấu hiệu chính qua giám định: 03 sẹo vết thương phần mềm cẳng tay phải, đùi phải, đùi trái Sẹo vết thương phần mềm vùng giữa bụng, kích thước nhỏ, tỷ lệ tổn thương 01%. Sẹo mổ đường trắng giữa trên dưới rốn, kích thước trung bình, tỷ lệ tổn thương 02%. Sẹo dẫn lưu hông phải, kích thước nhỏ, tỷ lệ tổn thương 01%; Sẹo dẫn lưu hông trái, kích thước nhỏ, tỷ lệ tổn thương 01%; Khâu vết thương hông thùy 4 gan trái, tỷ lệ tổn thương 31%; Thủng 02 lổ dạ dày không gây biến dạng, tỷ lệ tổn thương 26%; Vết thương đứt bán phần thân tuy đã phẩu thuật cắt thân tuỵ, kết quả tốt, tỷ lệ tổn thương 43%; Tràng dịch màng phổi phải không để lại di chứng, tỷ lệ tổn thương 03%. Kết luận: Tỷ lệ tổn thương cơ thể là 73%, tại thời điểm giám định theo nguyên tắc cộng lùi.

Kết luận khác: Các tổn thương do vật sắc nhọn gây ra. Cơ chế hình thành do ngoại lực tác động trực tiếp.

Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 36/TgT, ngày 28/12/2022 của Trung tâm Pháp y tỉnh Đ, kết luận bị hại Phan Văn G như sau:

Dấu hiệu chính qua giám định: Sẹo vết thương phần mềm mặt trước 1/3 trên cẳng tay phải kích thước 06cm x 0,3cm lành; Sẹo vết thương phần mềm mặt ngoài 1/3 giữa đùi trái kích thước 7,5cm x 0,4cm lành; Sẹo vết thương phần mềm mặt ngoài 1/3 trên đùi phải kích thước 2,5cm x 0,6cm lành. Mỗi sẹo 02%. Kết luận: Tỷ lệ tổn thương cơ thể là 06%, tại thời điểm giám định.

Kết luận khác: Các tổn thương trên cơ thể do vật sắc nhọn gây ra. Cơ chế hình thành tổn thương do ngoại lực tác động.

Tại Biên bản xem xét dấu vết trên thân thể Lê Minh N như sau: Vùng bụng bên trái có vết trầy sướt da dài 7,5cm, rộng 4,5cm. Mặt ngoài dưới 1/3 tay bên phải dài 01cm, rộng 0,5cm. 02 mu bàn chân dích chất màu nâu đỏ nghi máu. Áo thun ngắn tay màu xám bên phải bị rách mặc trước, mặc sau dính nhiều vết màu nâu đỏ. Quần dài màu đen xám mặc trước, mặc sau có dính vết màu nâu đỏ. Lê Minh N khai nhận các dấu vết màu nâu đỏ đó chính là máu, do N đâm nhiều người dính trên cơ thể và quần áo của N.

Ngày 04/02/2023, đối với anh Lê Văn D là anh ruột của bị can Lê Minh N do có mối quan hệ anh ruột nên anh D đã làm đơn từ chối Giám định tỷ lệ tổn thương trên cơ thể và không yêu cầu xử lý hình sự đối với N.

Về trách nhiệm dân sự: Đại diện hợp pháp bị hại Phan Văn Ú là bà Võ Thị V2 mẹ ruột cùng chị Nguyễn Thị Thùy L vợ bị hại Ú, yêu cầu bị can Lê Minh N bồi thường tiền chi phí mai táng 100.000.000 đồng, tiền tổn thất tinh thần 150.000.000 đồng, tiền cấp dưỡng nuôi con Phan Ngọc Minh T2, sinh năm 2018 mỗi tháng 3.000.000 đồng cho đến khi T2 con Ú đủ 18 tuổi. Hiện Nguyễn Thị H vợ N đã bồi thường 10.000.000 đồng tiền mai táng cho gia đình Ú. Số tiền mai táng còn lại 90.000.000 đồng, tiền tổn thất tinh thần 150.000.000 đồng, tiền cấp dưỡng nuôi con Phan Ngọc Minh T2 mỗi tháng 3.000.000 đồng đến khi T2 đủ 18 tuổi. Bị can N đồng ý bồi thường theo yêu cầu trên.

- Đối với anh Võ Văn M yêu cầu bị can N bồi thường chi phí ăn uống nằm điều trị thương tích tại Bệnh viện 64.705.392 đồng, tiền tổn thất tinh thần 29.800.000 đồng, tiền ngày công không lao động 14.100.000 đồng, tổng số tiền 108.605.329 đồng, có hóa đơn chứng từ kèm theo được bị can N đồng ý bồi thường theo yêu cầu anh M.

- Anh Phan Văn G yêu cầu bị can N bồi thường chi phí ăn uống nằm điều trị thương tích tại Bệnh viện 13.060.000 đồng, tiền tổn thất tinh thần 30.000.000 đồng, tiền ngày công không lao động 4.500.000 đồng, tổng số tiền 47.560.000 đồng, có hóa đơn chứng từ kèm theo. Bị can N đồng ý bồi thường theo yêu cầu anh G.

Tại cáo trạng số 40/CT-VKS ngày 23 tháng 7 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp đã truy tố bị cáo Lê Minh N về tội “Giết người” theo quy định tại các điểm a, n khoản 1 Điều 123 và Điều 15 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa sơ thẩm, vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp giữ nguyên quyết định truy tố, phân tích hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ đối với các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lê Minh N phạm tội “Giết người”.

Áp dụng điểm a, n khoản 1 Điều 123; Điều 15; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự; Xử phạt bị cáo Lê Minh N mức hình phạt từ 18 năm đến 20 năm tù.

Về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, đề nghị Tòa tuyên như phần nội dung quyết định bản cáo trạng đã nêu.

Luật sư bào chữa cho bị cáo Lê Minh N phát biểu quan điểm thống nhất với quan điểm của vị đại diện Viện kiểm sát về tội danh và điều khoản của tội danh áp dụng đối với bị cáo. Vị luật sư viện dẫn, phân tích về nguyên nhân, điều kiện, ý thức, phạm tội của bị cáo đồng thời nêu ra các tình tiết giảm nhẹ như bị cáo có nhân thân tốt, thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải; sau khi phạm tội bị cáo đã đi đầu thú và tác động gia đình bồi thường khắc phục một phần hậu

quả cho bị hại Phan Văn Ú. Gia đình bị cáo có công với Cách mạng, bị cáo là lao động chính trong gia đình có hoàn cảnh khó khăn, có con còn nhỏ; bị hại Võ Văn M xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Mặt khác, bị cáo có trình độ học vấn thấp nên việc nhận thức về pháp luật có phần hạn chế. Xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo ở mức thấp hơn mức mà vị đại diện Viện kiểm sát đề nghị.

Bị cáo Lê Minh N không có ý kiến bào chữa bổ sung cũng không tranh luận, thống nhất với quan điểm của luật sư bào chữa cho bị cáo. Lời nói sau cùng, bị cáo xin lỗi phía bị hại, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Người đại diện hợp pháp cho người bị hại, bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không có ý kiến tranh luận.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Trong quá trình điều tra, truy tố, các cơ quan và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Giai đoạn điều tra cũng như tại phiên tòa, những người tham gia tố tụng trong vụ án không có ý kiến, khiếu nại gì về hành vi, quyết định của các cơ quan, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của các cơ quan, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

[2] Tại phiên toà sơ thẩm, bị cáo Lê Minh N đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Bị cáo khẳng định hành vi được mô tả trong bản cáo trạng số 40/CT-VKSĐT ngày 23/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp là đúng với hành vi phạm tội của bị cáo. Do trong lúc nhậu xảy ra mâu thuẫn giữa N và Phan Văn Ú. Sau đó, N lấy dao bấm trên bàn nhậu đâm Ú trúng đùi trái đứt hoàn toàn động mạch dẫn đến Shock mất máu cấp tử vong. Không dừng lại, N tiếp tục dùng dao bấm đâm Phan Văn G trúng tay phải, đùi phải, đùi trái gây thương tích 06%; đâm anh Võ Văn M trúng vùng bụng thủng dạ dày, đứt tụy, rách gan gây thương tích 73%; đâm tiếp trúng trong kẻ bàn tay phải của anh Lê Văn D ra nhiều máu.

Lời khai nhận của bị cáo hoàn toàn phù hợp với lời khai của người đại diện hợp pháp của người bị hại, bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, vật chứng cùng với các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Lê Minh N đã phạm vào tội “Giết người” được quy định tại điểm a, n khoản 1 Điều 123 Bộ luật hình sự.

Tại điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật hình sự quy định:

“1. Người nào giết người thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình:

a) ...

n) Có tính chất côn đồ”;

Điều 15. Phạm tội chưa đạt.

“Phạm tội chưa đạt là cố ý thực hiện tội phạm nhưng không thực hiện được đến cùng vì những nguyên nhân ngoài ý muốn của người phạm tội.

Người phạm tội chưa đạt phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm chưa đạt."

[3] Bị cáo Lê Minh N là người đã trưởng thành, có thể chất, tinh thần phát triển bình thường, có khả năng điều khiển hành vi, giao tiếp xã hội, nhận thức được pháp luật, có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự theo quy định. Đáng lý ra, trước sự việc như vậy lẽ ra bị cáo phải bình tĩnh, kiềm chế bản thân để tìm cách giải quyết mâu thuẫn một cách đúng đắn thì sẽ không xảy ra sự việc đáng tiếc. Bị cáo không làm được điều này mà ngược lại, muốn thu phục người khác cũng như giải quyết mâu thuẫn bằng bạo lực nên bị cáo đã sử dụng con dao bấm bằng kim loại, mũi nhọn là hung khí nguy hiểm đâm vào vùng đùi trái của bị hại Phan Văn Ú làm đứt hoàn toàn động mạch dẫn đến Shock mất máu cấp tử vong; Không dừng lại, bị cáo N tiếp tục dùng dao bấm đâm Phan Văn G trúng tay phải, đùi phải, đùi trái gây thương tích 06%; đâm anh Võ Văn M trúng vùng bụng thủng dạ dày, đứt tụy, rách gan gây thương tích 73%. Bị cáo nhận thức được tính mạng, sức khỏe của con người luôn được pháp luật bảo vệ. Mọi hành vi xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe của con người một cách trái pháp luật đều bị xử lý. Chỉ vì mâu thuẫn nhỏ nhặt trong cuộc sống mà bị cáo bất chấp pháp luật, đã tước đoạt mạng sống của bị hại Phan Văn Ú và xâm phạm đến sức khỏe của bị hại Võ Văn M và Phan Văn G một cách trái pháp luật. Chứng tỏ hành vi của bị cáo là cố ý và thực hiện tội phạm đã hoàn thành. Việc các bị hại Phan Văn G, Võ Văn M không chết là do được cấp cứu kịp thời.

[4] Hành vi phạm tội của bị cáo Lê Minh N là rất nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến sức khỏe của các bị hại G, M, xâm phạm đến tính mạng của bị hại Phan Văn Ú một cách trái pháp luật, cố ý tước đoạt mạng sống của bị hại, gây ra hậu quả rất lớn làm cho gia đình người bị hại mất đi người thân không sao tìm lại được. Hành vi đó đã thể hiện sự xuống cấp về đạo đức, gây mất trật tự trị an ở địa phương, bị quần chúng xã hội lên án, xâm phạm đến kỷ cương pháp luật Nhà Nước. Do đó, việc đưa bị cáo ra xét xử là việc làm cần thiết. Đối với bị cáo cần áp dụng một mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội với thời gian không thời hạn mới có đủ điều kiện cải tạo giáo dục các bị cáo, nhằm phục vụ tình hình chính trị ở địa phương, giữ gìn kỷ cương pháp luật Nhà Nước đồng thời cũng để răn đe và phòng ngừa chung.

[5] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra bị cáo N thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Sau khi phạm tội bị cáo đã đi đầu thú và tác

động gia đình bồi thường khắc phục một phần hậu quả cho bị hại Phan Văn Ú. Gia đình bị cáo có công với Cách mạng, cha ruột của bị cáo được tặng Bằng khen do có thành tích tham gia kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Bản thân bị cáo là lao động chính trong gia đình có hoàn cảnh khó khăn, có con còn nhỏ; bị hại Võ Văn M xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[6] Xét lời đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát là hoàn toàn có căn cứ và phù hợp nên chấp nhận.

Xét lời bào chữa của vị luật sư bào chữa cho bị cáo đã nêu về các tình tiết giảm nhẹ là phù hợp nên chấp nhận. Đối với phần trình bày khác của luật sư nêu ra để bào chữa cho bị cáo như ở phần trên là một trong những cơ sở để Hội đồng xét xử đánh giá khi quyết định hình phạt.

[7] Về trách nhiệm dân sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, người đại diện hợp pháp cho bị hại Phan Văn Ú là bà Võ Thị V2 và chị Nguyễn Thị Thùy L yêu cầu bị cáo Lê Minh N bồi thường tiền chi phí mai táng 100.000.000 đồng, tiền tổn thất tinh thần 150.000.000 đồng, tiền cấp dưỡng nuôi cháu Phan Ngọc Minh T2, sinh năm 2018 (là con của bị hại Phan Văn Ú) mỗi tháng 3.000.000 đồng cho đến khi cháu T2 đủ 18 tuổi. Bị hại Võ Văn M yêu cầu bị cáo N bồi thường tổng cộng là 108.605.392 đồng (bao gồm tiền chi phí điều trị thương tích tại Bệnh viện là 64.705.392 đồng, tiền tổn thất tinh thần là 29.800.000 đồng, tiền ngày công không lao động là 14.100.000 đồng). Bị hại Phan Văn G yêu cầu bị cáo N bồi thường tổng cộng là 47.560.000 đồng (bao gồm tiền chi phí điều trị thương tích tại Bệnh viện là 13.060.000 đồng, tiền tổn thất tinh thần là 30.000.000 đồng, tiền ngày công không lao động là 4.500.000 đồng). Xét yêu cầu của người đại diện hợp pháp cho bị hại Phan Văn Ú cũng như các bị hại Võ Văn M, Phan Văn G là có căn cứ. Tại phiên tòa, bị cáo Lê Minh N thống nhất bồi thường theo yêu cầu của người đại diện hợp pháp cho bị hại Phan Văn Ú, bị hại M và bị hại G nên ghi nhận sự tự nguyện này của bị cáo. Theo đó, bị cáo có trách nhiệm bồi thường cho người đại diện hợp pháp cho bị hại Phan Văn Ú là bà Võ Thị V2 và chị Nguyễn Thị Thùy L tiền chi phí mai táng 100.000.000 đồng, tiền tổn thất tinh thần 150.000.000 đồng, tổng cộng hai khoản là 250.000.000 đồng nhưng trừ 10.000.000 đồng chị Nguyễn Thị H (vợ bị cáo N) đã bồi thường trước và số tiền 10.000.000 đồng bị cáo tác động gia đình nộp khắc phục tiếp cho bị hại Ú theo biên lai số 0004485 ngày 14/8/2024 tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Tháp. Như vậy, bị cáo còn phải bồi thường tiếp cho người đại diện hợp pháp của bị hại Phan Văn Ú số tiền 230.000.000 đồng và cấp dưỡng nuôi cháu Phan Ngọc Minh T2, sinh năm 2018 (là con của bị hại Phan Văn Ú) mỗi tháng 3.000.000 đồng cho đến khi cháu T2 đủ 18 tuổi.

Bị cáo Lê Minh N có trách nhiệm bồi thường chi phí điều trị, tổn thất tinh thần, ngày công lao động cho bị hại Võ Văn M với tổng số tiền 108.605.392 đồng.

Bị cáo Lê Minh N có trách nhiệm bồi thường chi phí điều trị, tổn thất tinh thần, ngày công lao động cho bị hại Phan Văn G với tổng số tiền là 47.560.000 đồng.

[8] Về xử lý vật chứng: Đối với 01 (một) con dao bấm bằng kim loại dài 24cm, cán màu xanh đen dài 13cm, rộng nhất 3,5cm, lưỡi dao màu đen trắng dài 11cm, rộng 2,5cm; 01 (một) áo thun ngắn tay màu xám; 01 (một) quần vải dài màu đen xám; 01 (một) áo thun ngắn tay, màu xanh rêu; 01 (một) quần short màu xám là hung khi gây án và là tài sản có giá trị không lớn, chủ sở hữu không yêu cầu nhận lại. Xét thấy cần phải tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 đĩa DVD hỏi cung bị cáo N, tiếp tục lưu giữ trong hồ sơ vụ án.

[9] Về án phí: Bị cáo Lê Minh N phải chịu án phí hình sự sơ thẩm, án phí dân sự sơ thẩm và án phí cấp dưỡng theo luật định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: Bị cáo Lê Minh N phạm tội “Giết người”.

Áp dụng điểm a, n khoản 1 Điều 123; Điều 15; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự;

Xử phạt bị cáo Lê Minh N tù chung thân. Thời hạn tù tính từ ngày 12/10/2022.

2. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 468; Điều 586; Điều 591; Điều 593 Bộ luật Dân sự năm 2015 và Điều 81; Điều 82 Bộ luật Hôn nhân và gia đình.

Buộc bị cáo Lê Minh N có trách nhiệm bồi thường cho người đại diện hợp pháp của bị hại Phan Văn Ú là là bà Võ Thị V2 và chị Nguyễn Thị Thùy L chi phí mai táng và tiền tổn thất tinh thần, tổng cộng là 250.000.000 đồng nhưng trừ 10.000.000 đồng chị Nguyễn Thị H (vợ bị cáo N) đã bồi thường trước và số tiền 10.000.000 đồng bị cáo tác động gia đình nộp khắc phục tiếp cho bị hại Ú theo biên lai số 0004485 ngày 14/8/2024 tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Tháp. Như vậy, bị cáo còn phải bồi thường tiếp cho người đại diện hợp pháp của bị hại Phan Văn Ú là bà Võ Thị V2 và chị Nguyễn Thị Thùy L số tiền 230.000.000 đồng và cấp dưỡng cho cháu Phan Ngọc Minh T2, sinh ngày 24/4/2018 (là con của bị hại Phan Văn Ú) mỗi tháng 3.000.000 đồng, thời hạn cấp dưỡng tính từ ngày 11/10/2022 cho đến khi cháu T2 đủ 18 tuổi.

Buộc bị cáo Lê Minh N có trách nhiệm bồi thường cho bị hại Võ Văn M số tiền 108.605.392 đồng (Một trăm lẻ tám triệu sáu trăm linh năm nghìn ba trăm chín mươi hai đồng).

Buộc bị cáo Lê Minh N có trách nhiệm bồi thường cho bị hại Phan Văn G số tiền 47.560.000 đồng (Bốn mươi bảy triệu năm trăm sáu mươi nghìn đồng).

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án mà người phải thi hành án chưa thi hành xong số tiền nêu trên, thì hàng tháng còn phải chịu lãi suất theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự đối với số tiền chưa thi hành án cho đến khi thi hành xong.

3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy 01 (một) con dao bấm bằng kim loại dài 24cm, cán màu xanh đen dài 13cm, rộng nhất 3,5cm, lưỡi dao màu đen trắng dài 11cm, rộng 2,5cm; 01 (một) áo thun ngắn tay màu xám; 01 (một) quần vải dài màu đen xám; 01 (một) áo thun ngắn tay, màu xanh rêu; 01 (một) quần short màu xám.

Lưu hồ sơ vụ án 01 đĩa DVD hỏi cung bị cáo N.

4. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Lê Minh N phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Buộc bị cáo Lê Minh N phải chịu 20.246.616 đồng án phí dân sự sơ thẩm và 300.000 đồng án phí cấp dưỡng.

Bị cáo, bị hại, người đại diện hợp pháp cho người bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo lên Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân Cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án được thực hiện theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

- Nơi nhận:

  • - TANDCC tại TP.HCM;
  • - VKSNDCC tại TP.HCM;
  • - Ban Nội chính Tỉnh ủy Đồng Tháp;
  • - VKSND tỉnh Đồng Tháp;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Đồng Tháp;
  • - Cục thi hành án dân sự tỉnh ĐT;
  • - Cơ quan THAHS CA tỉnh ĐT;
  • - Trại tạm giam CA tỉnh Đồng Tháp;
  • - CSĐT tỉnh Đồng Tháp;
  • - Phòng nghiệp vụ hồ sơ CA tỉnh ĐT;
  • - Phòng KTNV - THATA tỉnh ĐT;
  • - BC, BH, DDBH, NLQ;
  • - Lưu: HSVA, VT (Châu).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(đã ký)

Lê Khắc Thịnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 47/2024/HS-ST ngày 09/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP về hình sự về tội giết người

  • Số bản án: 47/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội Giết người
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 09/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Giết người
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger