Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 47/2024/DS-ST

Ngày 17-5-2024

V/v tranh chấp về quyền sử dụng đất và

hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị Thu Hằng

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Cao Thị Hạ

Ông Nguyễn Đức Mạnh

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Hấn - Thư ký của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Hinh - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 42/2023/TLST-DS ngày 14 tháng 3 năm 2023 về việc tranh chấp về quyền sử dụng đất và hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 35/2024/QĐXXST-DS ngày 12 tháng 3 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 41/2024/QĐST-DS ngày 22 tháng 3 năm 2024, Thông báo về việc thay đổi thời gian mở phiên tòa số 21/TB-TA ngày 04/4/2024 và Thông báo về việc thay đổi thời gian mở phiên tòa số 24/TB-TA ngày 15/4/2024 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Lưu Thị H, sinh năm 1959; đăng ký thường trú: Tổ dân phố T, phường H, quận Đ, thành phố Hải Phòng; nơi ở: Số C phố L, phường Đ, Quận N, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.

- Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Nguyễn Trung K, sinh năm 1980; địa chỉ: Số H phố L, phường Đ, Quận N, thành phố Hải Phòng (Đại diện theo ủy quyền, theo Hợp đồng ủy quyền số 1171 ngày 10/11/2022); có mặt.

- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của của nguyên đơn: Bà Bùi Thị Mai L – Luật sư Công ty L2 thuộc Đoàn Luật sư thành phố H; có mặt.

2. Bị đơn: Bà Lưu Thị H1, sinh năm 1958 và ông Phạm Đức H2, sinh năm 1957; nơi ở: Tổ dân phố T, phường H, quận Đ, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.

- Người đại diện hợp pháp của bị đơn: Anh Phạm Đức T, sinh năm 1984 và chị Phạm Thị H3, sinh năm 1989; nơi ở: Tổ dân phố T, phường H, quận Đ, thành phố Hải Phòng (Đại diện theo ủy quyền, theo Giấy ủy quyền ngày 06/05/2023 và Giấy ủy quyền số 246/2023 ngày 16/10/2023). Anh Phạm Đức T và chị Phạm Thị H3 đều có mặt.

- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: Ông Nguyễn Xuân L1 – Luật sư Văn phòng L3, thuộc Đoàn Luật sư thành phố H; có mặt.

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • Ủy ban nhân dân quận Đ, thành phố Hải Phòng; địa chỉ: Số A đường L, phường N, quận Đ, thành phố Hải Phòng.
  • Người đại diện hợp pháp của Ủy ban nhân dân quận Đ: Bà Nguyễn Ngọc H4 - Phó Trưởng phòng Phòng Tài nguyên và Môi trường quận Đ, Chánh Văn phòng Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân quận Đ, thành phố Hải Phòng (đại diện theo ủy quyền theo Quyết định ủy quyền số 326/QĐ-UBND ngày 11/3/2014); vắng mặt.
  • Sở Tài Nguyên Môi trường thành phố H; có đơn xin xét xử vắng mặt.
  • Ủy ban nhân dân phường H, quận Đ, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.
  • Văn phòng C; địa chỉ: Số B L, Quận L, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.
  • Chị Nguyễn Thị Nhật H5, sinh năm 1983; địa chỉ: Số H phố L, phường Đ, Quận N, thành phố Hải Phòng; có mặt.
  • Anh Nguyễn Thanh T1, sinh năm 1984; địa chỉ: Số C phố L, phường Đ, Quận N, thành phố Hải Phòng; có mặt.
  • Chị Nguyễn Thị Bích D, sinh năm 1990; địa chỉ: Số C phố L, phường Đ, Quận N, thành phố Hải Phòng; có mặt.
  • Anh Lưu Văn T2; địa chỉ: Tổ dân phố T, phường H, quận Đ, thành phố Hải Phòng; có mặt.
  • Chị Trịnh Thị H6; địa chỉ: Tổ dân phố T, phường H, quận Đ, thành phố Hải Phòng; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1. Theo đơn khởi kiện, đơn khởi kiện bổ sung, các bản tự khai, nguyên đơn và người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:

Gia đình bà Lưu Thị H cùng các con là chị Nguyễn Thị Nhật H5, anh Nguyễn Thanh T1, chị Nguyễn Thị Bích D được UBND huyện K cấp 2.260m² đất nông nghiệp tại thôn T, xã H, huyện K, thành phố Hải Phòng nay là Tổ dân phố T, phường H, quận Đ, thành phố Hải Phòng theo GCNQSDĐ số 00128QSDĐ/KT07Q1 ngày 28/12/1995, gồm 04 thửa đất nông nghiệp là:

  • Thửa 44, tờ bản đồ 18, diện tích 1.020m²; thời hạn sử dụng đến tháng 8/2014.
  • Thửa 54, tờ bản đồ 18, diện tích 384m²; thời hạn sử dụng đến tháng 8/2014.
  • Thửa 286, tờ bản đồ 9, diện tích 360m²; thời hạn sử dụng đến tháng 8/2014.
  • Thửa 255, tờ bản đồ 8, diện tích 496m²; thời hạn sử dụng đến tháng 8/2014.

Gia đình bà Lưu Thị H được Hợp tác xã cấp gần một sào đất ở khoảng 350m² ngay bên cạnh thửa số 54, tờ bản đồ số 18, diện tích 384m². Chồng bà Lưu Thị H không được cấp đất vì là công nhân thoát ly, không sinh sống ở địa phương.

Năm 1996, gia đình bà Lưu Thị H chuyển đi nơi khác sinh sống và chuyển nhượng toàn bộ đất ở cho ông Phạm Đức H2 cùng vợ là bà Lưu Thị H1 là chị gái bà H không có giấy tờ, giao dịch bằng miệng, số tiền chuyển nhượng thửa đất là 20.000.000 đồng. Sau đó năm 2003, bà Lưu Thị H cùng vợ chồng ông Phạm Đức H2 mới làm Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất vì khi đó vợ chồng ông Phạm Đức H2 mới trả hết tiền.

Phần diện tích đất nông nghiệp thửa 54, tờ bản đồ 18, diện tích 384m² nằm liền kế với đất ở, ngay mặt đường T, phường H, quận Đ có chiều ngang mặt đường khoảng hơn 10m và chạy dọc hết đất. Bà H chuyển nhượng đất cho mẹ đẻ là cụ Đỗ Thị T3 5m ngang mặt đường và chạy hết chiều dài của thửa đất nêu trên (diện tích chuyển nhượng cụ thể là 115m²). Cụ Đỗ Thị T3 được UBND huyện K cấp GCN số H07-00900 ngày 13/12/2006 và cụ Đỗ Thị T3 đã tặng cho thửa đất trên cho anh Lưu Văn T2 theo Hợp đồng số 1418 ngày 01/4/2017. Phần đất còn lại không ai quản lý, sử dụng, để không. Bà H cho rằng hiện nay một phần đất còn lại của thửa số 54 của gia đình bà đã bị vợ chồng ông H2 chiếm đoạt, nằm trong thửa đất số 23 số vào sổ CH01429 với diện tích 489m².

Ngày 03/7/2020, ông Phạm Đức H2 cùng vợ là bà Lưu Thị H1 đã chuyển nhượng cho anh Lưu Văn T2 96,8m² đất theo Hợp đồng số 3117 ngày 03/7/2020. Hiện anh T2 đã hợp thửa đất số 54b tờ bản đồ 18 và thửa nhận chuyển nhượng từ vợ chồng ông Phạm Đức H2 là thửa 36 tờ bản đồ 49 thành thửa 38 tờ bản đồ 49 đã được Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố H cấp GNCQSDĐ. Thời điểm vợ chồng ông Phạm Đức H2 được cấp GNCQSDĐ, gia đình bà H không biết.

Bà H đã gửi đơn tranh chấp đất đai ra UBND phường H và đã được UBND phường H hòa giải 03 lần nhưng không thành (lần 1 ngày 19/10/2022; lần 2 ngày 10/11/2022; lần 3 ngày 18/11/2022). Nay bà H khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết những nội dung sau:

  • Hủy GCNQSDĐ số CG780005 số vào sổ cấp CH012429 cấp ngày 28/12/2016 do UBND quận Đ cấp cho thửa đất số 23, tờ bản đồ 49, diện tích 489m² mang tên chủ sử dụng đất là ông Phạm Đức H2 và bà Lưu Thị H1.
  • Huỷ GCNQSDĐ số CX 580911 số vào sổ cấp CS 02675 do Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố H cấp ngày 30/12/2020 cho thửa đất số 38, tờ bản đồ 49, diện tích 211,8m² tại tổ dân phố T, phường H, quận Đ, thành phố Hải Phòng mang tên chủ sử dụng đất là ông Lưu Văn T2.
  • Huỷ Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số 3117.2020/GCNQSDĐ ngày 03/7/2020 giữa vợ chồng ông Phạm Đức H2 và bà Lưu Thị H1 với anh Lưu Văn T2.
  • Buộc ông Phạm Đức H2 cùng vợ là bà Lưu Thị H1 trả lại cho bà Lưu Thị H 224m² đất đã chiếm đoạt.
  • Buộc ông Lưu Văn T2 trả lại cho bà Lưu Thị H 96,8m² đất đã nhận chuyển nhượng của ông Phạm Đức H2 và bà Lưu Thị H1.

2. Bị đơn, người đại diện theo uỷ quyền của bị đơn là chị Phạm Thị H3 và anh Phạm Đức T trình bày:

Năm 1996, bà Lưu Thị H1 cùng chồng là ông Phạm Đức H2 có nhận chuyển nhượng đất và tài sản trên đất của bà Lưu Thị H tại thửa đất số 54, tờ bản đồ số 18 với giá 26.000.000 đồng. Sau khi nhận chuyển nhượng đất và tài sản trên đất từ bà H, vợ chồng ông Phạm Đức H2 đã cùng các con đã về sinh sống, ăn ở trên thửa đất nhận chuyển nhượng của bà H từ năm 1996. Đến tháng 7/2003, vợ chồng ông H2 trả hết tiền chuyển nhượng đất cho bà H nên ngày 20/7/2003 bà Lưu Thị H cùng vợ chồng ông Phạm Đức H2 mới làm Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Hợp đồng chuyển nhượng đất thể hiện vị trí thửa đất: Thửa số 54, tờ bản đồ số 18, địa chỉ: Thôn T, xã H, huyện K, thành phố Hải Phòng - nay là Tổ dân phố T, phường H, quận Đ, thành phố Hải Phòng; loại đất là đất thổ cư, ranh giới thửa đất được xác định cụ thể như sau:

  • Phía Bắc giáp với nhà ông Đ;
  • Phía Đông giáp với ngõ nhà ông Đ;
  • Phía Tây giáp với ngõ nhà bà N;
  • Phía Nam giáp với đường T.

Diện tích của thửa đất được ghi trên giấy tờ là 350m² đất, tài sản trên đất gồm: Nhà ở, ngõ đi, bếp, chuồng lợn, nhà vệ sinh nhưng thực tế nhận chuyển nhượng cả thửa đất số 54 và diện tích của nhà bà H đang quản lý và sử dụng; hai bên không đo đạc cụ thể, vợ chồng ông H2 chỉ nghe bà H nói thửa đất chuyển nhượng có diện tích khoảng tầm 350m². Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa hai bên được UBND xã H - nay là UBND phường H xác nhận và đóng dấu. Kể từ năm 1996 khi nhận chuyển nhượng đất của bà H thì vợ chồng ông H2 sử dụng đất, xây dựng công trình trên đất từ đó đến nay theo đúng ranh giới, mốc giới trong Hợp đồng chuyển nhượng được lập ngày 20/7/2003.

Đến tháng 12/2003, vợ chồng ông H2 đã chuyển nhượng một phần đất giáp ranh ngõ nhà bà N cho mẹ đẻ của bà H1 là cụ Đỗ Thị T3 với diện tích là 115m², với giá 50.000.000 đồng. Khi vợ chồng ông H2 chuyển nhượng đất cho cụ Đỗ Thị T3 thì bà H có biết việc này vì bà H thường xuyên đến nhà anh T2 để chăm sóc và thăm nom mẹ đẻ là cụ Đỗ Thị T3, cụ T3 ở cùng anh Lưu Văn T2 ngay bên cạnh thửa đất của vợ chồng ông H2. Năm 2016, vợ chồng ông H2 đã được cấp GCNQSDĐ đối với phần đất còn lại, có diện tích là 488m².

Năm 2020, vợ chồng ông H2 chuyển nhượng tiếp một phần đất có diện tích là 96,8m² cho anh T2. Mảnh đất mang tên cụ T3 mua của vợ chồng ông H2 là 115 m², cụ T3 đã tặng cho anh Lưu Văn T2 cùng với mảnh đất anh T2 mua 96,8m gộp thành một thửa đất mang tên anh T2. Cùng năm 2020, gia đình anh T2 và vợ chồng ông H2 xây dựng nhà trên thửa đất số 54, tờ bản đồ số 18 như đã nêu trên. Năm 2021 và 2022, công việc xây dựng hoàn thành, gia đình anh T2 và gia đình bà H1 đã ở và sinh hoạt bình thường. Đến cuối năm 2022, bà H kiện đòi lại đất mà vợ chồng ông H2 đã bán cho anh T2 và yêu cầu hủy GCNQSDĐ mang tên vợ chồng ông H2.

Suốt trong khoảng 28 năm từ năm 1996 đến nay, gia đình ông H2, bà H1 sinh sống tại thửa đất số 54, mọi hoạt động của gia đình ông H2, bà H1 thì bà H đều biết và không có ý kiến gì bởi lẽ việc chuyển nhượng đất cho người khác, có ông Nguyễn Văn X là chồng bà H chứng kiến xác nhận vào giấy chuyển tiền với tư cách là người làm chứng. Hiện nay ngoài phần đất vợ chồng ông H2 đã chuyển nhượng cho anh T2 và cụ T3; diện tích đất còn lại vợ chồng ông H2 vẫn đang ở, sinh sống trên thửa đất này.

Bà H1, ông H2 và người đại diện cho ông bà là chị Phạm Thị H3 và anh Phạm Đức T không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lưu Thị H, đề nghị Tòa án bác toàn bộ yêu càu khởi kiện của bà Lưu Thị H.

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày:

* Anh Lưu Văn T2 trình bày:

Tháng 4/2017, cụ Đỗ Thị T3 đã tặng cho anh diện tích 115m² tại thửa đất 22 tờ bản đồ số 49 cho anh, đây là tài sản riêng của anh.

Tháng 7/2020, bà H1 và ông H2 có chuyển nhượng cho anh diện tích đất 96,8m2 tại thửa đất số 36 tách từ thửa số 23, tờ bản đồ số 49.

Vì căn nhà gia đình anh sinh sống, xây dựng từ năm 2003 đến năm 2020 xuống cấp nên gia đình anh đã gỡ bỏ và xây mới một căn nhà trên cả 2 thửa đất, do đó anh đã làm thủ tục gộp 2 thửa đất lại thành một.

Thửa đất số 38, tờ bản đồ số 49; diện tích 211,8 m² mang tên anh T2.

Toàn bộ giấy tờ, thủ tục tách gộp thửa đất, anh T2 nộp và làm theo đúng quy định pháp luật.

Ngày 30/12/2020 Sở Tài Nguyên Và Môi Trường thành phố H đã cấp GCNQSDĐ thửa đất số 38, tờ bản đồ số 49; diện tích 211,8m² mang tên anh T2. Những người sinh sống và quản lý trên đất gồm có anh, vợ anh là chị Trịnh Thị H6 cùng các con của anh là Lưu Trịnh Q, Lưu Trịnh Mai A và trước đó tại thời điểm xảy ra đơn kiện còn có cụ T3 nhưng nay cụ T3 đã chết. Công trình trên đất gồm có nhà 2 tầng, 01 nhà cấp 4, bể cá cảnh xây chìm, cây cảnh trồng trên đất.

Anh T2 khẳng định: Mọi thủ tục nhận tặng cho đất, nhận chuyển nhượng đất, cấp GCNQSDĐ, anh đều thực hiện đúng pháp luật. Thời điểm anh nhận chuyển nhượng đất của vợ chồng ông H2, anh xây nhà không ai có đơn từ khiếu nại gì. Cụ T3 ở cùng gia đình anh nên bà H thường xuyên qua lại thăm cụ T3 nhưng bà H không có ý kiến thắc mắc gì, không khiếu nại gì. Anh T2 không đồng ý yêu cầu khởi kiện của bà Lưu Thị H, anh đề nghị Tòa án bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Lưu Thị H.

* Chị Trịnh Thị H6 (là vợ anh T2) trình bày: Chị H6 thống nhất với anh T2 về nội dung anh T2 trình bày. Số tiền xây nhà và công trình trên đất là tiền chung của anh chị. Anh chị không làm thủ tục gì về việc chuyển mục đích sử dụng đất từ đất nông nghiệp sang thổ cư đối với thửa đất mang tên anh T2. Chị H6 không đồng ý yêu cầu khởi kiện của bà Lưu Thị H, chị đề nghị Tòa án bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Lưu Thị H.

* Ý kiến của Ủy ban nhân dân phường H:

Về nguồn gốc, diễn biến quá trình sử dụng đất: Thửa đất số 23, tờ bản đồ số 49, nguyên là đất của bà Lưu Thị H sử dụng trước năm 1984 (theo bản đồ, sổ mục kê lập năm 1984 ghi nhận: Thửa đất số 633, tờ bản đồ số 4, diện tích 341m²; loại đất thổ cư (T), chủ sử dụng Lưu Thị H và thửa số 974, diện tích 310m², loại đất 2 lúa, chủ sử dụng đất HTX; theo Bản đồ và Sổ mục kê lập năm 1995 ghi nhận thửa đất số 54, tờ bản đồ số 18, diện tích 689m²; trong đó đất ở 305m², đất hai lúa 384m², chủ chủ sử dụng là bà Lưu Thị H.

Ngày 20/7/2003, bà Lưu Thị H ký Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho ông Phạm Đức H2 cùng vợ là bà Lưu Thị H1. Diện tích chuyển nhượng là 350m², loại đất thổ cư, thửa số 54, tờ bản đồ số 18 thuộc thôn T. Xác nhận của UBND xã H: Đất thổ cư bà H thuộc thửa 54, diện tích 350m² (trong đó đất thuộc hành lang giao thông là 29m²); thửa đất sử dụng đúng vị trí, không có tranh chấp.

Năm 2016, bà H1 cùng ông H2 được UBND quận Đ cấp GCNQSDD mang tên bà H1 và ông H2 đối với diện tích 489m², thửa số 23, tờ bản đồ số 49 thuộc Tổ dân phố T, phường H, quận Đ, thành phố Hải Phòng; mục đích sử dụng: Đất ở tại đô thị.

Năm 2020, bà H1 cùng ông H2 chuyển nhượng một phần diện tích đất 96,8m² cho anh Lưu Văn T2; sau đó ngày 30/12/2020, bà H1 cùng ông H2 được Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố H cấp đổi lại GCNQSDD ghi nhận diện tích đất là 392,2m², thửa đất số 37, tờ bản đồ số 49; mục đích sử dụng: Đất ở tại đô thị.

Năm 2006, cụ Đỗ Thị T3 được UBND huyện K, thành phố Hải Phòng cấp GCNQSDD diện tích là 115m² vị trí tại thửa số 54. Năm 2017, cụ T3 tặng cho quyền sử dụng đất 115m² cho anh Lưu Văn T2.

Đại diện UBND phường H đề nghị Tòa án giải quyết tranh chấp đất trên theo quy định của pháp luật.

* Ý kiến của UBND quận Đ, thành phố Hải Phòng:

  • Về nguồn gốc đất, diễn biến quá trình sử dụng đất: Thửa đất số 23, tờ bản đồ số 49 nguyên là đất của bà Lưu Thị H và ông Nguyễn Văn X sử dụng trước năm 1984.
    • Theo bản đồ và số mục kê lập năm 1984 mang số thửa 633, tờ bản đồ số 4; diện tích 341m²; loại đất thổ cư (T), chủ sử dụng Lưu Thị H và thửa số 974, diện tích 310m², loại đất 2 lúa, chủ sử dụng đất Hợp tác xã.
    • Theo bản đồ năm 1995 mang số thửa 54, tờ bản đồ số 18, diện tích 689m², loại đất ghi 2L (đất trồng lúa); theo sổ mục kê lập năm 1995 trong diện tích 689m² gồm: 305m² là đất ở; 384m² là đất 2 lúa; chủ sử dụng đất Lưu Thị H.
  • Ngày 20/7/2003, bà Lưu Thị H lập Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho vợ chồng ông Phạm Đức H2 thửa đất số 54, tờ bản đồ 18, được UBND xã H xác nhận ngày 22/7/2023. Năm 2020, vợ chồng ông Phạm Đức H2 chuyển nhượng 96,8m² đất ở cho ông Lưu Văn T2.
  • Về việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất:
    • Thửa đất số 23, tờ bản đồ số 49 được UBND quận Đ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho ông Phạm Đức H2 và bà Lưu Thị H7 ngày 28/12/2016, diện tích 489m², số Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất CG 780005, số vào sổ cấp GCN: CH01429;
    • Thửa đất số 54b (một phần thửa đất số 54), tờ bản đồ số 18 được UBND huyện K cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 13/12/2006, diện tích 115m²; số vào sổ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: H07-00900/Q2. Ngày 01/04/2017, bà Đỗ Thị T3 tặng cho ông Lưu Văn T2 theo Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất số 1418.2017/TCQSDĐ, quyển số: 01TP/CC-SCC/HĐGD được Văn phòng Công chứng An Bình thành phố C chứng nhận. Ngày 12/6/2017, UBND quận Đ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Lưu Văn T2, số Giấy chứng nhận CH 891657; số vào sổ cấp GCN: CH 01572, diện tích 115m².

* Văn phòng C: Không có ý kiến.

4. Kết quả xem xét, thẩm định và định giá tài sản thể hiện:

  • Thửa đất số 37, tờ bản đồ số 49 hiện gia đình ông H2, bà H1 đang sinh sống có diện tích 408,1m² (trong đó, đất canh tác là 172,2m²). Trên đất có 1 ngôi nhà 02 tầng, 1 nhà ở cũ mái tôn kẽm, 01 nhà bếp mái tôn, 01 nhà kho mái tôn, công trình kiến trúc đi kèm của gia đình ông H2, bà H1.
  • Thửa đất số 38, tờ bản đồ số 49 (hiện vợ chồng anh T2, chị H6 và 2 con chung của anh chị là cháu V và cháu A đang sinh sống) có diện tích 230,74m² (trong đó, đất canh tác là 96,8m²). Trên đất có 1 ngôi nhà 02 tầng, 02 nhà quán mái tôn, 01 bể cá, công trình kiến trúc đi kèm của gia đình anh T2, chị H6.
  • Diện tích đất nông nghiệp (theo yêu cầu của nguyên đơn) thực tế là 96,8m² + 172,2m² = 269m². Trên đất có 1 nhà 02 tầng của gia đình ông H2, bà H1 và 1 nhà quán của gia đình anh T2, chị H6.
  • Giá đất theo giá thị trường nơi tranh chấp là 18.000.0000đồng/m².
  • Các đương sự đều nhất trí với kết quả xem xét, thẩm định và định giá tài sản.

Tại phiên toà: Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện; người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn cùng quan điểm với nguyên đơn. Bị đơn và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn cùng vợ chồng anh T2 vẫn giữ nguyên quan điểm đã trình bày trong quá trình giải quyết vụ án, không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

5. Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng phát biểu ý kiến:

* Về tố tụng:

Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa sơ thẩm, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

* Về nội dung:

  • Về cơ bản các đương sự đã thực hiện đúng quy định tại các Điều 70 đến 73 của của Bộ luật Tố tụng dân sự về quyền, nghĩa vụ của đương sự là nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan.
  • Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là bà Lưu Thị H về các nội dung:
    • Hủy GCNQSD đất số CH012429 do UBND quận Đ cấp ngày 28/12/2016 cho thửa đất số 23, tờ bản đồ 49, diện tích 489m² tại Tổ dân phố T, phường H, quận Đ, thành phố Hải Phòng mang tên chủ sử dụng đất là ông Phạm Đức H2 và bà Lưu Thị H1.
    • Hủy GCNQSD đất số CX580911 do Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố H cấp ngày 28/12/2016 cho thửa đất số 38, tờ bản đồ 49, diện tích 211,8m² tại Tổ dân phố T, phường H, quận Đ, thành phố Hải Phòng mang tên chủ sử dụng đất là ông Lưu Văn T2.
    • Buộc ông H2, bà H1 trả lại cho gia đình bà H 224m² đất.
    • Buộc ông T2 trả lại cho gia đình bà H 96,8m² đã nhận chuyển nhượng của ông H2, bà H1.
  • Về án phí sơ thẩm: Áp dụng khoản 1 Điều 147 BLTTDS, Điều 12, khoản 2 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, miễn án phí dân sự sơ thẩm cho nguyên đơn.
  • Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh tụng, Hội đồng xét xử nhận định:

- Về tố tụng:

[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu đòi quyền sử dụng đất, yêu cầu hủy giấy CNQSDĐ đã cấp cho ông H2, bà H1 và anh T2 nên quan hệ pháp luật trong vụ án là “Tranh chấp về quyền sử dụng đất và hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”. Căn cứ theo quy định tại khoản 9 Điều 26; khoản 4 Điều 34; điểm a khoản 1 Điều 37 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 4 Điều 32 của Luật Tố tụng hành chính thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng.

[2] Về thời hiệu khởi kiện: Tranh chấp về quyền sử dụng đất không áp dụng thời hiệu khởi kiện theo quy định tại khoản 3 Điều 155 của Bộ luật Dân sự.

[3] Do giao dịch dân sự giữa nguyên đơn và bị đơn thực hiện năm 2003, nay có tranh chấp, vì vậy áp dụng quy định của Bộ luật Dân sự số 33/2005/QH11 (Bộ luật Dân sự năm 2005) để giải quyết - quy định tại điểm c khoản 1 Điều 688 của Bộ luật Dân sự năm 2015. Ngoài ra, nguyên đơn còn yêu cầu huỷ Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số 3117.2020/GCNQSDĐ ngày 03/7/2020 giữa vợ chồng ông Phạm Đức H2 và bà Lưu Thị H1 với anh Lưu Văn T2. Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất phát sinh vào năm 2020, vì vậy áp dụng quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 để giải quyết.

[4] Về sự vắng mặt của các đương sự: Tại phiên tòa, nguyên đơn và bị đơn vắng mặt tại phiên tòa nhưng có người đại diện tham gia phiên tòa; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố H xin xét xử vắng mặt; Ủy ban nhân dân quận Đ, Ủy ban nhân dân phường H, Văn phòng C đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt tại phiên tòa không có lý do. Xét thấy sự vắng mặt của những người này không vì lý do bất khả kháng hay trở ngại khách quan nên căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 227, khoản 1 và khoản 2 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt những người nêu trên.

- Về nội dung: Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

[5] Về nguồn gốc diện tích đất tranh chấp:

[5.1] Tài liệu xác minh tại UBND phường H, quận Đ, thành phố Hải Phòng thể hiện: Tại Bản đồ và Sổ mục kê lập năm 1995 thể hiện: Thửa đất số 54, tờ bản đồ số 18, diện tích 689m²; trong đó đất ở là 305m², đất 2 lúa là 384m² mang tên bà Lưu Thị H (chồng bà H là ông Nguyễn Văn X đi thoát ly, không ở địa phương; các con còn nhỏ).

[5.2] Theo GCNQSDĐ số 00128QSDĐ/KT07Q1 ngày 28/12/1995 do UBND huyện K, thành phố Hải Phòng cấp cho bà Lưu Thị H thì thửa đất số 54, tờ bản đồ 18, có diện tích 384m² là đất 2 lúa; thời hạn sử dụng đất 2 lúa là đến tháng 08 năm 2014.

[6] Quá trình sử dụng đất, biến động về đất:

[6.1] Các đương sự đều thống nhất trình bày: Vào năm 1996, gia đình bà H chuyển đi nơi khác nên bà H chuyển nhượng đất, tài sản trên đất cho ông H2 và vợ là bà H1. Tuy nhiên, do đến năm 2003 ông H2, bà H1 mới trả hết tiền nhận chuyển nhượng thửa đất này nên ngày 20/7/2003 bà H cùng vợ chồng ông H2 mới lập “Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất”.

[6.2] Xét Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 20/7/2003 giữa các bên thấy: Nội dung của Hợp đồng được ghi nhận: Thửa đất chuyển nhượng có số thửa 54, tờ bản đồ số 18, thôn T. Ranh giới thửa đất có vị trí: Phía Bắc giáp nhà ông Đ; phía Nam giáp đường T; phía Đông giáp ngõ ông Đ; phía Tây giáp ngõ bà N. Tài sản trên đất chuyển nhượng gồm: Nhà ở, ngõ đi, bếp chuồng lợn, nhà vệ sinh. Lý do của việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất: Do điều kiện công tác và làm việc của gia đình cho thuận tiện. Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng thửa đất được UBND xã H, huyện K xác nhận vào ngày 22/7/2003. Hợp đồng không ghi giá trị chuyển nhượng thửa đất.

[7] Xét nguyên đơn trình bày chỉ chuyển nhượng cho bị đơn 350m² đất, tuy nhiên nguyên đơn không đưa ra được tài liệu, chứng cứ khi chuyển nhượng đất thì ai là người trực tiếp đo diện tích đất khi chuyển nhượng là 350m². Mặt khác, Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng thửa đất số 54 lại xác nhận ranh giới, mốc giới sử dụng đất các hộ liền kề mà không ghi ranh giới, mốc giới sử dụng diện tích đất còn lại của nguyên đơn là ở đâu, chứng tỏ việc chuyển nhượng này ghi trong hợp đồng chỉ là ước lượng không đo đạc cụ thể. Mặc dù trong Hợp đồng chuyển nhượng đất giữa 2 bên không ghi giá chuyển nhượng là bao nhiêu tiền, nguyên đơn cho rằng giá chuyển nhượng đất là 20 triệu đồng, bị đơn cho rằng giá chuyển nhượng đất là 26 triệu đồng. Tuy nhiên, cả hai bên đều thừa nhận đã thanh toán hết số tiền chuyển thửa đất nên ngày 20/7/2003 bà Lưu Thị H cùng vợ chồng ông Phạm Đức H2 mới làm Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Theo Hợp đồng, hai bên đã xác lập ranh giới, mốc giới của thửa đất. Tại thời điểm các bên xác lập ranh giới, mốc giới thửa đất chuyển nhượng thì không có bên đương sự nào có ý kiến nhờ chính quyền đại phương can thiệp. Như vậy, xác định bà H chuyển nhượng toàn bộ thửa đất số 54 cho vợ chồng ông H2, không phải chuyển nhượng một phần thửa đất như bà H trình bày.

[8] Nguyên đơn cho rằng: Phần diện tích đất nông nghiệp của thửa số 54, tờ bản đồ 18, diện tích 384m² nằm liền kế với đất ở, ngay mặt đường T, phường H, quận Đ có chiều ngang mặt đường khoảng hơn 10m và chạy dọc hết đất. Nguyên đơn đã chuyển nhượng đất cho mẹ đẻ là cụ Đỗ Thị T3 5m ngang mặt đường và chạy hết chiều dài của thửa đất số 54 (diện tích chuyển nhượng cụ thể là 115m²). Cụ Đỗ Thị T3 được UBND huyện K cấp GCN số H07-00900 ngày 13/12/2006 và cụ Đỗ Thị T3 đã tặng cho thửa đất trên cho anh Lưu Văn T2 theo Hợp đồng số 1418 ngày 01/4/2017. Phần đất còn lại không ai quản lý, sử dụng, để không và nguyên đơn cho rằng hiện nay một phần đất còn lại của thửa số 54 của nguyên đơn đã bị vợ chồng bị đơn lấn chiếm, chiếm đoạt nằm trong thửa đất số 23 số vào sổ CH01429 với diện tích 489m². Còn bị đơn cho rằng: Tháng 12/2003, vợ chồng bị đơn đã chuyển nhượng một phần đất giáp ranh ngõ nhà bà N cho mẹ đẻ của bà H1 là cụ Đỗ Thị T3 với diện tích là 115m², với giá 50.000.000 đồng.

Hội đồng xét xử xét: Theo “Văn bản khai nhận và thỏa thuận phân chia di sản thừa kế” ngày 08/8/2016 được Công chứng tại Văn phòng C ngày 08/8/2016 (Bút lục từ số 34 đến số 38) thể hiện: Các con của cụ T3 đều thống nhất diện tích đất này là của cụ Đỗ Thị T3; diện tích đất 115m² thuộc thửa đất số 54b được tách từ thửa đất số 54 và đã được UBND quận Đ cấp GCNQSDĐ số CG780099 ngày 28/02/2017 mang tên cụ Đỗ Thị T3. Cụ T3 đã tặng cho anh T2 diện tích đất 115m² thuộc thửa đất số 54b được tách từ thửa đất số 54 theo đúng quy định của pháp luật. Nguyên đơn và bị đơn trình bày đã chuyển nhượng đất cho mẹ đẻ là cụ Đỗ Thị T3, tuy nhiên cả nguyên đơn và bị đơn không có tài liệu nào để chứng minh được việc chuyển nhượng diện tích đất này cho cụ T3; nguyên đơn cũng không chứng minh được thời điểm nào vợ chồng bị đơn lấn chiếm đất nông nghiệp của nguyên đơn. Do đó, yêu cầu của nguyên đơn đòi bị đơn phải trả lại 224m² đất do lấn chiếm, do chiếm đoạt là không có căn cứ chấp nhận.

[9] Xét thực tế gia đình bà H1, ông H2 sử dụng toàn bộ thửa đất số 54, trên cơ sở thỏa thuận chuyển nhượng đất bằng miệng với bà H từ năm 1996 đến khi bà H khởi kiện (năm 2023). Bà H không có ý kiến gì về diện tích đất nói trên; đồng thời chính quyền địa phương cũng không nhận được kiến nghị nào của bà H về việc sử dụng thửa đất cũng như xây dựng công trình trên thửa đất này của vợ chồng ông H2. Năm 2020, vợ chồng ông H2 đã chuyển nhượng diện tích đất 96,8m² cho anh T2. Sau khi vợ chồng ông H2 chuyển nhượng 96,8m² đất cho anh T2 thì vợ chồng anh T2 và vợ chồng ông H2 đã xây tường bao làm ranh giới giữa hai thửa đất. Bà H thường xuyên về thăm cụ T3, khi đó cụ T3 đang ở cùng vợ chồng anh T2 nên bà H biết vợ chồng ông H2 san lấp đất, sử dụng toàn bộ phần đất để xây tường bao, xây nhà đồng thời bà H có biết năm 2020 vợ chồng ông H2 chuyển nhượng cho anh T2 96,8m² đất. Sau khi nhận chuyển nhượng đất từ vợ chồng ông H2 thì anh T2 đã xây nhà 2 tầng mà bà H cho là đất của bà H. Trong suốt quá trình giải quyết vụ án, các đương sự đều xác nhận tại thời điểm vợ chồng ông H2 chuyển nhượng đất cho anh T2, vợ chồng ông H2 san lấp đất, xây nhà và các công trình khác trên đất thì bà Lưu Thị H có biết, không phản đối gì và đồng ý cho vợ chồng ông H2 chuyển nhượng đất cho anh T2, đồng ý cho vợ chồng ông H2 xây nhà tại vị trí và diện tích đất như hiện nay. Tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn cũng khẳng định rằng: Bà H có biết và kể lại cho chồng con bà H việc vợ chồng ông H2 san lấp đất để làm nhà ở và xây dụng công trình trên đất san lấp. Như vậy, quyền lợi của bà H kéo dài mấy chục năm nhưng bà H không quan tâm, bỏ mặc; điều đó chứng tỏ bà đã H đã thừa nhận từ năm 1996 việc chuyển nhượng toàn bộ diện tích thuộc thửa đất số 54, tờ bản đồ số 18 cho vợ chồng ông H2.

[10] Xét thấy quá trình theo dõi quản lý đất đai tại địa phương, sử dụng đất, chuyển đổi đất, cấp GCNQSD đất không có sự đồng nhất về số đo; việc nguyên đơn và bị đơn chuyển nhượng quyền sử dụng đất thông qua hợp đồng không đo vẽ cụ thể mà chỉ xác định dựa vào ý thức của người tham gia giao dịch để xác định ranh giới, mốc giới đất và xác định chủ sử dụng đất. Năm 2007, xã H, huyện K sáp nhập với Thị xã Đ thành quận Đ, thành phố Hải Phòng nên ông H2, bà H được Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố H tiến hành thủ tục cấp lại GCNQSD đất theo đúng quy định của pháp luật. Theo đó: Anh Lưu Văn T2 được cấp GCNQSD đất số CX580911 do Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố H cấp ngày 30/12/2020 đối với thửa đất số 38, tờ bản đồ số 49, diện tích 211,8m² tại Tổ dân phố T, phường H, quận Đ, thành phố Hải Phòng. Ông Phạm Đức H2 và vợ là bà Lưu Thị H1 được cấp GCNQSD đất số CX580917 do Sở T cấp ngày 30/12/2020 đối với thửa đất số 37, tờ bản đồ số 49, diện tích 392,2m² tại Tổ dân phố T, phường H, quận Đ, thành phố Hải Phòng.

[11] Từ những phân tích trên, có đủ căn cứ xác định bà Lưu Thị H đã chuyển nhượng toàn bộ diện tích đất thuộc quyền sử dụng của bà H tại thửa đất số 54, tờ bản đồ số 18 tại thôn T, xã H, huyện K cũ nay là thửa đất số 23, tờ bản đồ số 49; thửa số 37, tờ bản đồ số 49 và một phần thửa đất số 38, tờ bản đồ số 49 tại Tổ dân phố T, phường H, quận Đ, thành phố Hải Phòng cho vợ chồng ông Phạm Đức H2. Trước khi cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho vợ chồng ông Phạm Đức H2, cơ quan có thẩm quyền đã thông báo tại UBND phường H, tại khu dân cư T nơi có đất theo quy định của pháp luật; bà H thường xuyên về thăm cụ T3 nhưng không có ý kiến khiếu nại hay phản đối gì. Do đó, cần giữ nguyên giá trị pháp lý của GCNQSDĐ số CG780005, số vào sổ cấp CH012429 cấp ngày 28/12/2016 do UBND quận Đ, thành phố Hải Phòng cấp cho thửa đất số 23, tờ bản đồ 49, diện tích 489m² mang tên chủ sử dụng đất là ông Phạm Đức H2 và bà Lưu Thị H1.

[12] Về yêu cầu hủy Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số 3117.2020/GCNQSDĐ ngày 03/7/2020 giữa ông Phạm Đức H2 và bà Lưu Thị H1 với anh Lưu Văn T2, Hội đồng xét xử thấy:

[12.1] Về hình thức của hợp đồng: Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất lập thành văn bản, có chứng thực theo đúng quy định tại Điều 119 Bộ luật Dân sự năm 2015.

[12.2] Về nội dung của hợp đồng: Xét khi chuyển nhượng cho anh Lưu Văn T2 thì ông Phạm Đức H2 và bà Lưu Thị H1 đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, anh T2 căn cứ vào việc ông Phạm Đức H2 và bà Lưu Thị H1 có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên đã ký hợp đồng nhận chuyển nhượng 96,8m² với vợ chồng ông Phạm Đức H2. Sau đó anh T2 đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, khi nhận chuyển nhượng diện tích đất trên không có tranh chấp. Do vậy, anh T2 là người thứ ba ngay tình trong giao dịch dân sự. Do vậy, cần xác định Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số 3117.2020/GCNQSDĐ ngày 03/7/2020 giữa ông Phạm Đức H2 và bà Lưu Thị H1 với anh Lưu Văn T2 là hợp pháp; phù hợp với quy định tại các điều 117 và 118 của Bộ luật Dân sự năm 2015. Do đó, không có căn cứ huỷ Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số 3117.2020/GCNQSDĐ ngày 03/7/2020 giữa vợ chồng ông Phạm Đức H2 và bà Lưu Thị H1 với anh Lưu Văn T2; cần giữ nguyên giá trị pháp lý của Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CX 580911 số vào sổ cấp CS 02675 do Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố H cấp ngày 30/12/2020 cho thửa đất số 38, tờ bản đồ 49, diện tích 211,8m² tại tổ dân phố T, phường H, quận Đ, thành phố Hải Phòng mang tên chủ sử dụng đất là Lưu Văn T2.

[13] Từ những phân tích trên, không có căn cứ chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

[14] Về chi phí xem xét, thẩm định và định giá tài sản: Do yêu cầu khởi kiện không được chấp nhận nên nguyên đơn phải chịu toàn bộ chi phí chi phí xem xét, thẩm định và định giá tài sản.

[15] Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 và khoản 6 Điều 15 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa Án và căn cứ Điều 2 của Luật Người cao tuổi. Do yêu cầu khởi kiện của bà H không được chấp nhận nên bà H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, do bà H là người cao tuổi và có đơn xin miễn án phí nên được miễn án phí dân sự sơ thẩm. Bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

[16] Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  • Căn cứ khoản 9 Điều 26; Điều 34; điểm a khoản 1 Điều 37; khoản 2 Điều 227; khoản 1 và khoản 2 Điều 228; Điều 147; Điều 157 và Điều 165 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
  • Căn cứ khoản 4 Điều 32 của Luật Tố tụng hành chính năm 2015;
  • Căn cứ khoản 16 Điều 3, các điều 100, 166, 167, 168, 188 và 203 của Luật Đất đai năm 2013;
  • Căn cứ các điều 121, 122, 123, 124, 168, khoản 2 Điều 170, Điều 197, Điều 401, khoản 2 Điều 689, Điều 692 và Điều 697 của Bộ luật Dân sự năm 2005;
  • Căn cứ các điều 116, 117, 118, 119, 161, khoản 2 Điều 221 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
  • Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
  • Căn cứ Điều 2 của Luật Người cao tuổi,

Xử:

1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là bà Lưu Thị H về việc:

  • Hủy GCNQSDĐ số CG780005, số vào sổ cấp CH012429 cấp ngày 28/12/2016 do UBND quận Đ, thành phố Hải Phòng cấp cho thửa đất số 23, tờ bản đồ 49, diện tích 489m² mang tên chủ sử dụng đất là ông Phạm Đức H2 và bà Lưu Thị H1.
  • Huỷ GCNQSDĐ số CX 580911, số vào sổ cấp CS02675 do Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố H cấp ngày 30/12/2020 cho thửa đất số 38, tờ bản đồ 49, diện tích 211,8m² tại tổ dân phố T, phường H, quận Đ, thành phố Hải Phòng mang tên chủ sử dụng đất là Lưu Văn T2.
  • Huỷ Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số 3117.2020/GCNQSDĐ ngày 03/7/2020 giữa vợ chồng ông Phạm Đức H2 và bà Lưu Thị H1 với anh Lưu Văn T2.
  • Buộc ông Phạm Đức H2 và bà Lưu Thị H1 trả lại cho nguyên đơn 224m² đất đã chiếm đoạt.
  • Buộc ông Lưu Văn T2 trả lại cho nguyên đơn 96,8m² đất đã nhận chuyển nhượng của ông Phạm Đức H2 và bà Lưu Thị H1.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Nguyên đơn được miễn tiền án phí dân sự sơ thẩm.

3. Về chi phí thẩm định, định giá tài sản: Nguyên đơn phải chịu toàn bộ chi phí xem xét thẩm định và định giá tài sản là 20.000.000₫ (Hai mươi triệu đồng). Nguyên đơn đã nộp đủ số tiền này.

4. Về quyền kháng cáo:

Các đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

5. Về quyền yêu cầu thi hành án: Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND TP Hải Phòng;
  • - Cục THADS TP Hải Phòng;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án, HCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Bùi Thị Thu Hằng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 47/2024/DS-ST ngày 17/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về tranh chấp về quyền sử dụng đất và hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 47/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về quyền sử dụng đất và hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/05/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vụ án Dân sự sơ thẩm về việc tranh chấp về quyền sử dụng đất và hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger