|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU PHÚ TỈNH AN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 47/2024/HS-ST Ngày : 05 - 8 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU PHÚ
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Văn Hoà.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Lê Trung Thành – Cán bộ Phòng Lao động - Thương binh và xã hội huyện Châu Phú.
- Ông Nguyễn Văn Giữ - Chủ tịch Hội khuyến học huyện Châu Phú.
Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Yến – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Phú, tỉnh An Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Phú tham gia phiên tòa: Ông Triệu Nhựt Giang - Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Phú xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 38/2024/TLST-HS ngày 14 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 44/2024/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 7 năm 2024, đối với bị cáo:
Thiều Quang Q, sinh ngày 12 tháng 01 năm 1993 tại huyện C, tỉnh An Giang; Nơi cư trú: Khóm V, thị trấn C, huyện C, tỉnh An Giang; Nghề nghiệp: Kinh doanh dịch vụ vận tải chuyển hành khách; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Đạo phật; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Thiều Thanh Q1 và bà Phạm Thị N; Anh em ruột có 03 người bị cáo là người thứ nhất; Vợ Ngô Thị Minh N1; Con có 01 người sinh năm 2021; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Từ nhỏ sống chung với cha mẹ, học lớp 12, sau đó học đại học chuyên ngành quản trị kinh doanh, về sinh sống bằng nghề kinh doanh dịch vụ vận chuyển hành khách. Năm 2022, có vợ tên Ngô Thị Minh N1 và có 01 con chung; Bị cáo tại ngoại, bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Những người tham gia tố tụng:
- Đại diện hợp pháp của bị hại:
- Ông Phạm Văn T, sinh năm 1939; (Vắng mặt)
- Bà Hồ Thị H, sinh năm 1944; (Có mặt)
- Bà Nguyễn Thị Mỷ T1, sinh năm 1993; (Có mặt)
- Em Phạm Gia B, sinh ngày 24/11/2013. (Vắng mặt)
Cùng địa chỉ: Ấp B, xã B, huyện C, tỉnh An Giang.
Đại diện hợp pháp của Phạm Gia B: Bà Nguyễn Thị Mỷ T1, sinh năm 1993. Địa chỉ: Ấp B, xã B, huyện C, tỉnh An Giang. (Có mặt)
Đại diện theo ủy quyền của ông Phạm Văn T, bà Nguyễn Thị Mỷ T1: Bà Hồ Thị H, sinh năm 1944. Địa chỉ: Ấp B, xã B, huyện C, tỉnh An Giang. (Có mặt)
Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của bà Nguyễn Thị Mỷ T1: Luật sư Thái Thị Diễm T2 – Công ty L2 thuộc Đoàn Luật sư tỉnh A. (Có mặt)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Võ Thị Kim L, sinh năm 1966. Địa chỉ: 1 đường T, khóm E, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang. (Vắng mặt)
- Ông Phan Minh L1, sinh năm 1980. Địa chỉ: Ấp H, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai. (Vắng mặt)
- Những người làm chứng:
- Ông Nguyễn Phước T3, sinh năm 1993. (Có mặt)
- Ông Đỗ Anh K, sinh năm 1980. (Vắng mặt)
- Ông Nguyễn Châu K1, sinh năm 1988. (Vắng mặt)
- Bà Ngô Thị Minh N1, sinh năm 1993. (Có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 21 giờ ngày 07/9/2023, Thiều Quang Q, sau khi đã sử dụng rượu, bia, có nồng độ cồn trong máu là 1.62 g/L, điều khiển xe mô tô biển số 60B4-906.62 lưu thông trên tuyến Quốc lộ I theo hướng L - C. Khi đến khu vực khóm V, thị trấn C, huyện C do không làm chủ tay lái đụng vào xe mô tô biển số 67F4-5650 do Phạm Thanh H1 điều khiển chạy cùng chiều phía trước dẫn đến tai nạn. Hậu quả làm Phạm Thanh H1 tử vong, còn Thiều Quang Q bị thương tích nặng. Sau khi sự việc xảy ra Thiều Quang Q đã bồi thường các khoảng chi phí cho gia đình bị hại Phạm Thanh H1 số tiền 220.000.000₫ (Hai trăm hai mươi triệu đồng).
- Đại diện hợp pháp của bị hại bà Hồ Thị H, bà Nguyễn Thị Mỷ T1, cháu Phạm Gia B (mẹ, vợ và con của bị hại Phạm Thanh H1) trình bày phù hợp với nội dung của vụ án. Sau khi sự việc xảy ra bà H, bà T1 đại diện cho bị hại thỏa thuận và nhận số tiền 220.000.000đ (Hai trăm hai mươi triệu đồng) từ bị cáo Thiều Quang Q. Trong đó, bà H nhận 130.000.000đ (Một trăm ba mươi triệu đồng) tiền chi phí chôn cất, mai táng và tiền tổn thất tinh thần; bà T1 nhận 90.000.000đ (Chín mươi triệu đồng) tiền cấp dưỡng nuôi con là Phạm Gia B sinh ngày 24/11/2013 đến khi 18 tuổi. Đại diện hợp pháp của bị hại không yêu cầu bồi thường thêm và xin được nhận lại xe.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Võ Thị Kim L trình bày: Xe mô tô biển số 67F4–5650 do Nguyễn Hữu P là chồng của bà mua và đứng tên chủ sở hữu. Năm 2006, ông P đã bán xe lại cho người khác. Năm 2023, P chết, bà không có yêu cầu gì đối với xe mô tô nêu trên.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Phan Minh L1 trình bày: Xe mô tô biển số 60B4–906.62 do L1 mua và đứng tên chủ sở hữu. Sau đó, ông bán xe cho người khác (không rõ họ tên và địa chỉ). Ông không có yêu cầu gì đối với xe mô tô này.
- Những người làm chứng bà Ngô Thị Minh N1, ông Nguyễn Phước T3, ông Đỗ Anh K, ông Nguyễn Châu K1 trình bày phù hợp với nội dung của vụ án.
Căn cứ Bản kết luận giám định tử thi số 275/23/KLGĐTT-TTPY ngày 15/9/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh A, kết luận đối với nạn nhân Phạm Thanh H1: Nguyên nhân chết là gãy trật cột sống cổ, chèn ép tủy.
Căn cứ bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 193/24/KLTTCT-TTPY ngày 14/5/2024 của Trung tâm Pháp y tỉnh A kết luận đối với Thiều Quang Q: Xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do tất cả thương tích gây nên của Thiều Quang Q, áp dụng phương pháp cộng theo Thông tư tại thời điểm giảm định là: 33% (Ba mươi ba phần trăm). Tất cả các thương tích trên do vật tày gây nên.
Căn cứ bản kết luận định giá tài sản số 11/KL.HĐĐGTS ngày 10/01/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự kết luận: Giá trị thiệt hại của xe mô tô biển số 67F4-5650, đã qua sử dụng. Trị giá 2.500.000₫ (Hai triệu năm trăm nghìn đồng).
Căn cứ bản kết luận giám định số 457/KL-KTHS(KTSĐT-GT) ngày 18/12/2023 của Phòng K2 Công an tỉnh A kết luận: Trích xuất 10 ảnh từ dữ liệu 01 tập tin video lưu trữ trong đĩa DVD (Ký hiệu A), do Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện C, tỉnh An Giang gửi đến giám định, chi tiết thể hiện bên trong Phụ lục kèm theo; Không đủ điều kiện giám định tốc độ của xe mô tô 60B4-906.62 và xe mô tô 67F4-5650 tại thời điểm ngay trước khi xảy ra tai nạn. Kèm theo kết luận giám định: 01 (một) Phụ lục gồm 05 trang A4.
Căn cứ Phiếu kết quả xét nghiệm ngày 08/9/2023 của Bệnh viện Đ và Bệnh viện đa khoa khu vực tỉnh Đ ghi nhận: Định lượng Ethanol của Phạm Thanh H1 là 0.01g/L; Định lượng Ethanol của Thiều Quang Q là 1.62 g/L.
Căn cứ Biên bản khám nghiệm hiện trường ngày 07/9/2023, Biên bản khám phương tiện ngày 11/9/2023 của Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện C, ghi nhận: Hiện trường xảy ra vụ tai nạn giao thông nằm trên đoạn đường thẳng, thuộc dạng đường hai chiều, được phân chia bởi vạch tim đường màu vàng đứt nét, mặt đường nhựa có chiều rộng 9,25 mét. Hiện trường khám nghiệm theo hướng L - C chọn lề bên phải làm lề chuẩn, chọn mốc cố định là trụ điện bê tông số 475 - 471/CD/68; Xe mô tô biển số 67F4-5650: Gương chiếu hậu bên trái bị dịch chuyển khỏi vị trí ban đầu, văng mất phần gương; Cụm nắp tay lái phía trước, ốp bảo vệ đồng hồ tốc độ bị trầy xước kích thước (14 x 6,6)cm; Cụm đèn chiếu sáng gần xa, đèn tín hiệu phía trước bên phải bị bể vỡ; Đầu tay cầm bên phải bị trầy xước cao su kích thước (2 x 2)cm; Đầu tay phanh bên phải bị mài mòn kim loại kích thước (1 x 1)cm; Gổ xe phía trước bị thụn móp hướng từ trước ra sau, từ trái sang phải, có vết mài mòn và trầy xước không liên tục kích thước (34 x 0,6)cm; Bộ phận giảm thanh: phần đuôi bị gãy mất, phần đầu bị cong hướng từ ngoài vào trong; Gác chân trước bên phải bị dịch chuyển khỏi vị trí ban đầu, phần đầu có vết mài mòn kim loại kích thước (5 x 4)cm; Ốp nhựa sườn xe bên phải bị bể mất; B1 ắc quy bị dịch chuyển khỏi vị trí ban đầu; Bộ phận giảm sốc phía sau bên phải bị trầy xước, dính tạp chất màu đen kích thước (21 x 5)cm; Khung nâng xe phía sau bên phải bị mài mòn kim loại kích thước (4,5 x 0,8)cm; Cụm đèn báo hãm, đèn soi biển số, đèn tín hiệu phía sau xe bị bể vỡ, thụn móp hướng từ sau ra trước; Biển số xe bị bể vỡ, thụn móp hướng từ sau ra trước, có dính tạp chất màu nâu đỏ; Chắn bùn phía sau bị trầy xước, thụn móp hướng từ sau ra trước và từ phải sang trái; Vành lốp xe phía sau bên phải có vết thụn móp trầy xước kim loại kích thước (2 x 1,2)cm; Mặt ngoài lốp xe phía sau bên phải có bám dính tạp chất màu nâu đỏ kích thước (11 x 3)cm; Đuôi lốp xe phía sau bị nứt, vỡ; T4 kim loại bên phải cố định khung sườn xe và trục lốp xe phía sau bị cong từ sau ra trước từ phải sang trái; Bộ phận tăng đơ sên xe, phanh xe bên phải bị cong hướng từ sau ra trước; Cần sang số bị trầy xước, mài mòn kim loại kích thước (9,5 x 1,6)cm; Mặt gác chân trước bên trái bị mài mòn kim loại kích thước (4 x 3)cm; Xe mô biển số 60B4 – 906.62: Gương chiếu hậu bên trái phương tiện bị dịch chuyển khỏi vị trí ban đầu; Chụp mũ sau của gương chiếu hậu có vết trầy xước, mài mòn kích thước 5,5 cm x 1 cm; T4 kim loại cố định gương chiếu hậu có vết mài mòn, kích thước 17 cm x 4,5 cm; Đầu tay cầm bên trái xe có vết trầy xước, mài mòn kim loại kích thước 2,3 cm x 0,5 cm; Nắp tay lái phía trước xe bị bung hở văng mất một phần chụp mũ, phần bên trái nắp tay lái có vết trầy xước, bong tróc sơn, kích thước 13,5 cm x 1,5 cm; Đèn chiếu sáng gần, xa phía trước có vết trượt trầy xước kích thước 6,5 cm x 6,5 cm; Cụm đèn tín hiệu bên trái, cánh yếm bên trái xe bị bể vỡ văng mất; mặt nạ xe phía trước bị bể vỡ văng mất; Ốp mũ bảo vệ bộ phận lọc gió phía trước xe bị bể hở; Khung sườn cố định bộ phận mặt nạ xe, bộ lọc gió phía trước xe có dấu vết: bị gãy cong hướng từ trước ra sau, từ phải qua trái, có vết trầy xước mài mòn kim loại kích thước 7 cm x 1 cm; Vè chắn bùn phía trước xe bị bể văng mất; Khung sườn xe, chảng ba xe bị cong, thụng hướng từ trước ra sau; Lốp xe bị bể không còn hơi; Bộ phận giảm sốc phía trước, bên trái xe bị mài mòn, khuyết kim loại có bám dính tạp chất màu đỏ nghi là sơn, kích thước 27 x 4,5 cm; Đầu gác chân trước bên trái bị rách cao su, mài mòn kim loại, bị cong hướng từ trước ra sau; Ốp sường bên trái xe bị trầy xước kích thước 22,5 cm x 7,5 cm; Cảng nâng phía sau, bên trái xe bị trầy xước kích thước 1,2 cm x 0,4 cm; yếm chắn gió bên phải của xe bị bể hở; Chân chống xe giữa phần bên phải bị trầy xước kim loại.
Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật, xử lý vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện C tạm giữ 01 xe mô tô và giấy chứng nhận đăng xe mô tô biển số 60B4-906.62 tên Phan Minh L1; 01 xe mô tô và giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô biển số 67F4-5650 tên Nguyễn Hữu P; 01 giấy phép lái xe hạng A1 mang tên Phạm Thanh H1; 01 giấy phép lái xe hạng A2 mang tên Thiều Quang Q. (Bút lục số: 02 – 05)
Tại bản Cáo trạng số: 38/CT-VKS.CP ngày 14 tháng 6 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Phú, tỉnh An Giang đã truy tố bị cáo về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, theo điểm b khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa,
Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội phù hợp với nội dung nêu trên; đã thỏa thuận bồi thường toàn bộ thiệt hại cho đại diện hợp pháp của bị hại; đề nghị nhận lại xe, giấy phép lái xe, giấy chứng nhận đăng ký xe.
Đại diện hợp pháp của bị hại bà H trình bày phù hợp với nội dung vụ án nêu trên, đã nhận tiền bồi thường thiệt hại 130.000.000đ, không yêu cầu bồi thường thêm. Đề nghị được nhận xe, giấy chứng nhận đăng ký xe và giấy phép lái xe của Phạm Thanh H1. Đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, xin cho bị cáo được hưởng án treo.
Đại diện hợp pháp của bị hại bà T1 trình bày phù hợp với nội dung vụ án nêu trên, đã nhận tiền bồi thường thiệt hại về cấp dưỡng nuôi con đến 18 tuổi với số tiền 90.000.000đ, không yêu cầu bồi thường thêm. Thống nhất cho bà H được nhận lại xe, giấy chứng nhận đăng ký xe và giấy phép lái xe của Phạm Thanh H1 và bà H được quyền sở hữu đối với các tài sản này theo quy định. Đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, xin cho bị cáo được hưởng án treo.
Người làm chứng bà Ngô Thị Minh N1, ông Nguyễn Phước T3 trình bày phù hợp với nội dung vụ án, cũng như lời khai có trong hồ sơ vụ án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Phú luận tội đối với bị cáo: Giữ nguyên quyết định truy tố như Cáo trạng. Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử như sau:
- - Về hình phạt chính: Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65; của Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt: Bị cáo Thiều Quang Q từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù nhưng cho hưởng án treo.
- - Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung.
- - Về xử lý vật chứng đề nghị áp dụng Điều 47, 48 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Trả lại cho bị cáo Thiều Quang Q 01 xe mô tô biển số 60B4-906.62, số máy JC76E1058431, số khung 7635KY040651, xe mang dấu vết do tai nạn giao thông (dấu vết được ghi nhận tại Biên bản khám phương tiện liên quan đến tai nạn giao thông ngày 11/9/2023 của Cơ quan CSĐT Công an huyện C, tỉnh An Giang); Giấy chứng nhận đăng xe mô tô biển số 60B4-906.62 số 063459 do Công an huyện Đ, tỉnh Đồng Nai cấp ngày 21/10/2019; Giấy phép lái xe mô tô hạng A2 mang tên Thiều Quang Q do Sở Giao thông vận tải tỉnh A cấp ngày 23/7/2020;
Trả lại cho bà H 01 xe mô tô biển số 67F4-5650, số máy DH88E1208940, số khung DH88XF1208964, xe mang dấu vết do tai nạn giao thông (dấu vết được ghi nhận tại Biên bản khám phương tiện liên quan đến tai nạn giao thông ngày 11/9/2023 của Cơ quan CSĐT Công an huyện C, tỉnh An Giang; Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô biển số 67F4-5650 số A0100204 do Phòng CSGT Công an tỉnh A cấp ngày 23/3/2000; Giấy phép lái xe hạng A1 mang tên Phạm Thanh H1 do Sở Giao thông vận tải tỉnh A cấp ngày 30/12/2008.
- Về trách nhiệm dân sự đề nghị không xem xét.
Bị cáo Thiều Quang Q không bào chữa, tranh luận, thừa nhận hành vi vi phạm, xin giảm nhẹ hình phạt, xin được hưởng án treo.
Bà H đại diện hợp pháp của bị hại không tranh luận, xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, cho bị cáo được hưởng án treo.
Bà T1 đại diện hợp pháp của bị hại không tranh luận, xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, cho bị cáo được hưởng án treo.
Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của bà T1 tranh luận: Thống nhất với tội danh, hình phạt như Viện kiểm sát đề nghị; về trách nhiệm dân sự mặc dù các bên đã thỏa thuận xong nhưng hiện tại mức lương cơ sở đã tăng nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét buộc bị cáo bồi thường thiệt hại thêm cho bà T1.
Đại diện Viện kiểm sát đối đáp: Về trách nhiệm dân sự giữa bị cáo và đại diện hợp pháp của bị hại đã tự nguyện thỏa thuận bồi thường toàn bộ. Tại phiên tòa những người đại diện hợp pháp của bị hại không yêu cầu bồi thường thêm. Do đó, không có cơ sở xem xét đề nghị của người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của bà T1.
Bị cáo nói lời nói sau cùng: Bị cáo đã biết mình sai, rất ăn năn, hối hận, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt, cho bị cáo được hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đều phù hợp.
Tại phiên tòa ông Phan Minh L1 là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; ông Đỗ Anh K, ông Nguyễn Châu K1 là người làm chứng vắng mặt không có lý do, mặc dù đã được triệu tập hợp lệ. Xét thấy, sự vắng mặt của họ không gây trở ngại gì đến việc xét xử của vụ án. Căn cứ Điều 292, Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.
[2] Về nội dung vụ án:
Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo Thiều Quang Q khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu trên. Lời khai nhận của bị cáo tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng về thời gian, địa điểm, thủ đoạn, mục đích, động cơ phạm tội và hậu quả do phạm tội gây ra, cùng các tang vật đã thu giữ, các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập khách quan đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ cơ sở kết luận:
Thiều Quang Q đã có hành vi điều khiển xe mô tô biển số 60B4-906.62 trong tình trạng có sử dụng rượu bia với nồng độ cồn 1.62 g/L, không không làm chủ tay lái đụng vào xe mô tô biển số 67F4 – 5650 do Phạm Thanh H1 điều khiển chạy cùng chiều phía trước. Hậu quả làm H1 chết do gãy trật cột sống cổ, chèn ép tủy.
Thấy rằng, bị cáo là người đã thành niên, có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự; bị cáo nhận thức được việc sử dụng rượu, bia khi điều khiển xe tham gia giao thông đường bộ là vi phạm pháp luật và có thể gây nguy hiểm cho người khác nhưng bị cáo tin rằng bị cáo có thể điều khiển xe không gây tai nạn cho người khác. Bị cáo điều khiển xe trong tình trạng có sử dụng rượu, bia mà nồng độ cồn trong hơi thở là 1,62mg/l khí thở là vượt mức quy định là vi phạm khoản 8 Điều 8 Luật Giao thông đường bộ. Bị cáo không đủ điều kiện lái xe, chạy xe thiếu quan sát dẫn đến gây tai nạn cho bị hại, hậu quả bị hại tử vong. Hành vi của bị cáo là hành vi nguy hiểm, đã xâm phạm đến trật tự an toàn giao thông đường bộ, đã cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 260 của Bộ luật hình sự. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Phú truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
“Điều 260 Bộ luật Hình sự quy định: Tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
- Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
- Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm:
- Trong tình trạng có sử dụng rượu, bia mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá mức quy định, có sử dụng chất ma túy hoặc chất kích thích mạnh khác;
- 3.........;
- 4.........;
- 5. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm”.
[3] Các tình tiết tăng năng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo:
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo đã tự nguyện bồi thường toàn bộ thiệt hại, khắc phục hậu quả là tình tiết giảm nhẹ đối với bị cáo theo quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Ngoài ra, xét thấy bị cáo có con nhỏ sinh năm 2021 cần có sự nuôi dưỡng và chăm sóc; sau khi gây tai nạn bị cáo bị thương nặng phải nằm viện, sau khi điều trị xong bị cáo đã chủ động đến cơ quan có thẩm quyền trình diện, phối hợp với cơ quan điều tra; đại diện hợp pháp của bị hại xin giảm nhẹ hình phạt, đề nghị cho bị cáo được hưởng án treo. Do đó, HĐXX áp dụng tình tiết này là tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về nhân thân bị cáo không có tiền án, tiền sự.
[4] Xét về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo: Hiện nay tình trạng tai nạn giao thông trên Quốc lộ I diễn ra rất nhiều, đã gây ra nhiều đau thương mất mát cho bị hại cũng như gia đình bị hại. Phần lớn nguyên nhân dẫn đến việc gây tại nạn khi tham gia giao thông đường bộ là do người điều khiển đã uống rượu, bia không làm chủ được tay lái. Tuy nhiên, sau khi gây tay nạn bị cáo cũng bị thương tật nặng với tỷ lệ thương tật là 33%, hiện vẫn còn đang trong quá trình điều trị và uống thuốc hàng ngày. Do đó, HĐXX sẽ cân nhắc các tình tiết này khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.
Căn cứ vào các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, tính chất mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo. Hội đồng xét xử thấy rằng, bị cáo có 02 tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 và 03 tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự nên Hội đồng xét xử áp dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự xét xử bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt. Do đó, Hội đồng xét xử phạt bị cáo 02 năm 06 tháng tù là phù hợp.
Tuy nhiên, căn cứ vào Điều 65 Bộ luật Hình sự; Điều 2 Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP hướng dẫn về án treo thì HĐXX thấy rằng, bị cáo bị xử phạt dưới 03 năm tù, có nhân thân tốt, bị cáo có 02 tình tiết giảm nhẹ tại khoản 1 và 03 tình tiết giảm nhẹ tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự; bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, bị cáo có khả năng tự cải tạo, bị cáo bị thương tật nặng cần phải điều trị dài hạn và việc cho hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã, không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Do đó, HĐXX thấy rằng, bị cáo có đủ điều kiện để được hưởng án treo theo quy định nên HĐXX cho bị cáo Thiều Quang Q được hưởng án treo, thời gian thử thách là 05 năm cũng đủ răn đe, giáo dục bị cáo.
[5] Về hình phạt bổ sung:
Hội đồng xét xử thấy rằng, không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[6] Về xử lý vật chứng:
Căn cứ Điều 47, Điều 48 Bộ luật Hình sự và 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Hội đồng xét xử thấy rằng, các tài sản, giấy tờ của bị cáo Thiều Quang Q không phải là công cụ phương tiện phạm tội. Do đó, trả lại cho bị cáo Thiều Quang Q 01 xe mô tô biển số 60B4-906.62, số máy JC76E1058431, số khung 7635KY040651, xe mang dấu vết do tai nạn giao thông (dấu vết được ghi nhận tại Biên bản khám phương tiện liên quan đến tai nạn giao thông ngày 11/9/2023 của Cơ quan CSĐT Công an huyện C, tỉnh An Giang); Giấy chứng nhận đăng xe mô tô biển số 60B4-906.62 số 063459 do Công an huyện Đ, tỉnh Đồng Nai cấp ngày 21/10/2019; Giấy phép lái xe mô tô hạng A2 mang tên Thiều Quang Q do Sở Giao thông vận tải tỉnh A cấp ngày 23/7/2020;
Hội đồng xét xử thấy rằng, các tài sản, giấy tờ của bị hại thuộc quyền sử dụng, sở hữu của bị hại và bị hại đã chết nên cần phải trả lại cho người thừa kế của bị hại. Tuy nhiên, những người thừa kế của bị hại thống nhất giao cho bà H là người được toàn quyền sở hữu, sử dụng đối với các tài sản, giấy tờ của bị hại nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Do đó, trả lại cho bà H 01 xe mô tô biển số 67F4-5650, số máy DH88E1208940, số khung DH88XF1208964, xe mang dấu vết do tai nạn giao thông (dấu vết được ghi nhận tại Biên bản khám phương tiện liên quan đến tai nạn giao thông ngày 11/9/2023 của Cơ quan CSĐT Công an huyện C, tỉnh An Giang; Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô biển số 67F4-5650 số A0100204 do Phòng CSGT Công an tỉnh A cấp ngày 23/3/2000; Giấy phép lái xe hạng A1 mang tên Phạm Thanh H1 do Sở Giao thông vận tải tỉnh A cấp ngày 30/12/2008.
[7] Về trách nhiệm dân sự:
Hội đồng xét xử thấy rằng, giữa bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã tự thỏa thuận. Tại phiên tòa người đại diện hợp pháp của bị hại không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[8] Về án phí sơ thẩm:
Bị cáo phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm. Theo quy định tại Điều 135 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố: Bị cáo Thiều Quang Q phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 260; Điều 38; Điều 54; Điều 65; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Căn cứ Điều 2; Điều 5 Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao.
Xử phạt: Bị cáo Thiều Quang Q 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 05 năm kể từ ngày 05/8/2024.
Giao bị cáo Thiều Quang Q cho Ủy ban nhân dân thị trấn C, huyện C, tỉnh An Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo Thiều Quang Q thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 68, Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.thời gian thử thách, bị cáo Thiều Quang Q cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo Thiều Quang Q phải chấp hành hình phạt tù của Bản án đã cho hưởng án treo.
- Về trách nhiệm dân sự: Không xem xét.
- Về xử lý vật chứng:
Căn cứ Điều 47, Điều 48 Bộ luật Hình sự và 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Trả lại cho bị cáo Thiều Quang Q 01 xe mô tô biển số 60B4-906.62, số máy JC76E1058431, số khung 7635KY040651, xe mang dấu vết do tai nạn giao thông (dấu vết được ghi nhận tại Biên bản khám phương tiện liên quan đến tai nạn giao thông ngày 11/9/2023 của Cơ quan CSĐT Công an huyện C, tỉnh An Giang); Giấy chứng nhận đăng xe mô tô biển số 60B4-906.62 số 063459 do Công an huyện Đ, tỉnh Đồng Nai cấp ngày 21/10/2019; Giấy phép lái xe mô tô hạng A2 mang tên Thiều Quang Q do Sở Giao thông vận tải tỉnh A cấp ngày 23/7/2020;
Trả lại cho bà Hồ Thị H 01 xe mô tô biển số 67F4-5650, số máy DH88E1208940, số khung DH88XF1208964, xe mang dấu vết do tai nạn giao thông (dấu vết được ghi nhận tại Biên bản khám phương tiện liên quan đến tai nạn giao thông ngày 11/9/2023 của Cơ quan CSĐT Công an huyện C, tỉnh An Giang; Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô biển số 67F4-5650 số A0100204 do Phòng CSGT Công an tỉnh A cấp ngày 23/3/2000; Giấy phép lái xe hạng A1 mang tên Phạm Thanh H1 do Sở Giao thông vận tải tỉnh A cấp ngày 30/12/2008.
Theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 05 tháng 8 năm 2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an huyện C và Chi cục Thị hành án dân sự huyện C.
- Về án phí:
Căn cứ khoản 2 Điều 135 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Thiều Quang Q phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định các Điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.
- Về quyền kháng cáo:
Thời hạn kháng cáo đối với bản án sơ thẩm là 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với bị cáo, đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày họ nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Võ Văn Hoà |
Bản án số 47/2024/HS-ST ngày 05/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU PHÚ, TỈNH AN GIANG về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Số bản án: 47/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 05/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU PHÚ, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
